Bài tổng quan
Giới hạn từ tổng số lá số Tử Vi và cách tính 512.640 bản số
Hơn ba tỷ rưỡi người trên thế giới, nhưng khoa Tử Vi lại chỉ có đúng 512.640 lá số để chia cho tất cả. Con số ấy từ đâu ra, và tại sao cứ 73 người Việt Nam thì có một người trùng lá số với nhau...
Những giới hạn từ tổng số lá số Tử Vi
Điều đáng kể hơn hết là khoa Tử Vi bị giới hạn rất rõ rệt khi chúng ta xét đoán đến số lượng lá số Tử Vi khả hữu sánh với số người trên thế giới.
Dân số thế giới ngày nay hiện lên đến hơn ba tỷ rưỡi. Nếu mỗi người phải có một lá số riêng, vị chi có hơn ba tỷ rưỡi lá số. Nhưng thực tế không phải như vậy. Vì cách lấy số Tử Vi theo phương pháp của Trần Đoàn có phần đặc thù, cho nên không phải ai ai cũng có lá số riêng. Trái lại, có rất nhiều người có chung nhau một lá số.
Tổng số tối đa lá số Tử Vi
Theo cách lá số Tử Vi của Trần Đoàn thì tối đa chỉ có 512.640 lá số mà thôi. 512.640 lá số này được dùng chung cho hơn ba tỷ rưỡi người trên thế giới. Con số này đủ để nói lên phạm vi hạn hẹp của việc áp dụng khoa Tử Vi.
Phạm vi áp dụng khoa Tử Vi
Đứng về mặt lý luận toán học mà xét thì khoa Tử Vi không áp dụng riêng cho từng người một. Trái lại, khoa này chỉ dùng cho nhiều lắm là 512.640 trường hợp, thay vì ba tỷ rưỡi trường hợp. Như vậy, tầm thực dụng bị thu hẹp hết sức nhiều.
Điều này cho thấy Tử Vi không phải là một khoa toàn khoa, tức là một khoa dùng cho tất cả nhân loại, mà chỉ là một chuyên khoa đặc thù. Khoa Tử Vi tự nó không giải quyết nổi hết ẩn số của ba tỷ rưỡi nhân mạng. Nó phải được bổ túc bởi nhiều bộ môn khác. Con số 512.640 chỉ nên xem như con số vận mạng khung, hay nói một cách khác đây chỉ là 512.640 loại vận mạng. Khoa Tử Vi vô tình chỉ xếp loại được vận mạng con người vào bấy nhiêu trường hợp mà thôi.
Để có ý niệm cụ thể về sự tương đối này, ta thử xét tỷ lệ các người đồng số ở Việt Nam, ở Trung Hoa và trên thế giới.
Trường hợp Việt Nam
Dân số hai miền Việt Nam hiện nay lên đến 37.500.000 người. Giả thiết rằng sinh xuất và tử xuất hàng năm không thay đổi, chúng ta có con số sau đây:
37.500.000 : 512.640 ≈ 73
Điều này có nghĩa là cứ 73 người Việt Nam là có một lá số giống nhau.
Trường hợp Trung Hoa
Dân số Trung Hoa, nơi phát xuất khoa Tử Vi hiện nay vào khoảng 750.000.000 dân. Cũng giả thiết rằng dân số đó cố định và sinh xuất, tử suất giữ nguyên, chúng ta có con số:
750.000.000 : 512.640 ≈ 1.463
Điều này có nghĩa là có trùng số đối với 1.463 người Trung Hoa.
Trường hợp thế giới
Với dân số hiện vào khoảng 3.500.000.000, được giả thiết như cố định, thì số người trùng số trên thế giới là 6.827.
Luận theo toán học, bắt buộc phải nói như vậy. Trên bình diện toán học, các con số 73, 1.463 và 6.827 cho thấy tính cách tương đối rất cao của khoa Tử Vi. Sự trùng số còn chứng tỏ khoa Tử Vi không cá biệt hóa được mỗi cá nhân, không phân biệt nổi từng vận mệnh. Đứng trên mặt lý luận toán học, khoa Tử Vi đã đồng hóa 73 vận mệnh của 73 người Việt Nam làm một, đồng hóa 1.463 vận mệnh của 1.463 người Trung Hoa làm một và đồng hóa 6.827 vận mệnh cá nhân nói chung làm một.
Trên thực tế, việc 73 người Việt Nam trùng một lá số không có nghĩa là 73 người đó trùng vận mệnh. Kiếp số của mỗi người đều khác nhau. Thành thử, lối lý luận bằng toán học không thỏa mãn được thực tế. Phải bổ túc lý luận này bằng một hệ thống lý luận khác lúc giải đoán.
Tử Vi học là một khoa nhân văn, nghiên cứu con người và đời người. Phương trình con người (équation humaine) quá ư phức tạp vì phản ứng mỗi người mỗi khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, văn hóa, huyết thống và nhất là phúc đức khác nhau. Chính vì những khác biệt sâu xa đó nên kiếp sống con người không thể đồng hóa nhau được. Vì thế, có lẽ chúng ta chỉ nên xem con số 512.640 như con số phương trình khung, còn con người hoạt động riêng, tùy theo cá tính, hoàn cảnh, văn hóa, huyết thống và phúc đức tích lũy. Có thể có nhiều người cùng có chung một loại vận mệnh, nhưng vẫn có vận mệnh riêng cho mỗi người. Cái chung không xóa bỏ cái riêng, cái riêng không hoàn toàn đồng hóa với cái chung. Phải chăng đây là tính lý của ngạn ngữ "hòa nhi bất đồng" của cổ nhân?
Dù sao, với 512.640 phương trình khung đó, khoa Tử Vi không thể là một toàn khoa (science complète) để giải đáp hết các ẩn số của mọi người. Nó phải được bổ túc bởi nhiều khoa bói toán khác, như tướng học, dịch học, chỉ tay v.v...
Con số 512.640 ấy từ đâu mà ra? Phụ trương dưới đây trình bày lại nguyên vẹn cách tính của hai người đã dày công tính toán nó.
Phụ trương: cách tính tổng số tối đa lá số Tử Vi
Để tính tổng số tối đa lá số Tử Vi có thể có, ta tiến hành theo 3 bước dưới đây: nêu dữ kiện, trong đó liệt kê các yếu tố can dự vào việc tính và giải thích các yếu tố này; nêu nguyên tắc tính; trình bày kỹ thuật tính.
Những dữ kiện
Khi tính tổng số lá số Tử Vi, ta phải căn cứ vào 5 yếu tố: yếu tố Âm Dương, yếu tố giờ sinh, yếu tố tháng sinh, yếu tố năm sinh, yếu tố ngày sinh trong tháng.
Yếu tố Âm Dương – có hai loại tuổi, tuổi Dương (Dương Nam, Dương Nữ) và tuổi Âm (Âm Nam, Âm Nữ), tương ứng với cũng hướng an sao, một hướng thuận và một hướng nghịch.
Yếu tố giờ sinh - Âm lịch có 12 giờ trong ngày.
Yếu tố tháng sinh – Năm thường có 12 tháng, riêng năm nhuận có mười ba tháng. Những tháng nhuận ta không kể vì lá số Tử Vi cứ an theo tháng, bất luận tháng thường hay tháng nhuận. Do đó, ta chỉ kể một năm có 12 tháng mà thôi.
Có tháng thiếu gồm 29 ngày, có tháng đủ gồm 30 ngày. Sự nối tiếp các tháng thiếu và đủ trong một năm không theo thứ tự nào cả, tức là không phải cứ nhất thiết một tháng đủ đi tiếp theo một tháng thiếu. Ta có nhiều dịp chứng kiến 2 hoặc có khi 3 tháng thiếu đi liền nhau, rồi cũng không phải là 2 hoặc 3 tháng đủ theo sát.
Về tỷ lệ tháng đủ, tháng thiếu cũng không đồng nhất trong các năm. Có năm có 7 tháng đủ, 5 tháng thiếu, có năm thì tỷ lệ bằng nhau 6/6. Cũng không hẳn một năm gặp tỷ lệ 6/6 đi sát theo năm có tỷ lệ 7/5: có khi tỷ lệ 6/6 xảy ra trong 2 năm liền, có khi tỷ lệ 7/5 có trong 4 năm liền.
Những nét đặc thù kể trên khiến cho việc tính ngày trong năm phải dùng cách đếm. Năm nào có tỷ lệ 7/5 thì có 355 ngày để lấy số, còn năm có tỷ lệ 6/6 thì có 354 ngày.
Yếu tố năm sinh – Năm sinh bao gồm can và chi. Có 10 can và 12 chi, được kết hợp với nhau theo một quy tắc rất đặc thù. Không phải can nào cũng có thể đi với bất cứ chi nào. Quy luật chắp nối 10 can với 12 chi chỉ đưa tới 60 thế kết hợp là hết, chớ không phải đưa tới 10 x 12 tức 120 kết hợp như nhiều người lầm tưởng. 60 loại tuổi của can chi nối tiếp nhau trong 60 năm. Đến năm thứ 61 (1900) thì trở lại Canh Tý, khởi đầu cho một giáp kế tiếp. Khởi điểm của giáp có thể lấy ở bất cứ năm nào. Ví dụ, có thể lấy Bính Thìn làm năm đầu tiên cho giáp Bính Thìn – Ất Mão (1796 – 1855). Sau năm Ất Mão (1855) thì trở lại Bính Thìn (1856).
Cách nhuận của âm lịch là cứ 2 năm một lần nhuận, 5 năm thì 2 lần, 19 năm 7 lần. Nhưng không có chu kỳ đều đặn. Cách nhuận tháng thì vô chừng: có khi tháng nhuận là tháng thiếu, khi là đủ, có khi tháng chính thì thiếu mà tháng nhuận lại đủ và ngược lại.
Ví dụ như can Ất chẳng hạn. Can này không phải được kết hợp với tất cả 12 chi từ Tý đến Hợi mà chỉ có 6 thể kết hợp: Ất Sửu, Ất Ngọ, Ất Thân, Ất Tuất... Các can khác cũng vậy: mỗi can chỉ có 6 thể kết hợp với 6 chi. Thành thử 10 can chỉ có 60 thể kết hợp với 12 chi.
Trong bất luận giáp nào, tên gọi các năm và thứ tự kết hợp can chi của năm trong giáp không bao giờ thay đổi. Ví dụ sau Bính Thìn thì đến Đinh Tỵ, rồi đến Mậu Ngọ, Kỷ Mùi... cho đến năm thứ 60 của giáp là Ất Mão. Luôn luôn như vậy.
Tóm lại, vì những đặc điểm trên, cho nên, trong một giáp, chỉ có 60 loại tuổi để lấy số Tử Vi cho loài người mà thôi, không hơn không kém. Vấn đề đặt cho ta là tìm trong 60 năm này số lượng ngày để tính tổng số lá số Tử Vi, lấy theo ngày.
Yếu tố ngày sinh - Ta có thể tìm số ngày trung bình trong tháng để nhân với số tháng trong năm, với số năm trong giáp, với số giờ trong ngày và với hệ số Âm Dương ngõ hầu đi đến tích số chung, tức là tổng số lá số Tử Vi khả hữu.
Ta cũng có thể áp dụng một bài toán giản dị hơn là tìm số ngày trong giáp (trong đó có bao gồm cả 60 năm và số tháng rồi) để nhân với số giờ trong ngày và với hệ số Âm Dương.
Nguyên tắc tính tổng số lá số Tử Vi trong giáp
Có hai cách tính tổng số: cách tính bằng 5 hệ số và cách tính với 3 hệ số.
Với cách tính bằng 5 hệ số, tổng số lá số tất cả trong giáp (gọi là y) là tích số của 5 hệ số sau đây: hệ số Âm Dương là 2, hệ số giờ trong ngày là 12, hệ số trung bình ngày trong tháng là x, hệ số tháng trong năm là 12, hệ số năm trong giáp là 60. Phương trình sẽ là: y = 12 x 12 x x x 12 x 60.
Sở dĩ số ngày trung bình trong tháng chưa thể biết hết được vì, như đã giải thích trong mục yếu tố tháng sinh, có tháng thiếu, tháng đủ, nối tiếp theo một cách lộn xộn và tỷ lệ giữa tháng thiếu, tháng đủ trong các năm không đồng nhất. Muốn tìm x phải tính số ngày trong giáp, rồi chia cho 60, để tìm số ngày trong năm, rồi chia thêm cho 12 để tìm số ngày trung bình trong tháng. Hai bài toán này chia có thể lẻ, nên có thể không mấy chính xác.
Còn cách tính bằng 3 hệ số sẽ giản dị hơn. Tổng số lá số Tử Vi trong giáp (y) là tích số của 3 hệ số sau: hệ số Âm Dương là 2, hệ số giờ trong ngày là 12, hệ số ngày trong giáp là z. Phương trình sẽ là: y = 2 x 12 x z.
Sở dĩ theo cách tính này, hệ số tháng và năm không được kể là vì số ngày trong giáp đã được tính dựa theo số tháng trong năm (12) và số năm trong giáp (60) rồi. Kỹ thuật trình bày dưới đây sẽ theo cách tính thứ nhì, bằng 3 hệ số cho dễ. Vậy, vấn đề là phải tìm z, số ngày trong giáp.
Kỹ thuật tính y trong một giáp nhất định
Ta thử chọn một giáp nhất định để tính y, ví dụ như lấy giáp Canh Tý – Kỷ Hợi (1840 – 1899) làm căn bản.
Giáp này có 60 năm, trong đó có hai loại năm: loại một gồm 33 năm, mỗi năm có 7 tháng 30 ngày và 5 tháng 29 ngày; loại hai gồm 27 năm, mỗi năm có 6 tháng 30 ngày và 6 tháng 29 ngày.
Đối với loại đầu (7 tháng đủ, 5 tháng thiếu): 7 tháng x 30 ngày = 210 ngày, 5 tháng x 29 ngày = 145 ngày, cộng lại là 355 ngày mỗi năm để lấy số. Loại này có 33 năm, vậy trong 33 năm này có 11.715 ngày để lấy số.
Đối với loại nhì (6 tháng đủ, 6 tháng thiếu), ta có 354 ngày mỗi năm để lấy số. Loại này có 27 năm, vậy trong 27 năm này có 9.558 ngày để lấy số.
Kết quả là trong trọn giáp 60 năm, ta có: 11.715 + 9.558 = 21.273 ngày để lấy số. Đó là trị số chính xác của z.
Vậy trị số chính xác của y là: y = 2 x 12 x 21.273 = 510.552 lá số Tử Vi.
Tóm lại, trong giáp nói trên, có tất cả 510.552 lá số Tử Vi. Nói như thế có nghĩa là tất cả mọi người trên thế giới sinh trong khoảng thời gian của giáp, kể từ giờ Tý ngày mồng một tháng giêng năm Canh Tý (1840) đến giờ Hợi ngày 30 tháng chạp năm Kỷ Hợi (1899) chỉ có 510.552 vận mệnh mà thôi.
Đó là tổng số lá số Tử Vi cho riêng giáp 1840 – 1899. Vấn đề đặt ra là đối với các giáp khác thì y là bao nhiêu? Làm sao tổng hóa được cho tất cả các giáp?
Thử tổng quát hóa tổng số lá số khả hữu
Kết quả 510.552 kể trên đặc biệt chỉ áp dụng riêng cho giáp 1840 – 1899 mà thôi. Ta không thể tổng quát hóa kết quả nói trên cho mọi giáp. Lý do giản dị là vì số ngày z trong giáp này chưa hẳn là số ngày tối đa nếu so với những giáp khác.
Ý niệm của chúng ta là, nếu biết được số ngày tối đa của một giáp thì mới tổng hóa được, tức là mới biết được tổng số tối đa lá số Tử Vi khả hữu.
Để tìm tổng số tối đa này, ta giả thiết rằng có một giáp giả tưởng nào đó có số ngày cao nhất. Dĩ nhiên, ta không thể giả tưởng quá cao mà phải giả tưởng sao cho càng gần thực tế càng hay. Ta nhận thấy rằng, trong các năm có năm duy nhất có số ngày cao nhất: đó là năm 1944 Giáp Thân. Năm này có đến 8 tháng 30 ngày và 4 tháng 29 ngày, vị chi là 356 ngày để lấy số.
Ta giả thiết rằng nếu giáp giả tưởng chỉ gồm toàn những năm 356 ngày thì giáp giả tưởng đó sẽ có: 356 ngày x 60 năm = 21.360 ngày.
Vậy, trị số y bây giờ là: y = 21.360 x 2 x 12 = 512.640 lá số.
Đó là tổng số lá số Tử Vi tối đa khả chấp.
Soạn giả chân thành cảm tạ hai anh Trần Đại Phú và Trần Quốc Phú là tác giả những bài toán nói trên.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc
