Bài tổng quan
Luận Người Qua Lá Số: Hình Tính, Tám Loại Nhân, Can Chi Và Phê Mệnh
Đoán một con người qua lá số bắt đầu từ những gì có thể thấy: vóc dáng, nét mặt, tính tình. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư để lại bài Hình tinh phú cho mười bốn chính tinh và các phụ tinh chính, đối chiếu cùng phú nôm. Xa hơn hình tướng, cổ học định nhân theo tám hình thái Quý, Tiện, Hiền, Ngu, Phú, Bần, Thọ, Yểu, có thể đọc lại như bốn loại vốn văn hóa, kinh tế, xã hội và sự sống. Mười Can chia Dương chủ động, Âm chủ tĩnh, từ rất lâu trước khi khoa học hiện đại gọi tên trục hướng ngoại, hướng nội. Đỉnh cao là nghệ thuật phê mệnh, nơi cả một đời người được gói trong bốn chữ, như Ngưu miên hoang vũ, trâu ngủ trong bãi hoang, dành cho kẻ tài lớn mà cô độc.
Hình dáng và tính tình theo Toàn Thư
Trước tiên là đoán về hình thù vóc dáng và tính tình. Tử Vi đẩu số toàn thư có bài "Hình tinh phú" như dưới đây, đối chiếu bằng phú nôm cho từng sao:
Mười bốn chính tinh
"Tử Vi đế tòa sinh vi hậu trọng chi dung" — Tử Vi ngồi ngôi đế nên sinh ra dáng vẻ hậu trọng. Phú nôm: "Tử Vi mặt đỏ lưng dầy, vóc người trung hậu mặt thời phương phi."
"Thiên Phủ tôn tinh dương chủ thuần hóa chi thể" — Thiên Phủ là sao tôn quý, chủ về thể chất thuần hóa. Phú nôm: "Thiên Phủ miếu vượng khá thông, mặt tròn da trắng ôn dung thuần hoà."
"Kim ô (Thái dương) viên mãn, Ngọc thỏ (Thái âm) thanh kỳ" — riêng phú nôm lại ghi khác hẳn: "Thái dương mặt gồ thân gầy", trái ngược hẳn với chữ "viên mãn" của câu Hán. Thái Âm thì: "Thái Âm thủ ở mệnh cung, sinh vào đêm đúng buổi trung tuần, ấy người đẹp đẽ muôn phần."
"Thiên Cơ vi bất trường bất đoản chi tư" — Thiên Cơ có dáng người không cao không thấp. Phú nôm: "Thiên Cơ thuộc Mộc minh dài, tâm từ tính cấp đa tài đa mưu."
"Vũ Khúc nãi chí cương chi tháo, tâm tính quả quyết" — Vũ Khúc có chí khí cứng cỏi, tâm tính quả quyết. Phú nôm: "Vũ khúc là sao Kim tinh, vóc người nho nhỏ dáng người thanh cao, chí cương chí nghị anh hào, khoan dung đại lượng lược thao gồm tài."
"Thiên Đồng phi mãn, mục tú thanh kỳ" — Thiên Đồng béo tốt, mắt đẹp thanh tú. Phú nôm: "Thiên đồng đầu lớn lưng dầy, hình thời phì mãn mắt thời sao sa, tính ôn lương lại hiền hoà."
"Liêm Trinh mi khoan khẩu khoát diện hoành, vi nhân tính bạo, hiếu phân hiếu tranh" — Liêm Trinh mày rộng miệng rộng mặt ngang, tính người hung bạo, ưa phân bua tranh cãi. Phú nôm: "Liêm Trinh hoả vượng thân tràng, lộ hầu lộ nhãn mặt tàng dáng ngang, cư thân mệnh hoá đào hoa, ăn chơi phóng đãng xa hoa hơn người, tính thời táo bạo ưa tranh."
"Tham Lang chi thiện ác chi tinh, nhập miếu ưng trường tủng, xuất viên tất định ngoạn ngạc" — Tham Lang là sao vừa thiện vừa ác, vào miếu địa thì người cao lớn, ra khỏi miếu địa (hãm địa) thì tính tình ngoan ngạnh. Phú nôm: "Tham Lang miếu vượng chi cung, miếu thời người lớn là dòng lược thao, hãm cung Tị Hợi xấu sao, nhỏ người mê mệt tiêu hao phong tình, hiểm độc mà lại đa kinh, tham tình tham sức quen mình bạc hung."
"Cự Môn nãi thị phi chi diệu, tại miếu đôn hậu ôn lương" — Cự Môn là sao thị phi, ở miếu địa thì đôn hậu ôn lương. Phú nôm: "Cự môn là thủy bắc tinh, miếu vượng tí ngọ đã đành tốt thay, mình tròn da trắng tóc mây." Còn hãm địa (Cự hãm tứ mộ) thì: "Cự hãm tứ mộ đa ngôn, phản phúc nghi hoặc học càng tối tăm."
"Thiên Tướng tinh thần tướng mạo tri trọng" — Thiên Tướng tinh thần tướng mạo được người coi trọng. Phú nôm: "Miếu địa tướng mạo uy nghi thanh nhàn, tính thời chẳng chịu nói càn, lòng thời nhiệm nhặt mọi đàng ung dung. Thiên Tướng là mặt con người, hương trời sắc nước mặt ai Tướng Hồng (Loan)."
"Thiên Lương ẩn trọng tâm sự ngọc khiết băng thanh" — tâm sự Thiên Lương trong sạch như ngọc, thanh khiết như băng. Phú nôm: "Thiên lương thuộc Thổ nam tinh, lòng lành cẩn thận, cao thanh ai tày."
"Thất Sát như Tử Lộ bạo hổ bằng hà" — Thất Sát hung bạo như thầy Tử Lộ, như hổ nhảy qua sông rượt mồi, mắt mang vẻ hung dữ. Phú nôm: "Thất Sát mắt lớn dọi đèn, việc làm muốn chóng một phen cho rồi, tính thời hay động hay thôi, lại thêm hung bạo như lôi chẳng là, hẹn đến rồi lại bỏ qua, bạo hổ bằng hà nào có sợ ai."
"Phá Quân bất nhân, bối trọng mi khoan, hành tọa yêu tà, gian trá hiếu hành kinh hiểm" — Phá Quân bất nhân, lưng dày mày rộng, đi đứng nghiêng lệch, gian trá ưa làm việc hiểm ác. Phú nôm: "Phá Quân âm thủy kể ra, lưng dầy mình thấp lại là mi thưa, tính cương chẳng có ai ưa, ra lòng bạc ác chẳng vừa được đâu."
Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ Hữu Bật, Thiên Khôi Thiên Việt, Kình Dương Đà La, Hỏa Linh, Lộc Tồn
"Văn Xương mi thanh mục tú lỗi lạc" — Văn Xương mày thanh mắt sáng, tính tình lỗi lạc. "Văn Khúc khẩu thiệt tiện nịnh, tại miếu sinh dị chí, thất hãm ban ngàn" — Văn Khúc khéo nói, ở miếu địa có nốt ruồi lạ, ở hãm địa thường có vết sẹo.
"Tả Phụ, Hữu Bật tính ôn lương, qui mô đoan trang, cao sĩ" — Tả Phụ, Hữu Bật tính ôn lương, quy củ đoan trang, tâm hồn cao sĩ.
"Thiên Khôi, Thiên Việt cụ túc uy nghi, trùng hợp tam thai thập toàn mô phạm" — Thiên Khôi, Thiên Việt đầy vẻ uy nghi, gặp thêm sao Tam Thai thì thập toàn mô phạm.
"Kình Dương, Đà La hình su mạo lậu, hữu kiểu trá thể thái" — Kình Dương, Đà La thân hình thô kệch, mặt mũi xấu xí, ưa làm điệu bộ giả trá.
"Hỏa Linh tự Dự Nhượng thôn hôi, tráng á, hề âm lang thanh trầm tuấn nhã" — Hỏa Linh ghê gớm như Dự Nhượng nuốt than giả câm, âm thanh trầm như tiếng gấu, dáng vẻ tuấn mã.
"Mạo như xuân hòa nãi thị Lộc Tồn chi tình đức, tình hoài" — vẻ mặt tính tình dịu dàng như mùa xuân, đó là Lộc Tồn.
Một số câu phú vụn khác về hình tướng và cách hợp sao
Sách còn ghi thêm một loạt câu phú rời về ảnh hưởng của các tổ hợp sao lên hình tướng, tính tình:
"Tự hỏa phong xung thử thành phá hao chi uy" — như ngọn lửa bốc lên, đó là cái uy của Thất Sát, Phá Quân.
"Quyền tinh luận miếu vượng tối pha Không Vong, sát lạc Không Vong cánh vô uy lực" — quyền tinh dù miếu vượng cũng rất sợ rơi vào đất Không Vong (Thiên Không – Tuần Triệt); sát tinh rơi vào Không Vong là hết uy lực.
"Quyền Lộc nãi cửu khiếu chi kỳ" — Hóa Quyền, Hóa Lộc tạo nên nét kỳ lạ về cửu khiếu, ví dụ mắt lớn sáng đẹp, tai to có thùy châu hoặc triều khẩu, mũi cao dầy nhuận sắc, miệng rộng vuông vắn.
"Hao ngộ Tham Lang nữ dâm tình ư tỉnh để" — Phá Quân (Đại Hao/Tiểu Hao là hóa khí của Phá Quân) gặp Tham Lang, con gái bậy bạ ngay bên bờ giếng.
"Tham tinh nhập mã viên dị thiện dị ác" — Tham Lang vào đất Thiên Mã thì tính tình bất thường.
"Tài cư Không Vong ba tam lãng tử" — Vũ Khúc gặp Không Vong thì kiếm ba tiêu bốn, thành kẻ lãng tử.
"Văn Khúc vượng cung văn nhất tri thập" — Văn Khúc ở vượng cung thì nghe một biết mười.
"Hợp Liêm Trinh vi tham lam chi lại" — gặp Liêm Trinh thì làm lại (thư lại) tham lam.
"Tử Vi phi mãn, Thiên Phủ tinh thần Lộc Tồn, Lộc chủ dã ưng hậu trọng" — Tử Vi, Thiên Phủ, Lộc Tồn đều có dáng dấp mập mạp, hậu trọng.
"Nhật Nguyệt, Khúc, Tướng, Đồng, Lương, Cơ, Xương giai vi mỹ tuấn chi tư" — các sao Thái Dương, Thái Âm, Văn Khúc, Thiên Tướng, Thiên Đồng, Thiên Lương, Thiên Cơ, Văn Xương đều cho người dáng vẻ thanh nhã, tuấn tú.
"Tham Lang đồng Vũ Khúc hình tiểu thanh cao nhi lượng đại" — Tham Lang đi cùng Vũ Khúc thì người nhỏ tiếng lớn nhưng có đại lượng. Sách lưu ý: phú nôm có câu "Vũ Tham người nhỏ là phường tham lam" là dịch sai mất hai chữ "lượng đại", vì Tham Vũ đồng hành vốn là một quý cách chứ không phải xấu.
"Thiên Đồng, gia Đà La Hóa Kị phi mãn nhi diễu" — Thiên Đồng đi với Đà La, Hóa Kị thì người cao lớn mập mạp nhưng đôi mắt xấu đục.
"Kình Dương thân thể tao thương, nhược ngộ Hỏa Linh cư ám tất sinh dị chí, hữu phùng hao sát đinh chủ hình sũ mạo thô" — Kình Dương hay có vết sẹo; nếu gặp Hỏa Linh thì có nốt ruồi lạ; đi với Thất Sát, Phá Quân thì người xấu, thô lỗ.
Bài phú nôm về những hình tính mà Toàn Thư không ghi
Đoán về tính tình tiền nhân ta có một bài phú khá dài, đưa ra những hình tính mà Tử Vi đẩu số toàn thư không có ghi chép:
"Tử Phủ trọng hậu khác thường
Vũ Tham người nhỏ là phường tham lam
Tử Phùng Không Kiếp hiểm gian
Hoặc là Tứ Sát trong làng gian phi
Thìn Tuất Phủ Tướng phùng suy
Tính hay chấp nhất đa nghi mọi bề
Tham Liêm Tị Hợi đáng chê
Tính tham thấy của người mê liền vồ
Vũ Tham đầu nhỏ mình to
Phá Liêm xốc xếch sức đo hơn người
Cự Cơ ở Dậu thâm môi
Cơ Lương Vũ Phá là người có uy
Sát phùng Thiên Hi hãy suy
Ấy là phong nhã uy nghi mọi đàng
Khúc Xương là bậc thanh nhàn
Thật thà đứng đắn là làng Đồng Lương
Việt Khôi là cách văn chương
Khôi là Khôi ngộ Việt thường da đen
Mặt sáng ấy hội Khoa Quyền
Vũ Tham, Hóa Lộc râu liền đến tai
Đắng vàng là hội Phong Thai
Long Trì, Phượng Các ấy ai dịu dàng
Đẹp thay Tả Hữu một phương
Khốc Hư quanh mắt thường thường tròn thâm
Tham Đào tóc tốt xanh râm
Mắt đen Vũ Kị chẳng nhầm một ai
Việt Đà tiếng nói khoan thai
Đồng, Không, Hư, Nhẫn lắm lời thị phi
Mộc Dục làm dáng ai bì
Hay khoe mình cũng bởi vì Làm Quan
Trường sinh Lực Sĩ nói ngoan
Phủ phùng Thiên Mã luận bàn thấp cao
Quí Ân là khách phong tao
Trên nào cũng mến, dưới nào cũng yêu
Thanh Long Cơ biến đủ điều
Tấu thư nói ngọt người theo ngay về
Hỉ Thần, Hoa Cái tốt ghê
Khẩu thiệt trường đoản mọi bề đảm đang
Kiếp Không da ắt đen toàn
Hỏa Linh mặt khó sầu đăm suốt ngày
Kình Dương tai kém mình gầy
Đà La mắt lớn chân tay thì dài
Đào Hồng mặt mũi xinh tươi
Kị Hình Đà Nhẫn là người tật thương
Vũ, Diêu, Toái ngọng lẽ thường
Lại thêm Việt Kị ấy phường điếc câm
Đồng cung Diêu Kị chẳng nhầm
Số mà như thế chịu phần sứt môi
Tham Lâm hãm địa là người
Trong hai nách những mồ hôi một lò
Người mà mắt nhỏ mắt to
Nhật phùng Đào Sát tướng phò mệnh viên
Âm Dương lạc hãm không nên
Trong ngoài Diêu Kị cho nên mắt lòa
Mắt to mắt nhỏ ấy là
Nhật phùng Không hãy đoán ra rõ mười
Phủ gặp Thất Sát nực cười
Mắt to tai nhỏ là người dị nhân
Gù lưng thôi chớ phân vân
Nhật gặp Kị Sát lại lâm Bệnh Phù
Đà La hắc chí điểm to
Cự Môn, Hóa Kị âu lo hão huyền
Tham Lâm Thái tuế một miền
Trong ngoài cơ trí đảo điên khó lường
Cô Thần Quả Tú mệnh cung
Tính người cô độc, không cùng giao du
Phủ phùng Thất Sát rất khôn
Việc làm táo bạo những toan hơn người."
(Trích Tử Vi thực hành của Dịch Lý Huyền Cơ).
Định nhân pháp: tám loại nhân
Hình tướng và tính tình mới là lớp đầu; cổ học còn định nhân theo tám hình thái Quý - Tiện, Hiền - Ngu, Phú - Bần, Thọ - Yểu, quy chiếu qua trục Mệnh và Thân.
Nếu coi sự nghiệp là một tòa lâu đài, thì "Định nhân" chính là bản thiết kế về nền móng và chất lượng vật liệu. Việc xác định mình thuộc mẫu người nào trong tám hình thái nhân sinh — Quý - Tiện, Hiền - Ngu, Phú - Bần, Thọ - Yểu — không nhằm mục đích dán nhãn định mệnh, mà để mỗi người nhìn rõ hơn cái gốc xã hội của chính mình, từ đó chọn một lộ trình phát triển phù hợp.
Sự phân định Quý - Tiện hay Phú - Bần trước hết được quy chiếu qua trục Mệnh và Thân — hai cung vị đại diện cho thiên tư bẩm sinh và quá trình hậu thiên nỗ lực. Phú viết: "Quý tinh đắc địa hỷ tương phùng, chức nghiệp thanh cao, phúc lộc hồng."
Một "Quý cách" hội tụ nhiều cát tinh thường hướng Mệnh cách đến những ngành nghề mang tính biểu tượng, danh dự và sự an nhàn. Nhưng nếu "Quý cách" gặp hung sát tinh xâm phạm, kết quả thường là "trước Quý sau Tiện" — dù điểm xuất phát thuận lợi, nếu bản thân không giữ được kỷ luật đạo đức thì thành quả cũng dần tan biến. Quý cách thường đi kèm sự thông minh, có khả năng, có tài cán; Tiện cách thường đi kèm sự nóng vội, nhầm lẫn, lựa chọn không sáng suốt dẫn đến sai lầm.
Bốn loại vốn của một Mệnh cách
Nhìn dưới góc độ hiện đại, "Định nhân" thực chất là cách đánh giá vốn tự có của một Mệnh cách, gồm bốn loại: vốn văn hóa — ứng với Hiền, Ngu; vốn kinh tế — ứng với Phú, Bần; vốn xã hội — ứng với Quý, Tiện; và vốn sự sống — ứng với Thọ, Yểu.
Một người được xếp vào loại "Hiền" trong cổ học tương ứng với người có sự thấu cảm và tư duy phát triển. Ngược lại, "Ngu" không hẳn là sự thấp kém về trí tuệ, mà thường là sự đóng băng trong nhận thức, bảo thủ trước những biến động của thực tại.
Người thuộc nhóm "Quý", vị thế cao, thường có mạng lưới quan hệ chất lượng, giúp tiếp cận cơ hội dễ dàng hơn. Nhưng cách vận hành nghề nghiệp trong xã hội hiện nay đang dần dịch chuyển từ chỗ dựa vào tước vị sang dựa vào thực lực. Một người dù xuất thân trong "Tiện cách" — hoàn cảnh khó khăn, nghề nghiệp vất vả — nhưng nếu có "Hiền" (sự thông tuệ) và "Thọ" (sự bền bỉ, năng lượng sống dồi dào), vẫn hoàn toàn có thể chuyển hóa từ "Bần" sang "Phú".
Tám loại hình "Định nhân" giống như những gam màu cơ bản trên bảng phối màu của số phận: hiểu về Quý - Tiện để biết khiêm cung; hiểu về Hiền - Ngu để không ngừng học hỏi; hiểu về Phú - Bần để biết quản lý lòng tham; hiểu về Thọ - Yểu để biết trân trọng thời gian. Chức nghiệp, xét cho cùng, không chỉ là việc một người làm, mà còn là sự phản ánh của việc người đó là ai — khi bản thân được định vị đúng, con đường sự nghiệp thường tự nhiên trở nên rõ ràng và hanh thông hơn.
Can Chi và trục tính cách hướng ngoại, hướng nội
Bên dưới các phẩm loại ấy còn một tầng phân loại rất cổ: mười Can chia thành Dương Can chủ động, hướng ra ngoài và Âm Can chủ tĩnh, hướng vào trong.
Mười Can chia làm hai nhóm rất rạch ròi: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là Dương Can — chủ động, hướng ra ngoài, ưa bộc lộ; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là Âm Can — chủ tĩnh, hướng vào trong, ưa tích lũy. Đây là một tầng phân loại rất cổ, tồn tại độc lập với nạp âm ngũ hành mà 60 hoa giáp hay nhắc tới — và khi đối chiếu với chính dữ liệu tính cách ghi trong 60 hoa giáp, tầng phân loại ấy hiện ra rõ nét hơn hẳn một khung lý thuyết suông.
Một trục cũ, soi vào một bảng dữ liệu cổ hơn
Người tuổi Giáp Thân, Dương Can, được 60 hoa giáp mô tả thông mệnh, giỏi ngoại giao, dễ làm quen với người lạ — bộc lộ, hướng ra ngoài đúng như bản chất Dương. Người tuổi Ất Mão, Âm Can, lại "không thích ai để ý tới riêng tư của họ", ưa một đời sống khép kín hơn hẳn. Nhưng Âm Dương không phải trục duy nhất chia tách con người: cùng là Âm Can, người Ất Sửu thực tế, tình cảm khó lay chuyển, còn người Ất Mùi lại đa sầu đa cảm, giàu lòng vị tha — một trục khác, giữa lý trí và cảm xúc, đang vận hành song song. Và còn một trục thứ ba nữa: Ất Sửu bảo thủ, tôn trọng nề nếp cũ, kỹ lưỡng sòng phẳng, đối lập hẳn với người Nhâm Ngọ phóng khoáng, xoay xở được trong bất kỳ hoàn cảnh nào — nguyên tắc đối lập với linh hoạt.
Ba trục, một trực giác về con người
Hướng ngoại đối hướng nội, lý trí đối cảm xúc, nguyên tắc đối linh hoạt — ba trục quan sát này không phải phát minh hiện đại. Chúng đã nằm sẵn, rời rạc, trong cách người xưa mô tả từng tuổi hoa giáp, hàng nghìn năm trước khi có bất kỳ hệ phân loại tính cách phương Tây nào ra đời để gọi tên chúng một cách hệ thống. Sự trùng khớp ấy, vì vậy, không hẳn là ngẫu nhiên — nhiều khả năng đó là hai nỗ lực độc lập của loài người, ở hai vùng văn hóa cách xa nhau, cùng cố quan sát và gọi tên một chất liệu giống hệt nhau: con người khác nhau ở chỗ họ lấy năng lượng từ đâu, và tổ chức thế giới nội tâm của mình theo cách nào.
Ranh giới cần giữ
Âm Dương Can Chi và các khung phân loại tính cách hiện đại vẫn là hai hệ thống độc lập, ra đời từ hai truyền thống tri thức khác nhau — không nên gán ép một hệ quy về hệ kia. Giá trị của việc đối chiếu nằm ở chỗ nó cho thấy: dù ngôn ngữ khác nhau, trực giác của con người về chính mình, qua hàng nghìn năm và qua nhiều nền văn hóa, vẫn quay về những trục quan sát rất gần nhau.
Luận mệnh và phê mệnh theo Toàn Thư
Mọi lớp phân loại rốt cuộc quy về việc phê mệnh, một khoa mang triết lý, huyền nghĩa và ngôn từ riêng biệt.
Triết gia Đức Frederic Nietzsche nói rằng:
- Mỗi triết học uẩn súc một loại triết lý
- Mỗi ý tưởng hàm tàng một loại huyền nghĩa
- Mỗi ngôn từ ẩn dấu một diệu thú.
(Every philosophy also conceal a philosophy. Every opinion is also a lurking-place, every word is also a mask.)
Khoa số mệnh cũng vậy, nó mang một triết lý, một huyền nghĩa và một ngôn từ riêng biệt.
Triết lý của nó là gì?
"Càn khôn nhất hí trường
Sinh mệnh nhất bi kịch."
(Trời đất là hí trường, sinh mệnh là bi kịch.)
Nó là triết lý trong bài thơ "Đánh bạc" của thi sĩ Trần Tế Xương:
"Bực chẳng nhẽ anh hùng khi vị ngộ
Như lúc đen chơi cuộc tổ tôm
Bài chạm thành cuối cánh phỗng ầm ầm
Ngồi thôi chẳng bốc quân rác rảnh
Cũng có lúc thông chi thời bát sách
Cũng có khi bạch định bốc yêu hồng
Cất bài lên ông lão lẩn về không
Không đâu cả gặp kề năm bảy phỗng
Cũng có ván tôm lèo lên chờ rộng
Vớ phải thằng bạch thủ phỗng tay trên
Gớm ghê thay đen thực là đen
Sắc như mác cũng thua thằng vận đỏ
May mắn nhẽ hữu duyên năng tương ngộ
Bĩ cực rồi đến hội thái lai
Tiếng tam khôi chi để nhường ai
Hết bạch lại hồng thông mãi mãi
Nào những kẻ tay trên ban nãy
Tới bây giờ thây lấy dưới tay ta
Tiếng bài cao lừng lẫy khắp gần xa
Bát vạn người ta ai dám đọ
Thế mới biết cuộc đời đen có đỏ
Thời anh hùng vị ngộ có lo chi
Trước sau sau trước làm gì."
Huyền nghĩa của nó là gì?
Bài Thái Vi phú có câu: "Đẩu số chí huyền nhi vị tận..." (Nghĩa là: Khoa đẩu số huyền diệu lắm, lý chỉ truy có vẻ rõ ràng nhưng dù có xem cả trăm pho sách cũng chưa hết.)
Luận mệnh cần phải khơi đào đến chỗ tinh tế mới có thể hạ đoán chính xác. Luận mệnh ngoài hiểu biết về mệnh học còn phải là người tịch lịch thế sự. Việc đời quanh co như ruột dê, cần con mắt sáng như mắt hổ để phát hiện. Từ ngữ và diệu thú của từ ngữ là gì?
Lúc phê mệnh mà không có một từ ngữ chứa chan diệu thú thì việc phê mệnh đã giảm đi quá nửa phần khuất phục tâm lý người có lá số được phê. Hãy lấy tỉ dụ một cảnh biệt ly trong bài từ của Âu Dương Vĩnh Thúc:
"Ly sầu tiệm viễn tiệm vô cùng
Siêu siêu bất đoạn như xuân thủy."
Làm cho người đọc xúc động ngay và thấy ngay hình ảnh buồn thê thiết đó.
Cũng như phê mệnh con gái chìm nổi phiêu bồng bằng bốn chữ: "Lưu thủy lạc hoa" (nước chảy hoa trôi), hoặc nặng hơn: "Lạc hoa ngộ vũ" (hoa rơi gặp bão) chỏ vào những ai mang bệnh Đào Hoa, Không Kiếp, Linh Hỏa.
Từ ngữ khoa Tử Vi về phần chuyên môn đã có những câu phú đoán phú chữ nôm. Nhưng về phần phê mệnh đòi hỏi ở tưởng tượng lực phong phú và khả năng từ ngữ dồi dào, cộng với đôi mắt quan sát bén nhọn của người phê. Mỗi lá số làm sao chỉ cần phê vào đó bốn hoặc năm chữ, hoặc cùng lắm là hai câu thơ bảy chữ, mà phát hiện ra được một hình ảnh rõ rệt cho một đời người.
Cuộc sống thế sự mang muôn hình vạn trạng, mà có thể đem đến cho từng người từng việc một hình ảnh chính xác thì quả là diệu thú của từ ngữ.
- Kẻ có tài lớn mà cô độc vô trợ được phê bốn chữ: "Ngưu miên hoang vũ" (Trâu ngủ trong bãi hoang).
- Người luôn luôn bị lỡ thời khinh miệt là hình ảnh: "Phá phiến giao thu" (Quạt rách cuối thu).
- Một nhà chính khách bù nhìn tượng gỗ ví như: "Thạch thượng kim hoa" (Hoa bằng sắt trên tảng đá).
- Cuộc đời trôi nổi là cuộc đời: "Phù bình vũ lộ" (Đám bèo trong mưa).
- Chỉ được một vận sáng đẹp trong thời gian ngắn là: "Vũ lý hoa khai" (Hoa nở dưới trời bão tố).
- Số dựa vào quí nhân mà phát đạt gọi bằng: "Hồ giả hổ uy" (Cáo mượn oai hùm).
- Cùng đến cực rồi biến để thành oanh liệt là: "Thần kiếm hóa long" (Kiếm thần biến ra rồng).
- Danh phận hiển đạt dễ dàng là: "Bảo mã kim yên" (Ngựa tốt yên vàng).
- Số bôn ba tàn khổ vẫn hoàn thất bại: "Đại lãng hành châu" (Thuyền nan trong sóng lớn).
- Hội hợp đúng thời công thành danh toại: "Vân long phong hổ" (Rồng gặp mây, hổ được gió).
Còn muôn vàn hình ảnh khác. Quí vị say mê số mệnh Tử Vi hãy đóng góp cho từ ngữ của khoa này. Từ ngữ càng giàu càng diệu thú thì triết lý nhân sinh qua mệnh học càng sâu sắc.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư – Vũ Tài Lục
