Bài tổng quan
Giàu nghèo qua năm tiêu chuẩn và những cung chỉ tài sản
Có người ăn tiêu xong vẫn còn dư để sinh lợi, có người chưa hết tháng đã nợ triền miên. Lá số đo sự giàu nghèo bằng năm điều kiện, và mỗi cung giữ một nguồn của riêng: cung thì nắm di sản của ông bà, cung thì nắm bổng lộc nghề nghiệp. Vậy cung nào chứa tiền, cung nào chứa ruộng đất…
Năm điều kiện để giàu và năm điều kiện để nghèo
Tiêu chuẩn giàu
Sự dư để, nghĩa là ngoài việc ăn tiêu bắt buộc, con người còn có tư bản, của riêng có thể sinh lợi.
- Có thể dành nhiều, có thể cầm của, giữ của.
- Được hưởng di sản tích cực của tổ phụ.
- Có di sản để lại cho con cháu.
- Được hưởng thụ của cải do mình làm ra.
Tóm lại, có 5 điều kiện cần và đủ cho sự giàu có: có của lâu dài, giữ được của, hưởng được của, của sinh lợi, để di sản. Càng hội tụ nhiều điều kiện thì càng giàu.
Tiêu chuẩn nghèo
Cũng có 5 điều kiện nghèo:
- Không có của dư mà có nợ triền miên.
- Không giữ được của, bị phá sản.
- Không hưởng được của mình làm ra.
- Không có di sản hoặc di sản là nợ nần.
- Không có sinh lợi, chỉ có của tiêu thụ.
Càng hội đủ những điều kiện thì càng nghèo!
Đó là các tiêu chuẩn nghèo khách quan. Trên thực tế, có nhiều trường hợp chủ quan. Ví dụ như nghèo mà tự do là đầy đủ, giàu mà tự xem là bất túc: đó là các ngoại lệ không kể. Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng có rất nhiều người giàu nhưng vẫn mang thật nhiều nợ, cụ thể như hầu hết thương gia đều có vay tiền để kinh doanh và làm giàu trên số nợ đó. Thành thử, có nợ, dù là nợ lớn chưa phải là nghèo. Có thể nói giàu lớn là khác. Chúng ta không đi sâu vào cách giàu trong thực tế, mà chỉ cần tìm hiểu cách giàu trong lá số.
Cách giàu qua các cung
Đã có thước đo giàu nghèo trong tay, lá số bèn chia của cải ra từng ngăn, mỗi cung giữ một nguồn tiền riêng.
Phú là một cách quan trọng cho đời người. Vì vậy, lá số Tử Vi dành rất nhiều cách cục để nói về phú, qua các cung và qua rất nhiều sao. Mặt khác, thường khi phải xem cả lá số người phối ngẫu, vợ hay chồng, để biết tình trạng giàu nghèo nói chung của gia đình.
Về các cung, có những cung mô tả cách giàu của mình. Có cung chỉ cách giàu tiền, có cung chỉ cách giàu ruộng đất.
Cung Phúc Đức
Cung này chỉ tài sản của dòng họ, thường là của ông bà, xa hơn là tổ phụ.
Cung Phúc tốt là điềm có di sản. Di sản mà lớn lao thì mới bảo đảm được sinh kế dễ thở lúc thiếu niên, giúp cho tuổi trẻ khỏi bị bận tâm về vấn đề sinh nhai. Mặt khác, cung Phúc tốt sẽ giúp con người có của ngay từ lúc mới vào đời. Khéo giữ của thì của đó bành trướng thêm và là yếu tố căn bản cho việc làm giàu. Người giàu nhờ di sản chẳng bao giờ bắt đầu bằng con số không. Tài sản thụ hưởng đó có ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản do mình tạo lập về sau vì cung Phúc chiếu thẳng vào cung Tài. Vì vậy người ta nói cung Phúc tốt là có của Trời cho.
Cung Phụ Mẫu
Cung này chỉ tài sản của cha mẹ. Nếu có nhiều sao tốt, nhất là sao tài thì cha mẹ dư dả, có thể giúp đỡ cho mình một cách đáng kể, nhất là trong giai đoạn lập nghiệp buổi đầu. Sở dĩ như thế là vì cung Phụ Mẫu bao giờ cũng tiếp giáp cung Mệnh, ngụ ý rằng, đương sự vốn phải sống nhờ vả cha mẹ. Ít nhất là trong buổi thiếu thời. Nếu cung Phụ Mẫu tốt thì nếp sống đó hanh thông, giúp con người bước vào đời bằng một số vốn nào đó chớ không phải bằng hai bàn tay trắng. Mặt khác, liên hệ giữa hai cung Phụ Mẫu và Mệnh còn rõ ràng hơn nếu cung Mệnh được nhị hợp với cung Phụ.
Duy, điều quan trọng là đến đời mình, mình có thừa hưởng được tổ nghiệp đó hay không. Điểm này hàm chứa trong hai cung Mệnh và Thân.
Cung Mệnh
Về mặt tài sản, cung này chỉ khả năng thụ hưởng và khả năng tạo sản của mình. Nếu Mệnh tốt, đương số có triển vọng thụ hưởng sản nghiệp thừa tự và nhờ đó bành trướng thêm của cải khác.
Duy, cung Mệnh không mấy quan trọng về mặt tạo sản bởi lẽ cung này ứng vào lúc niên thiếu, lúc con người đang tập sự vào nghề, đang đầu tư vào nghề nghiệp sau này, chưa đến lúc thụ hưởng lợi lộc của nghề nghiệp mang lại. Tuổi niên thiếu là tuổi tiêu tiền nhiều hơn là làm ra tiền.
Dù sao, nếu cung Mệnh có sao tốt, thì sự đầu tư đó có triển vọng đắc lợi về sau, hoặc là sẽ sớm có được của cải trong thời gian đang học nghề.
Cung Thân
Cung Thân tượng trưng cho hậu vận, tức là từ khoảng 30 tuổi trở đi. Đây mới là giai đoạn tạo sản thật sự, là thời kỳ mà nhân lực đắc dụng và sáng tạo nhất. Nếu Thân tốt thì tạo và hưởng được sản nghiệp, đủ nuôi thân và có thể nuôi cả gia đình, thân thuộc. Hơn nữa, Thân còn có thể được xem là một cung Tài thứ hai, vì cung Thân có ý nghĩa đa diện, bao hàm công danh, tài sản, gia đạo v.v…
Trong trường hợp Thân cư Tài, sự tạo sản sẽ tích cực hơn: con người nỗ lực xây dựng của cải, ham kiếm tiền, bị chi phối nhiều bởi xu hướng làm giàu, thích tiền của, điền sản hơn là quyền tước, công danh. Bấy giờ, nếu cung Tài tốt, đương số sẽ dễ thành đại phú.
Trong trường hợp Thân đóng ở cung khác, những hay dở của cung này sẽ có tiếng dội trên của cải. Nếu ở Phu Thê, cái hay của cung này nhất định có lợi cho việc tạo của, bằng sức lực, công lao hay di sản của vợ hay chồng. Nếu ở cung Di tốt đẹp, thì bấy giờ thời thế sẽ thuận lợi cho việc làm ăn, nhất là ở phương xa.
Tóm lại, cung Phúc và Phụ là tài sản thiên định, cung Thân là tài sản nhân tạo, của hiện kiếp và báo hiệu cho tài sản của hậu kiếp trong đời con cháu. Vì vậy cung Tài mới tiếp giáp và ảnh hưởng vào cung Tử.
Cung Tài
Tài ở đây chỉ tiền bạc, động sản, quý kim, cổ phần, thương mục, tiền tích trong tủ, trong ngân hàng, tiền để dành và tiền đầu tư.
Nếu hai cung Mệnh và Thân mô tả nếp sống tổng quát của con người trong hai giai đoạn tiền vận và hậu vận, thì cung Tài mô tả chi tiết tình trạng tài chánh, nhất là trong giai đoạn hậu vận (khả năng kiếm tiền, giữ tiền, mức độ giàu nghèo, nguyên nhân hao phí…). Vì tiền bạc thường tích tụ vào lúc con người lập thân, cho nên cung Tài và cung Thân có nhiều liên hệ mật thiết, đặc biệt là khi Thân cư Tài.
Một điểm cần lưu ý là ngày nay, cung Tài chứa một nội dung và nhiều hình thái phong phú hơn ngày xưa. Thuở xưa, tài chỉ tiền bạc, vàng mà thôi. Còn ngày nay, nhờ sự phát triển ngành ngân hàng và sự nới rộng mậu dịch cung Tài còn chỉ cả thương mục, cổ phần, mà giá trị hẳn còn cao hơn hiện kim tích trữ.
Cung Điền
Theo quan niệm xưa, nặng về nông nghiệp, chữ Điền Trạch chỉ nhà và đất (ruộng, vườn) do di sản hay do mua sắm. Nhưng ngày nay, nhờ sự bành trướng của kỹ nghệ và tiện nghi vật chất, cung Điền còn chỉ xí nghiệp, sản phẩm biến chế, hoa màu trên mặt đất và khoáng sản dưới lòng đất, đồng thời chỉ cả máy móc, xe cộ dính liền với các bất động sản đó. Cho nên chữ Điền ngày nay phong phú hơn chữ Điền ngày xưa.
Cung Điền tốt thì nhiều bất động sản và động sản liên hệ. Thông thường cái tốt của Điền phản ảnh hoặc ảnh hưởng đến cái tốt của cung Tài. Lý do là có tiền mới sắm được bất động sản lớn. Tài là yếu tố của Điền, Điền là thể hiện của Tài, theo một hàm số liên hệ nhân quả. Nếu cả hai cung đều tốt thì là phú gia địch quốc.
Cung Quan
Cung này bao gồm bổng lộc do chức tước hay nghề nghiệp tạo ra, cho nên bổ túc cho hai cung Tài và Điền. Cung Quan càng có thêm ý nghĩa là sản nghiệp nếu Thân cư Quan.
Theo quan niệm xưa, cung này chỉ quan trọng cho phái nam. Duy, quan niệm này đang thay đổi vì trong xã hội hiện nay, phụ nữ ngày càng có nhiều địa vị xã hội, có nghề nghiệp và sinh kế riêng, bổ túc cho sinh kế của chồng. Vì vậy, xem số phụ nữ có địa vị, phải để ý thêm cung Quan. Mặt khác, cung Thê của nam số cũng góp phần bổ túc ý nghĩa tài sản của vợ, trong trường hợp người vợ có nghề nghiệp riêng.
Cung Di
Phần lớn những nhà giàu có của nhờ gặp thời. Vì thế cung Di góp phần khá quan trọng cho việc lập nghiệp.
Trong trường hợp Thân cư Di mà được cung Di tốt đẹp, ý nghĩa này càng rõ rệt, đặc biệt là khi cung này có tài tinh, sao may mắn, sao trợ tinh. Bấy giờ, khả năng của đương số sẽ không quan trọng bằng sự hên may của thời vận.
Các cung hạn
Trong lá số, bất cứ cung nào cũng có thể là cung hạn (đại hạn 10 năm, tiểu hạn từng một năm). Các cung hạn ghi nhận những biến cố, những thay đổi về mọi phương diện trong đó có phương diện tài sản. Tuy cung hạn bị đóng khung trong cung Thân, cung Mệnh, cung Tài, song nếu gặp cung hạn tốt, tài vận có thể khá lên được, dù cung Mệnh, Thân, hay Tài, Điền tầm thường.
Trong khi 4 cung Tài, Điền, Quan, Phúc nói lên tình trạng tổng quát thì các cung Hạn đi vào chi tiết của vấn đề tài sản. Cụ thể như cung hạn cho biết năm nào đắc tài, năm nào hao của, nguyên nhân của việc đắc hay hao tán v.v…
Điều kiện của một phú cách và bốn loại sao giàu
Cung đã mở kho, nay đến những vì sao đem của vào kho ấy — và những vì sao giữ cho của không chảy đi.
Cách giàu phải gồm các điều kiện sau đây:
- Phải có chính tinh miếu, vượng địa đóng ở các cung liên hệ đến tài sản, nhất là Tài, Điền. Nếu đó là tài tinh thì càng hay. Nếu có nhiều tài tinh đồng cung ở đấy thì càng tốt đẹp nữa. Đó là hai trường hợp gọi là thuận vị.
- Phải được Âm, Dương sáng sủa chiếu vào hai cung Tài, Điền.
- Phải có phụ tinh tốt, nhất là tài tinh đóng ở hai cung Tài, Điền hay ít ra ở những cung Mệnh, Thân, Phúc, Quan. Nếu tài tinh hay cát tinh đắc địa thì càng tốt thêm.
- Phải có sao giữ của đóng ở những cung Tài, Điền, Quan, Di, Mệnh, Thân.
- Phải có sao hưởng của ở những cung tài sản hay ở Mệnh, Thân, Phúc, Quan.
- Phải có sao di sản ở những cung này.
- Phải tránh các hao tinh, sát tinh, hung tinh, hình tinh. Nếu không các loại sao này phải đắc địa hoặc có sao giải đi kèm thì sức phá sẽ giảm nhẹ.
- Cát và tài tinh phải tránh hai sao Tuần, Triệt mới bảo toàn hiệu lực cho cát và tài tinh được.
- Có tứ Không, tam Không hay ít ra nhị Không, tức là các sao Tuần, Triệt, Địa Không và Thiên Không. Bốn sao này một phần tọa thủ, một phần hội chiếu.
- Có Thái Âm, Thái Dương sáng sủa chiếu vào cung vô chính diệu: đây gọi là trường hợp Nhật Nguyệt chiếu thì tối thiểu, cung Tài, Điền vô chính diệu phải có chính tinh miếu, vượng địa xung chiếu vào.
Các sao giàu có được chia làm 4 loại:
- Tài tinh, nghĩa là các sao trực tiếp chỉ bạc và điền sản.
- Sao trợ tài, nghĩa là các sao giúp đỡ thêm mãnh lực cho các tài tinh.
- Sao may mắn nói chung.
- Một số sao giữ của, giúp cho sự cầm của được chắc chắn và lâu bền, tránh hao tán, phá sản.
Phải đủ điều kiện kể trên, mới đủ phú cách và phú cách đó mới dồi dào và lâu dài.
Những sao tài: Vũ Khúc, Thiên Phủ và Nhật Nguyệt
Trước hết là những chính tinh đứng ngay trên cung, nơi mà vàng bạc và ruộng đất chờ được gọi tên.
Nói chung bất cứ chính tinh nào miếu và vượng địa đều lợi cho tài sản. Nếu chính tinh lại là sao tài dưới đây càng hay:
Vũ Khúc miếu và vượng địa
Chỉ sự giàu có, dư dả nói chung, thông thường là giàu về tiền bạc. Nhưng, nếu đóng ở cung Điền thì sẽ giàu về nhà đất.
Vũ Khúc không phân biệt nguyên nhân việc có của: bằng buôn bán, bằng quan tước, bằng kỹ nghệ, bằng ngân hàng, kinh tế v.v… Thiết tưởng ta không nên xác định cụ thể nghề nghiệp của Vũ Khúc, chỉ có thể nói rằng sao này liên hệ rất nhiều đến kinh tế, tài chánh. Nếu làm việc công thì là quan coi kho, phụ trách ngân khố cho chính phủ hay kinh tế quốc gia (thuế vụ, ngân hàng, ngoại thương, nội thương). Ngày nay vì ngành xí nghiệp tư phát triển mạnh cho nên Vũ Khúc chỉ cả tư chức làm việc trong ngành kinh tế, tài chánh (quản trị xí nghiệp, ngân hàng tư, xuất nhập cảng, thương gia, kỹ nghệ gia) xuất nhập cảng, hối đoái, in tiền, nghiên cứu kinh tế tài chánh v.v…
Vũ Khúc sáng sủa báo hiệu một thế lực tài phiệt lớn, tức là người nhờ đồng tiền mà có thế lực, đặc biệt là khi đi đôi với Thiên Phủ, Lộc Tồn hay Hóa Lộc.
Thiên Phủ
Chỉ cái kho lớn của trời đất, nghĩa bóng là tài nguyên quốc gia, tất cả những gì sinh lợi cho nhà nước, bất luận lãnh vực nào (thuế má, kinh doanh, thương mại, ngân hàng, ngân khố, quan thuế, coi kho, thủ quỹ, phát lương, tồn trữ sản phẩm…). Đây là một tài tinh quan trọng tương tự như Vũ Khúc.
Nếu cả hai sao đồng cung và đặc biệt có thêm Hóa Lộc, Thiên Mã hay Lộc Tồn thì tài sản càng dồi dào, miễn là không bị sát, hung, hao tinh xâm phạm. Giữa Vũ và Phủ, rất khó phân biệt sao nào mạnh hơn. Có người cho rằng Phủ là đệ nhị chính tinh, đứng sau Tử Vi, thế tất phải mạnh hơn Vũ. Có quan niệm thì cho rằng Phủ là sao tầm thường vì không chế nổi hung tinh hạng nhẹ như Kình, Đà, Linh, Hỏa nên kém hơn Vũ.
Thái Âm, Thái Dương sáng sủa
Biểu tượng cho hai nguyên lý âm dương của trời đất Nhật, Nguyệt có nghĩa bóng là phước của trời đất dành cho mình. Về phương diện tài sản, phước đó được cụ thể hóa bằng sự giàu có.
Nếu dựa vào nguyên nghĩa nói trên mà suy luận thì sự thịnh vượng của Âm Dương bắt nguồn từ việc đắc thời, từ vận hội tốt đẹp của đất nước, phù hợp với năng khiếu làm giàu của mình, trong thời bình hoặc trong thời loạn. Điều này được thể hiện qua việc hai sao này thường hội chiếu lẫn nhau. Nếu cả hai sáng sủa thì sức sáng gia tăng, tài lộc dồi dào, đặc biệt cho những người có giờ sinh tương hợp. Nếu đồng cung thì phải có thêm Hóa Kỵ, Tuần hay Triệt mới hay.
Ngoài ra, có thể nói sự thịnh vượng đó do cha mẹ để phúc lại vì Thái Âm tượng trưng cho mẹ, Thái Dương cho cha. Nếu cả hai sao cùng sáng sủa thì cha mẹ giàu có, thường để di sản cho con cháu. Nếu không giàu thì ít ra cũng thọ.
Riêng Thái Âm trực tiếp có nghĩa điền sản. Đây là sao điển hình cho những ai hành nghề bất động sản (chủ điền, chủ phố, chủ đồn điền, xí nghiệp, mua bán nhà đất…). Cho nên, nếu đóng ở Điền thì rất hợp vị. Vì vậy, người ta cho rằng, về mặt của cải, Thái Âm lợi hơn Thái Dương. Ngay cả trong trường hợp Âm, Dương đồng cung (ở Sửu hay ở Mùi), nếu được Tuần, Triệt án ngữ (hay có Hóa Kỵ đi kèm) thì Âm vẫn thịnh hơn Dương vì Sửu và Mùi là 2 cung âm.
Riêng Thái Dương đi với Thiên Lương ở Mão, với Cự Môn ở Dần, hoặc Thái Âm đi với Thiên Đồng ở Tý cũng rất giàu có.
Việc cung Tài giáp được Âm, Dương sáng sủa cũng là chỉ dấu của sự dư dả. Về mặt nghề nghiệp, đó là những nghề dính dáng đến tiền bạc.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
