Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Bảy vòng đời của Hi Di và sợi dây Phúc – Mệnh – Thân – Hạn

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề27/09/20267 phút đọc7 lượt đọc
Bảy vòng đời của Hi Di và sợi dây Phúc – Mệnh – Thân – Hạn

Bảy vòng đời mười năm một của Hi Di không phải con số tùy tiện. Nhìn kỹ sẽ thấy nó đúc kết đúng quy luật phổ biến của một đời người, từ lúc chưa biết gì đến tuổi thất thập cổ lai hy.


Giữa mười hai cung, mối liên hệ không chỉ dệt bằng thế xung, thế giáp hay thế hợp. Còn một sợi dây khác chạy theo chiều thời gian. Và ở chiều ấy, Lý số để lộ một điều đáng suy ngẫm: cách Hi Di chia đời người thành từng vòng mười năm không phải một con số tùy hứng, mà dường như là kết tinh kinh nghiệm của cả bốn nhà Nho, Y, Phật, Lão.

Hệ thống vòng đời đối xứng

Lý số chia đời người thành các đại hạn, mỗi đại hạn dài mười năm, gắn với những loại cục là Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục và Hỏa lục cục. Lấy cung Mệnh và cung Di làm trục đối xứng cho các vòng đời mười năm, ta nhận ra cách nhìn của Lý số là sự nối tiếp những điều mà bốn nhà Nho, Y, Phật, Lão đã phát hiện từ trước. Vòng một là Mệnh. Vòng hai gồm Phụ mẫu và Huynh đệ (Bào). Vòng ba gồm Phúc đức và Phu thê (Phối). Vòng bốn gồm Điền trạch và Tử tức. Vòng năm gồm Quan lộc và Tài bạch. Vòng sáu gồm Nô bộc và Giải ách. Vòng bảy là Thiên di.

Lấy người thuộc Thủy nhị cục làm ví dụ, các vòng đời của họ lần lượt như sau: vòng một từ một đến mười một tuổi; vòng hai từ mười hai đến hai mươi mốt; vòng ba từ hai mươi hai đến ba mươi mốt; vòng bốn từ ba mươi hai đến bốn mươi mốt; vòng năm từ bốn mươi hai đến năm mươi mốt; vòng sáu từ năm mươi hai đến sáu mươi mốt; vòng bảy từ sáu mươi hai tuổi trở lên. Đem tính cho bốn cục còn lại, biên độ rộng nhất của các vòng, thấp nhất ở Thủy nhị cục và cao nhất ở Hỏa lục cục, sẽ là: vòng một từ một đến mười lăm tuổi; vòng hai từ mười hai đến hai mươi lăm; vòng ba từ hai mươi hai đến ba mươi lăm; vòng bốn từ ba mươi hai đến bốn mươi lăm; vòng năm từ bốn mươi hai đến năm mươi lăm; vòng sáu từ năm mươi hai đến sáu mươi lăm; vòng bảy từ sáu mươi hai tuổi trở lên.

Ngắm cấu trúc này mới thấy tiên sinh Trần Đoàn dựng nên thật khéo, bởi nó bám sát quy luật phổ biến nhất của một kiếp người. Vòng một là buổi con người còn chưa hiểu biết gì, cũng thuộc phạm vi chưa đủ căn cứ để đoán số. Sang vòng hai, con người chủ yếu chịu sự che chở và chi phối từ cha mẹ, anh em. Vòng ba mở rộng quan hệ ra dòng tộc và chuyện hôn nhân. Vòng bốn là quãng chín muồi để được cha mẹ chia đất, để có thể sắm nhà, tậu trâu và sinh con. Vòng năm là lúc lập nghiệp thành tựu, tiến thân có địa vị trong xã hội và nắm được các nguồn tiền. Vòng sáu là đỉnh cao của các mối quan hệ, mọi yếu tố dựng nên một khái niệm rõ ràng đều đã đủ, đồng thời cũng là tuổi mà ai cũng vướng bệnh tật. Vòng bảy là chặng cuối còn có thể đóng góp hữu ích cho xã hội; quá bảy mươi thì người xưa đã có câu "thất thập cổ lai hy". Ai đem thể nghiệm bản thân ra đối chiếu cũng thấy độ tuổi của Lý số khớp nhất khi đúng những việc Lý số nêu được thực hiện. Dĩ nhiên xã hội nào cũng có ngoại lệ, mà ngoại lệ thì gian nan. Đó chính là chỗ minh triết của Lý số, và cũng là một lối khảo sát tương quan giữa các cung.

Sợi dây nối Phúc, Mệnh và Thân

Để đào sâu chuyện đời người, Lý số tách cuộc đời thành nhiều giai đoạn, mong hiểu từng giai đoạn cho phong phú, cụ thể và chính xác hơn. Song các giai đoạn ấy vẫn thông với nhau qua thời gian, mà sợi dây nối gồm Phúc, Mệnh, Thân và các cung hạn.

Về mặt thời gian, ba cung Phúc, Mệnh, Thân nối đuôi nhau. Phúc là tiền kiếp, là quá khứ của con người qua cuộc đời tổ phụ và dòng họ. Mệnh và Thân là hiện kiếp con người, cuộc sống hiện tại của chính mình từ lúc sinh ra đến lúc mất đi. Tiền kiếp chỉ có riêng cung Phúc mô tả, còn hiện kiếp được hai cung đảm nhận là Mệnh và Thân. Mệnh ứng với tiền vận, từ thuở nhỏ đến chừng ba mươi tuổi; Thân ứng với hậu vận, từ sau ba mươi tuổi. Qua cách bố trí ấy ta thấy Lý số dành phần lớn sự quan tâm cho hiện kiếp, dù không gạt bỏ ảnh hưởng của tiền kiếp. Đây là thêm một nét riêng của đối tượng Lý số: thiên về nghiên cứu lúc sống hơn là lúc đã khuất.

Tuy vậy, giữa tiền kiếp và hiện kiếp cần hiểu rằng không có chỗ đứt gãy. Đời người là một chuỗi thời gian liền mạch, kéo từ kiếp trước sang kiếp này. Vì thế cung Phúc tác động mật thiết đến Mệnh và Thân. Đến giai đoạn Thân, con người chịu sự cộng dồn của hai tầng ảnh hưởng, từ Phúc và từ Mệnh. Cho nên xem Mệnh phải xét cả Phúc, còn xem Thân phải xét cả Phúc lẫn Mệnh.

Trong hiện kiếp, Lý số coi trọng cung Thân hơn. Vốn nghiêng về hạnh phúc thế tục, Lý số đặt nặng khoảng thời gian thụ hưởng lúc cuối đời: đó là hậu vận, khi con người đã chín về trí tuệ và tình cảm, tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống, đủ sức tự lập, tự túc, tự cường, không chỉ nuôi nổi bản thân mà còn lo được cho vợ con và xã hội. Tác dụng của Thân vì vậy rộng và tích cực hơn tác dụng của Mệnh. Do đó mới có câu Mệnh tốt không bằng Thân tốt, để nhấn mạnh rằng giai đoạn hưởng thành quả do mình gây dựng mới thật đáng kể. Thân xấu thì sự thụ hưởng ấy hoặc không có, hoặc ngắn ngủi. Hạnh phúc đầy đủ đòi hỏi công nghiệp do mình tạo được hưởng lâu dài, thịnh vượng, vuông tròn cho đến tàn cuộc. Có vậy con người mới hạnh phúc trọn vẹn.

Mệnh, Thân và các cung hạn nương vào nhau

Bảng số Lý số còn cắt Mệnh và Thân thành những đoạn ngắn, mười năm một đoạn và một năm một đoạn, gọi là đại hạn và tiểu hạn, nhằm soi vào những chi tiết sâu xa hơn.

Với Mệnh, có ba đại hạn tổng quát trải khoảng ba mươi năm. Với Thân là các đại hạn còn lại, tính từ chỗ đại hạn cuối của Mệnh dứt cho tới khi con người qua đời. Thường thì khi đại hạn đến cung Tật, con người đã già, theo quan niệm Á Đông là quá năm mươi hai tuổi. Tính theo số của Cục, cung Tật thuộc Thủy nhị Cục bao trùm từ năm mươi hai đến sáu mươi mốt tuổi, Thổ ngũ Cục từ năm mươi lăm đến sáu mươi bốn, Hỏa lục Cực từ năm mươi sáu đến sáu mươi lăm. Cung Tật góp phần định đoạt bệnh, tật và họa, nhất là buổi già. Thường đến quanh sáu mươi tuổi con người dễ qua đời, trừ một số ít người đặc biệt trường thọ.

Mệnh, Thân với các hạn cũng ràng buộc nhau. Có quan điểm cho rằng đại hạn tốt còn hơn Mệnh, Thân tốt, nhưng thực ra chính Mệnh, Thân mới là khung quy định cái tốt xấu của đại hạn; sự tốt xấu của đại hạn chỉ dao động trong biên độ của Mệnh, Thân. Mệnh, Thân là gốc, đại hạn là ngọn. Giữa đại hạn và tiểu hạn cũng thế: đại hạn là gốc của mười tiểu hạn, chi phối cái hay dở tổng quát của từng năm. Tiểu hạn tốt chỉ bồi thêm phần thiếu chứ không tốt đến mức át được cái xấu của đại hạn. Hiệu lực của đại hạn hay tiểu hạn chỉ làm tăng giảm chứ không tự mình quyết định. Thuận lợi nhất là khi Mệnh, Thân và các hạn đều tốt, liên tục và đồng đều.

Lý số đã dựng xong khung chung của một đời người gồm mười hai cung, ba thế phối chiếu, bảy vòng đời và sợi dây Phúc, Mệnh, Thân, Hạn nối quá khứ với hiện tại. Nhưng khung ấy vẫn còn tổng quát, chưa nói riêng cho một đứa trẻ hay một cụ già.

Nguồn: Dương Thành biên soạn, "Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống".

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề