Bài tổng quan
Đức năng thắng số và cách cải sửa số mệnh
Người xưa có câu đức năng thắng số, khuyên ai gặp số xấu đừng ngã lòng mà hãy dấn thân cải thiện. Nhưng sửa số là sửa đến đâu, sửa để được gì, và hạnh phúc rốt cuộc là cân bằng giữa những điều gì. Có một phép tính rất đơn giản, ba chữ nối nhau bằng hai dấu bằng, mà nhiều người cả đời không thử…
Quan niệm của khoa Tử Vi về số mệnh
Trong Tử Vi, không ai tìm thấy một định nghĩa nào về số mệnh. Nhưng, nếu căn cứ vào triết lý và tinh thần khoa Tử Vi, ta có thể nói rằng khoa này hoàn toàn bác bỏ thuyết tiền định tuyệt đối.
Số mệnh trong triết lý khoa Tử Vi
Tử Vi học đã lấy thuyết Âm Dương, ngũ hành của Kinh Dịch làm nền tảng. Một người khi cho rằng con người và đời người phải biến dịch thì không bao giờ khoa Tử Vi lại chấp nhận thuyết tiền định tuyệt đối. Lý do là vì thuyết này đóng khung con người và đời người không để mở ngõ nào cho cuộc biến dịch.
Từ đó có thể minh sát rằng quan niệm mệnh số của Tử Vi là Dịch số, tức là số kiếp biến đổi, chớ không phải là định số, nghĩa là số kiếp cố định, có sẵn. Cái gì cố định, không thay đổi đều tương phản mãnh liệt với dịch lý của khoa Tử Vi.
Số mệnh xét qua tinh thần Tử Vi
Tinh thần của khoa Tử Vi là tinh thần tương quan chặt chẽ giữa các yếu tố. Vì thế không có cung nào trong lá số mang ý nghĩa tiền định tuyệt đối cả dù đó là cung Phúc, hay Thân đi nữa.
Cung Phúc, tuy ảnh hưởng rất rộng mà cũng không tiền định vận mệnh người đời. Không hoàn toàn quyết định vận số. Hơn nữa âm đức cũng không phải vô địch: nó vẫn bị bù chế bởi ảnh hưởng khác từ cung Mệnh, cung Thân.
Cung Mệnh và cung Thân chỉ hiện kiếp, phần công đức mà cá nhân tạo dựng trong cuộc đời hiện tại của mình. Sự hiện diện của hai cung Mệnh và Thân cho thấy khoa Tử Vi không giành cho cung Phúc một giá trị tuyệt đối. Lý do là vì hai cung Mệnh, Thân mà tốt thì vẫn bù chế được cái xấu của cung Phúc. Rõ rệt hơn ta có thể nói khi đặt để ra hai cung Mệnh và Thân, khoa Tử Vi đã chấp nhận phần nhấn định của con người vào số kiếp của chính mình, chớ không phải chỉ thụ hưởng âm đức của quá khứ mà thôi.
Các cung còn lại cũng chi phối vào ba cung Phúc, Mệnh và Thân, mỗi cung chi phối một khía cạnh có ảnh hưởng liên đới với nhau. Không có cung nào có ý nghĩa tiền định riêng rẽ và tuyệt đối để mô tả sự liên đới này, khoa Tử Vi đặt ra hệ thống phối chiếu, tiếp giáp và nhị hợp, cơ cấu của lá số cũng định vị trí của các cung theo tinh thần tương quan chi phối; phương pháp xem số cũng dựa vào hàm số tức là động tính của mỗi sao, mỗi cung với các sao và những cung chiếu, giáp, hợp. Dù vậy động tính của lá số cũng chưa thật đầy đủ.
Số mệnh tĩnh và số mệnh động
Đi xa hơn để tìm hiểu ý niệm dịch số trong khoa Tử Vi, ta có thể nói rằng toàn thể lá số chỉ phác họa một vận mệnh tĩnh của con người. Lá số Tử Vi chỉ là sự thành văn một số mệnh nào đó. Ý nghĩa của các sao chỉ phản ảnh một phần ý nghĩa thực sự, nhất là không diễn tả hết mãnh lực của một cá tính thực tế. Ví dụ như 2 sao Thiên Quan, Thiên Phúc vốn vẹn chỉ có nghĩa làm phước, nhưng không bao giờ nói lên mức độ của việc làm phước đó to nhỏ như thế nào đối với từng người. Cho nên, nhìn vào lá số, người ta chỉ thấy được ý nghĩa của sao chớ không đo lường đúng mức sức mạnh thực tế của sao. Từ đó, rất khó tiên đoán cho vận mệnh thực tế của một người. Ví dụ trên cho thấy cung Phúc, Mệnh hay Thân cũng chỉ diễn tả phần âm đức và công đức tĩnh, chớ không diễn tả đầy đủ cái âm đức, cái công đức sống động ở ngoài đời của một người nhất định nào. Chính cái Phúc, cái Mệnh, cái Thân cụ thể ở ngoài đời mới là số kiếp.
Thật sự mới là vận mệnh động. Bởi vậy cho nên bí quyết xem số đòi hỏi ta phải diễn đạt đúng mức độ mệnh động. Thay vì để bị đóng khung trong cơ cấu tĩnh của nó.
Những lập luận trên giúp ta xác định rằng khoa Tử Vi, tuy có ban cho mỗi người một lá số, nhưng vẫn không cưỡng đặt cho ai một vận mệnh nào. Vận mệnh trong lá số còn có thể được cá nhân gia giảm. Lá số nhiều lắm là chỉ cho biết một tình trạng khả hữu của con người trong tương lai. Tình trạng đó theo định lý không tiền định, cũng không cố định. Những kết luận về số mệnh và vận mệnh chỉ là những nhận xét rút tỉa từ một lá số tĩnh, cho nên khó tránh khỏi ý nhiều sai lầm. Tin vào kết luận từ lá số là tin tưởng vô ý thức. Cho rằng con người hoàn toàn bất lực trước số kiếp, hay cho rằng số kiếp bất di dịch là hai mặt của một nhận định sai lầm.
Lá số Tử Vi vẫn để mở ngõ cho con người hoạt động. Vì vậy việc cải hay sửa số mệnh vẫn khả thi. Đến một chừng mực nào đó, tùy khả năng và ý chí cá nhân. Chính vì yếu lý này mà châm ngôn (đức năng thắng số) đã được người xưa đề ra để khuyên người ra không nên ngã lòng khi gặp số xấu đồng thời cũng khích lệ họ dấn thân cải thiện. Đức ở đây là ý chí cải sửa. Số ở đây là vận mệnh tĩnh, suy diễn từ lá số. Theo châm ngôn này, con người có thể góp phần tạo ra vận mệnh cho chính mình. Vận mệnh này ngả theo chiều hướng nào phần lớn là do nhận định của ta. Chỉ trừ khi gặp phải những trường hợp bất khả kháng, con người mới chịu nghịch cảnh chế phục mà thôi. Khi đặt cho con người vai trò định hướng số mệnh, khoa Tử Vi phản ảnh được tinh thần nhân bản hết sức mạnh mẽ. Đây quả là một nét đặc thù hiếm có nơi một kho bói toán, một điều mà cho đến nay người vẫn chưa lý hội được sâu sắc và đầy đủ.
Xác định mục đích của việc cải sửa số mệnh
Muốn sửa được số mệnh, phải biết mình sửa để đi tới đâu. Mục đích chọn sai thì cả cuộc sửa cũng đi lạc.
Trước khi thử ra phương thức cải sửa số mệnh, thiết tưởng cần bàn đến mục đích việc cải sửa số mệnh ngõ hầu tránh những ngộ nhận có thể có.
Cải sửa để giành mục đích gì?
Nếu câu hỏi này không phải thừa, ví lẽ tùy theo mỗi người hình dung mục đích thế nào, số mệnh sẽ tùy theo đó mà có thể sửa đổi hay không. Thật vậy, mục đích này, nếu không tưởng thì không ai nói đến được, ví dụ như muốn làm bá chủ thiên hạ. Có nhiều mục đích thấp hơn như làm đại phú, xét ra cũng có vài người có điều kiện với tới mà thôi. Việc xác định mục đích ở đây phải ít ra vừa tầm tay của đại chúng, chớ không phải vừa tầm tay của một thiểu số.
Theo thiển nghĩ, mục đích việc cải sửa số mệnh khả dĩ ứng dụng được cho nhiều người là sửa đổi số mệnh để tạo thêm hạnh phúc cho mỗi người.
Danh từ này là vì nó bao quát nên luôn luôn bị thiên hạ hiểu khác nhau có ý nghĩa là có nhiều quan niệm, nhiều lối hiểu về hạnh phúc. Do đó cần điểm qua những quan điểm thông thường của con người về hạnh phúc mới thấy chỗ sai lầm của hạnh phúc nơi đa số nhân loại.
Những quan niệm hạnh phúc khác nhau
Trước hết, đơn giản nhất có 2 lối hiểu danh từ hạnh phúc, một lối hiểu của người tu hành, một lối hiểu của người đời. Cả hai tương phản nhau khá nhiều.
Người tu hành hiểu hạnh phúc là sự thanh tịnh của tâm hồn. Họ tìm thấy hạnh phúc khi nào trong lòng họ thư thái, không còn vướng bận lo âu của sự đua chen mưu cầu phú quý vinh hoa vật chất. Muốn đạt được loại hạnh phúc này, phải cố gắng giải thoát khỏi những ràng buộc của nhu cầu vật chất, đồng thời tự chế ngự dục vọng, tự chủ trước bản năng thấp hèn. Nói tóm lại là xu hướng thoát đời, bị cho là nguồn gốc của ô trọc, của tranh đua, của sầu khổ, của đau thương… cái lối hình dung một hạnh phúc siêu thoát như thế, dù không phải là sai, song không mấy ai đạt đến, cũng chính vì nó đòi hỏi quá nhiều điều kiện hết sức khó khăn nơi mỗi người và nơi mọi người. Tự chế, tự chủ trước bản năng xấu cho mỗi người đã khó, cho toàn thể mọi người lại càng khó hơn. Vì vậy, hạnh phúc hiểu theo nhà tu hành không mấy thích dụng cho đại chúng.
Còn lối hiểu thông thường về hạnh phúc của người đời có dễ đạt hay không?
Người đa số có một quan niệm hạnh phúc không tưởng, hoặc phiến diện, hoặc hình thức.
Những người phiến diện thì lại nhìn hạnh phúc qua một mẫu người đặc biệt nào đó. Họ nhiều lúc nông cạn đến nỗi tự lượng sức mình xem có đạt được nổi mẫu mực đó hay không. Họ không hiểu rằng trên đời không ai có hạnh phúc toàn vẹn. Những mẫu người lý tưởng đó cũng có những khổ đau riêng mà kẻ bàng quang không thấy được.
Cũng chẳng thiếu những người nhìn hạnh phúc qua những hình thức vật chất (như tiền bạc, danh vọng, nhà lầu, xe hơi) mà quên đi phần nội dung là sự thư thái, sự an nhàn của tâm hồn. Có nhiều cá nhân bằng lòng hy sinh bớt phú quý cốt chỉ để mưu cầu sự an nhàn đó.
Chung cuộc những quan niệm hạnh phúc kể trên hầu như khó đạt. Vậy nên có một quan niệm nào cho thích hợp nngõ hầu theo đó mà cải sửa số mệnh?
Quan niệm hạnh phúc cần có hạnh phúc cho người đời
Dĩ nhiên, quan niệm này không đòi hỏi người đời phải từ bỏ những nhu cầu vật chất, vì đó là những nhu cầu cần thiết cho hạnh phúc thế tục. Quan niệm này chỉ đòi hỏi cá nhân phải ước muốn cho vừa sức mỗi người, không cao quá mà cũng không thấp quá. Hạnh phúc cá nhân chính là sự cân bằng giữa cái mà mình muốn với điều mà mình có thể đạt được. Vậy vấn đề quan trọng ở đây là điều hòa ý muốn với tài sức. Khi nào điều hòa được thì có quân bình, tức là sẽ được mục tiêu và như thế là đã có hạnh phúc. Nếu diễn tả bằng phương trình ta có:
Ý muốn = khả năng = Hạnh phúc
Quan niệm này không xét riêng cho một hình thức hạnh phúc nào, mà có thể ứng dụng cho cả Phú, Quý. Quan niệm này cũng không gạt bỏ phần hạnh phúc tâm hồn vì một khi khả năng tương hợp với ước muốn thì con người không còn đau khổ. Đây là một quan niệm hạnh phúc toàn diện, có thể áp dụng cho bất cứ ai.
Ngoài ra muốn thực hiện khéo léo hạnh phúc, con người phải đi từng bước, không nên đốt giai đoạn, không nên có những ước muốn quá xa để rồi nhọc công đi đường dài. Hết một chặng đường, sẽ tiến thêm một chặng khác, miễn là mỗi đoạn đường như thế, không có sự chênh lệch quá đáng giữa khả năng và ý muốn.
Dĩ nhiên, trên đường tiến thủ, không thể có sự thuận lợi vuông tròn mãi mãi. Nhưng, muốn theo sức thì ít gặp thất bại, chí phấn đấu không bị thử thách lớn, khả năng đủ để còn dành cho đợt tiếp theo. Nếu gặp thất bại, cá nhân phải tự điều chỉnh lại sở nguyện cho vừa tầm. Trong chiều hướng này, thất bại cũng có lợi của nó vì nó cảnh giác con người trước những tham vọng quá đáng. Điều quan trọng là dù gặp thất bại, cá nhân chỉ nên điều chỉnh lại ước vọng chớ không bỏ cuộc giữa chừng.
Quan niệm hạnh phúc mới thích hợp cho việc cải sửa số mệnh. Đến đây vấn đề là làm thế nào để cải sửa?
Thử đề ra một phương thức cải sửa
Trước khi bước vào cuộc, phải phân biệt hai việc mà lâu nay người ta hay gộp làm một: thay đổi hẳn số phận, hay chỉ làm nó khá lên một chút.
Trước khi nhập cuộc, thiết tưởng phải nêu vài tiền đề tiên khởi.
Phân biệt cải với sửa
Cải số là thay đổi sâu rộng bản chất, chiều hướng, kết quả của cuộc sống, nói cụ thể là chuyển bại thành thắng, chuyển nghèo ra giàu, chuyển hèn thành sang. Nói chung, cải số là thoát khỏi cái cơ cực, khổ ải, bất túc của một giai đoạn, để bước vào một thời kỳ mới dễ chịu hơn.
Sửa số chỉ là giảm đi ít nhiều các bất lợi, làm tăng thêm ưu điểm cho cuộc đời. Sự thay đổi này cũng không sâu rộng như việc cải số, không phải đổi trắng thay đen, mà chỉ làm đậm lại đôi chút mà thôi.
Việc cải hay sửa còn tùy thuộc vào ý chí mạnh hay yếu và tài sức lớn hay nhỏ. Ý chí mạnh, tài sức cao có thể giúp cá nhân hoán cải, trong khi với một ý chí và một khả năng trung bình, con người chỉ sửa đổi giới hạn số kiếp của mình mà thôi.
Ngoài ra, còn phải tính đến áp lực của hoàn cảnh. Đối với một hoàn cảnh quá khó khăn, dù chí lớn, tài cao, con người chỉ hy vọng sửa hơn là cải. Trái lại, trong tình huống bình thường hay thuận lợi, chí và tài đó có thể cải được khá dễ dàng.
Dù phân biệt như thế, song đôi lúc giữa cải và sửa số, chỉ khác nhau ít nhiều, hơn kém, chưa kể ý muốn của con người lúc đó: có khi họ chỉ muốn sửa, có khi họ hy vọng cải, tùy theo sự cân nhắc nhu cầu, đo lường cục diện. Vấn đề có tính cách chủ quan, tức là thay đổi tùy sự khôn ngoan, bản lĩnh và đảm lượng của mỗi người.
Xu hướng hiện diện của việc cải sửa
Nói đến cải hoặc sửa bao giờ cũng ngụ ý rằng làm cho người thiện hơn, làm cho số kiếp tốt hơn để được thụ hưởng lâu bền hơn, làm giảm cái xấu, cái nguy, cái hại cho đời người.
Đứng trên khía cạnh xã hội, việc cải sửa số kiếp cho chính mình theo nghĩa thiện thì không chỉ nhằm mưu lợi cá nhân, bất chấp nhu cầu và quyền lợi của xã hội. Xu hướng nào di hại cho đại chúng hầu như không thuận lợi cho cá nhân một cách lâu dài, thậm chí còn có phản tác dụng.
Cứu cánh đạo đức nói trên không phải do tác giả cảm hứng thêm vào. Nó đã được khoa Tử Vi mô tả và đề cao trong quan niệm phúc đức. Danh từ này còn bao hàm một nội dung rất rộng rãi, bao gồm phúc mộ (lợi địa về mồ tả tổ tiên), phúc tộc (sự phong túc của dòng họ), phúc tụ (sự đoàn tụ của quyến tộc), và phúc thiện (sự hưng thịnh hướng thiện). Chính vì nội dung bao quát đó nên tác dụng của cung Phúc rất rộng rãi. Đó là chưa kể các công đức do mình kiến tạo trong hiện kiếp, cũng góp phần xây dựng kiếp số hiện tại. Những ví dụ trên cho thấy khoa Tử Vi hàm chứa một xu hướng đạo đức được đánh giá rất cao. Chính vì thế nên việc cải sửa số mệnh phải được hiểu theo một nghĩa đạo đức, tức là cải thiện người cá nhân, đồng thời cải thiện xã hội bằng cách sửa người sửa đời.
Đến đây ta mới hội đủ các tiền đề để bước vào mục phương thức cải sửa số mệnh. Có tất cả 4 tiền đề:
- Việc cải sửa số mệnh trong khuôn khổ của định nghĩa tiền định tương đối, trong hoàn cảnh khả thi.
- Việc cải sửa số mệnh nhằm tạo thêm hạnh phúc cho con người, hiểu theo ý nghĩa quân bình giữa ý muốn và tài năng. Việc cải sửa số mệnh chỉ đặt trong điều kiện riêng biệt của mỗi người, tùy theo thân phận và hoàn cảnh của họ, không lấy một mẫu mực điển hình nào làm tiêu chuẩn.
- Việc cải sửa số mệnh vừa nhằm tạo thêm hạnh phúc cho con người, hiểu theo sự quân bình giữa ý muốn và tài năng.
- Việc cải sửa số mệnh vừa nhằm cải thiện cá nhân vừa cải tạo xã hội cùng một lúc.
Đó là 4 khuôn khổ trong đó chúng ta thử cứu xét một phương thức cải, sửa số mệnh. Phương thức này căn cứ trên việc tăng cường các yếu tố liên quan đến việc cải sửa số mệnh, tựu chung gồm có: ý chí, khả năng, trí và đức, áp dụng cho cả 2 trường hợp cải và sửa.
Phải hướng nỗ lực vào ý chí
Ý chí ở đây chẳng những là ý muốn mà còn là quyết tâm cải sửa.
Không có ý muốn cải sửa, số phận sẽ không mảy may tiến bộ, hoặc sẽ biến chuyển theo sự ngẫu hợp của hoàn cảnh thay vì theo sự định hướng của con người.
- Không có quyết tâm, con người không dấn thân vào hành động ngay từ đầu, hoặc dễ bỏ dở nửa chừng, nhất là khi gặp khó khăn, trở ngại và thất bại.
Điều kiện cần và đủ là ý chí đó phải mạnh mẽ và lâu bền.
- Ý chí có mạnh thì động lực thúc đẩy mới mạnh, động lực có mạnh thì mới đủ làm cuộc cách mạng về số mệnh.
- Ý chí mạnh mới tạo cho con người sự can đảm dấn thân và niềm tin tưởng, sự hy vọng cần thiết. Ai mà mất niềm tin, ai không còn hy vọng tất sẽ mất ý định cải sửa và không còn can đảm, bền chí bám mục tiêu.
- Ý chí còn phải mạnh mới thúc đẩy việc phát triển khả năng theo kịp ý muốn và chuyển hướng vào việc cải tổ.
- Ngoài ra, ý chí mạnh còn phải bền mới giúp con người khắc phục các đối lực của hoàn cảnh (khó khăn, trở ngại) và kiên trì theo đuổi mục tiêu dù gặp thất bại. Bằng không, ý chí sẽ bị cùn nhụt, bị lụi bại. Hậu quả là cá nhân sẽ bỏ cuộc, phó mặc cho thời cuộc đưa đẩy.
Phải hướng nỗ lực vào khả năng
- Khả năng ở đây là tài sức, tự lực vật chất và tinh thần giúp con người đạt mục tiêu.
- Người có ý chí mà thiếu khả năng sẽ không thay đổi được gì trong số kiếp. Nếu ý muốn quá cao mà sức vóc không đủ thì dễ thất bại, hoặc chỉ sửa mà không cải được.
- Một ý chí mạnh là động lực cần có để phát huy khả năng. Nhưng khả năng không thể đồng hóa với ý chí. Chí là cái mình muốn đạt tới, sức là điều mà mình có thể đạt được. Thông thường, việc mà mình muốn đạt và việc mình làm được không phải lúc nào cũng ăn khớp với nhau.
- Vì vậy, cần phải trau dồi và tận dụng khả năng cho tương hợp với ý chí. Kẻ muốn mà sức ít là kẻ tham hay là kẻ điên. Trái lại, người thừa sức mà muốn ít là người dại. Hạnh phúc con người tùy thuộc muốn sao cho vừa sức, đồng thời biết trau dồi tài sức cho theo kịp ước muốn.
- Khả năng phải được mang ra thi thố với hoàn cảnh để có dịp trắc nhiệm với những thử thách, để rút tỉa kinh nghiệm bao giờ cũng hết sức cần thiết cho việc vật lộn với trường đời. Kinh nghiệm càng dồi dào, con người càng có thêm triển vọng, ý chí vì thế cũng thêm củng cố, tài sức do đó mà thêm tiến bộ. Việc cải sửa số mệnh nhờ các điều kiện kể trên sẽ có thêm cái trớn dễ dãi.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc
