Bài tổng quan
Đại cương về Kinh Dịch, từ Phục Hy đến Khổng Tử
Một con long mã hiện trên sông Hoàng Hà, một con rùa thần hiện trên sông Lạc — từ hai điềm lạ ấy, năm vị thánh tổ nối nhau suốt sáu mươi thế kỷ mới hoàn tất được một bộ Kinh Dịch. Trần Đoàn chỉ là người đến sau cùng, mượn cỗ sách ấy để bày ra khoa Tử Vi...
Mục lục · 1 phần
Đại cương về Kinh Dịch
Kinh Dịch theo như còn lưu cho đến nay là một bộ sách gói ghém hết kho tàng tư tưởng và văn minh Trung Hoa, kết tinh từ 62 thế kỷ, tức là từ thế kỷ 44 trước Tây lịch cho đến thế kỷ 18. Kinh Dịch như vậy hẳn không phải là tác phẩm của 1 người, cũng không phải của 1 thời đại mà là công trình đóng góp vĩ đại và liên tục của hàng trăm tác giả Trung Hoa đã vun bồi vào nền tảng tiên khởi của 5 thủy tổ dịch học.
Thật vậy, học giả Trung Hoa viết rất nhiều về Kinh Dịch. Vào đời nhà Thanh, Hoàng Đế Khang Hi đã cho sưu tập hết các pho sách chú giải và phát huy Dịch lý từ đời Chu đến đời Thanh. Người ta quy tụ ước tất cả 158 bộ gồm 1762 quyển có tác giả hẳn hoi và 8 bộ gồm 12 quyển không có tác giả và niên đại. Nếu ta xem công trình sưu tập này là đầy đủ thì có đến 166 tác giả Trung Hoa đóng góp kiến giải vào pho sách căn bản tiên khởi cử 5 thủy tổ Dịch Kinh. Đó là Phục Hy, Hạ Vũ, Văn Vương, Chu Công và Khổng Tử, được người đời xem như 5 thánh tổ khai sáng, khai triển và kiện toàn lý thuyết cơ bản của Kinh Dịch, trên đó 166 tác giả về sau luận thêm và ứng dụng cho thời đại mình.
Vì đây là kho sách có ảnh hưởng hết sức to lớn đối với văn hóa Trung Hoa cho nên các dân tộc khác như Cao Ly, Nhật Bản, Mông Cổ, Mãn Châu, Việt Nam và cả nhiều học giả Tây phương đều có nghiên cứu và chú dịch. Riêng ở Việt Nam, vì chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Trung Hoa, cho nên Kinh Dịch cũng được khảo cứu khá cặn kẽ qua các sáng tác của Lê Quý Đôn, Ngô Dương Đình, Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Nguyễn Mạnh Bảo, Bửu Cầm, Lương Kim Định, Nguyễn Hữu Lương, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê.
Các học giả Đông Tây đều so sánh Kinh Dịch như Thánh Kinh (Bible), le Coran... vì tầm ứng dụng của Kinh Dịch phủ trùm hầu hết các đặc thái chính yếu của nền văn minh Trung Hoa. Theo Trịnh Tiều, có đến 16 môn học được suy diễn từ Kinh Dịch: truyện học, pháp học, chương cú học, đồ học, số học, sấm vĩ học... cũng được suy diễn từ Kinh Dịch, những phát minh dụng cụ sản xuất, hình thức tổ chức gia tộc, luân thường đạo lý, nguyên tắc vận dụng chính trị, nghi thức tế lễ, thiên văn, địa lý, dịch, tượng, toán, số, âm nhạc, nông nghiệp, mục súc, quân sự của Trung Hoa. Hầu hết các vương triều Trung Hoa đều có đặt ra bộ phận nghiên cứu Dịch học, dưới quyền trông nom của các quan Thái bốc, tức là vị bốc sư cao nhất, sử dụng các quy tắc dịch lý để khuyến cáo chính sách quốc gia, tiên đoán điềm tượng được đề ra đường lối hành động cho vua chúa mô phỏng thi hành. Ai khuyến cáo sai có thể bị cách chức. Xem thế người Trung Hoa đã tin tưởng và đã ứng dụng Kinh Dịch vào quốc sự và vào phàm sự trên một quy mô rất tổng quát.
Nguồn gốc Kinh Dịch
Có rất nhiều truyền thuyết về nguồn gốc Kinh Dịch: thuyết thì nói có từ đời nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu; thuyết thì nói có từ trước nữa vào thời cổ đại Tam Hoàng (Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế) lưu truyền lại cho nhà Hạ, Thương, Chu.
Theo sách Chu lễ thì nhà Chu có quan Thái bốc coi 3 loại dịch: Liên sơn dịch, tức của nhà Hạ (2205-1776), lấy quẻ Cấn làm chủ, sở dĩ gọi là Liên sơn vì danh từ này chỉ mấy từ núi bốc ra; Quy tàng dịch, tức dịch của nhà Thương (1776-1150), lấy quẻ Khôn làm đầu, Quy tàng ngụ ý vật từ đất sinh ra rồi quay trở về đất; Chu dịch, tức là dịch của nhà Chu (550-250), lấy quẻ Càn và quẻ Khôn làm cửa ngõ biến hóa cho Âm Dương. Chu ở đây nghĩa là chu lưu, biến hóa khắp vũ trụ.
Một thuyết khác cho rằng Dịch có trước ba nhà Hạ, Thương, Chu, dựa vào sự khám phá của Mao Tiêm. Ông này nhân dịp phụng sứ kinh Tây đến Đường châu tìm được trong dân gian 3 bộ sách gọi là "Tam Phần Thư" bao gồm có Sơn phần, Khí phần và Hình phần. Mỗi dịch đều có 8 quẻ, dưới mỗi quẻ có thêm 8 quẻ khác, vị chi là 64 quẻ, mỗi quẻ mang một tên gọi riêng, nhưng chung quy cũng là tên khác của 8 quẻ Kiền, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài mà thôi. Như vậy, sự khám phá bất ngờ của Mao Tiêm khiến cho người ta nghĩ rằng ba đời Hạ, Thương và Chu chỉ ôn lại tam phần thư mà thôi chứ không sáng tác được quẻ nào.
Cách thức làm Kinh Dịch từ Phục Hy đến Khổng Tử
Cái gọi là Kinh Dịch ngày nay là công trình đóng góp của 5 thủy tổ, người thì khai sáng ý niệm, người thì dẫn lý, cắt nghĩa quẻ, người thì kiện toàn triết lý cho thành văn. Cho đến giờ, không còn ai phủ nhận rằng chính vua Phục Hy đã vạch ra quẻ. Còn cách ngài làm thế nào thì truyền thuyết cho rằng vua Phục Hy (4477-4363) nhân dịp thấy con long mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà, trên lưng nó có vẽ từ số 1 đến số 10, bố trí như một bức đồ, ông bèn phỏng theo những đồ hình đó mà vạch ra 8 quẻ. Ông dùng gạch liền để biểu thị lẽ Dương, gạch đứt biểu thị lẽ Âm. Dương là lẻ, Âm là chẵn. Các gạch Âm, Dương này gọi chung là hào. Cứ 3 hào chồng lên nhau thì hợp thành 1 quẻ (hay quái). Sự chắp nối đưa đến bát quái, mang hình dáng và tên gọi như sau: Kiền là trời, Đoài là chằm, Li là lửa, Chấn là sấm, Tốn là gió, Khảm là nước, Cấn là núi, Khôn là đất.
Tám quẻ xếp với nhau theo hình thứ tự kể trên gọi là "Tiên Thiên Bát Quái": đó là văn tự đầu tiên của Trung Hoa, được ghi bằng biểu tượng hào, vì lúc bấy giờ chưa có chữ viết. Sau đó, vua Phục Hy ghép 2 quẻ làm 1, chồng lên để tạo ra 64 quẻ kép, mang tên gọi riêng, và có ý nghĩa riêng. Tóm lại Tiên Thiên Bát Quái được vẽ phỏng theo dạng bức đồ trên lưng long mã xuất hiện ở Hoàng Hà. Thành thử nguồn gốc bát quái được gọi là Hà đồ (bức đồ trên sông), có ghi nhiều chấm số và nét. Nhưng Tiên Thiên Bát Quái của Hà đồ chỉ là một bộ phận của sách Dịch. Bộ phận thứ hai là Lạc thư cũng xuất hiện từ truyền thuyết mà ra.
Truyền thuyết cho rằng vua Hạ Vũ (2205-2163 trước Tây lịch), lúc khai thông 9 con sông lớn để tránh lụt cho dân, có dịp thấy một con rùa thần xuất hiện trên sông Lạc, trên mai có một số chấm, dưới có 1 chấm. Ngài bèn mô phỏng theo đó mà xếp đặt thành 9 mục, gọi là Cửu Trù Hồng Phạm. Bức đồ trên mai rùa được gọi tục là Lạc thư (ngụ ý nói trời gửi cho đồ thư tại sông Lạc). Còn Hồng Phạm là phép lớn bao gồm 9 loại, 9 điều hay 9 mục liên hệ đến các vấn đề triết lý, chính trị, xã hội, giáo dục: trù thứ 1 là ngũ hành; trù thứ 2 là sử dụng cẩn trọng 5 việc; trù thứ 3 là tận tâm làm 8 chính sách; trù thứ 4 là áp dụng 5 điều trong thiên văn để xác định 4 mùa; trù thứ 6 là trau dồi 3 đức; trù thứ 7 là sử dụng sáng suốt phương pháp chứng giải những điều hoài nghi; trù thứ 8 là suy niệm để ứng dụng những trưng triệu về thời tiết; trù thứ 9 là hứa cho 5 điều hạnh phúc và dọa dùng 6 điều tai họa cơ cực.
Như thế cửu trù hồng phạm là nội dung thứ 2 của phần Dịch dang dở của Phục Hy. Nội dung thứ 3 là phần đóng góp của Văn Vương đời Tây Chu (1144-1142 trước Tây lịch). Ông này lúc bị giam ở ngục Dữu Lý đã diễn lại các quẻ và cắt nghĩa toàn lý của quẻ, dịch nghĩa cát hung trong mỗi quẻ. Phần diễn dịch này gọi là Thoán từ. Ông còn phỏng theo số Hà Đồ và số Lạc Thư và Tiên Thiên Bát Quái của vua Phục Hy để thiết lập một đồ hình cũng phỏng theo Bát Quái gọi là Hậu Thiên Đồ, hay "Hậu Thiên Bát Quái" mô tả một giai đoạn mới của sự tiến hóa hình thành trời đất muôn loài từ vô hình sanh hữu hình. Đây là một siêu phẩm về toán lý học.
Nội dung thứ 4 của sách Dịch còn được bổ túc bởi công trình của người con Văn Vương là Chu Công Đoán. Ông đi sâu hơn và cắt nghĩa từng hào trong 64 quẻ. Phần giải này gồm các hào gọi là Hào từ, nhờ đó sách Dịch mới rõ ràng, các quẻ mới được sáng tỏ thêm tuy hãy còn thâm áo vì thoán và hào từ quá ngắn, gọn và khúc chiết.
Phải đợi đến Khổng Tử (551-479 trước Tây lịch) san định và bổ túc, Kinh Dịch mới được hoàn bị. Sự đóng góp của Ngài thể hiện trong 10 truyện gọi là Thập dực (dực là cánh chim, Khổng Tử ngụ ý sách Dịch đến Chu Công coi như đủ hình rồi, chỉ cần thêm cánh là xong). Thập dực gồm: Văn ngôn, Soán truyện, Đại tượng truyện, Tiểu tượng truyện, Hệ từ thượng truyện, Hệ từ hạ truyện, Thuyết Quái truyện, Tự Quái truyện thượng và hạ, sau cùng là Tạp quái truyện. Từ khi Khổng Tử tán Dịch của Văn Chương thì các sách Dịch của hai đời Hạ, Thương đều bị lạc hậu. Bởi thế từ Văn Vương về sau, các sách dịch mới bắt đầu mang tên là Dịch, còn trước Văn Vương chỉ mang tên Quái mà thôi. Bộ Kinh Dịch được hoàn tất mỹ mãn chỉ ở đời nhà Chu mà thôi, chớ không phải từ đời Phục Hy, khi chưa có văn tự. Chu Hi giới thiệu Kinh Dịch gồm 12 thiên, 2 kinh và 10 truyện.
Cái dụng thâm sâu của Dịch trong ý niệm của 5 thủy tổ là để cái dụng về giáo dục. Phục Hy đã sử dụng Bát Quái theo dụng đích giáo dục cho nó. Nhưng về sau, vào các đời Hạ, Thương, Dịch trở thành công cụ bói toán mê tín. Văn Vương, Khổng Tử sợ Dịch lạc nghĩa, lạc dụng mới góp từ, chú giải để phản đối bói toán, mang Dịch trở lại cái dụng diễn đức, khai đạo, hiển minh triết lý về vũ trụ và nhân sinh. Vốn trung thành với hoài bão mô phạm, Khổng Tử đã ra công khai Dịch thành sách sư phạm, mang vào đó nhiều tư tưởng sâu sắc của khóa khứ và đương thời.
Nội dung triết lý của Kinh Dịch
Theo nguyên ngữ, chữ Dịch tượng trưng cho loài tắc kè, thay đổi màu sắc theo chỗ ẩn. Nếu triết tự, chữ Dịch có chứa hai chữ Nhật và Nguyệt biểu tượng cho mặt trời và mặt trăng, tức là hai cực trong thời gian xê dịch.
Theo Trịnh Huyền (127-199), chữ Dịch có 3 nghĩa: biến dịch (changeant), bất biến (immuable) và đơn giản (simple), được giải thích như sau: từ chỗ các hiện tượng thiên nhiên và con người thay đổi luôn, dịch là biến đổi. Tuy nhiên, sự biến đổi đó lại theo những nguyên tắc cố định, dịch có nghĩa là biến đổi trong khuôn khổ bất biến. Từ chỗ các định tắc đó không phức tạp, dịch nghĩa là đơn giản.
Toàn thể nội dung bộ Kinh đều xoay quanh ý niệm hiện tượng (phénomène). Triết học Trung Hoa cho rằng việc thiên nhiên và việc nhân thế liên quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy, có thể dựa vào quy tắc biến dịch của vũ trụ để áp dụng cho con người. Phương pháp là dùng cách ghép các quẻ để tiên đoán hiện tượng, sự việc sắp qua và sự việc sắp tới.
Kinh Dịch cắt nghĩa hiện tượng và sự biến sinh trên quy tắc Âm Dương. Về mặt triết lý theo Kinh Dịch, trước hết vũ trụ có thái cực, được xem là nguyên lý tối cao của vạn vật, cụ thể là căn nguyên của vũ trụ. Thái cực là chỉ cái gì vô cực vô chung, tức là không biết có lúc nào và không rõ lúc nào kết thúc, cho nên Chu Đôn Di (1017 – 1073, nhà Tống) dựa vào đó mà gọi Thái cực là Vô Cực (absence de principe). Ông cho Thái cực và Vô cực chỉ là một, gọi Vô Cực khi xét về chất, gọi Thái cực khi xét về chức năng. Học giả Chu Hi (1130 – 1200) đời Tống cũng ngụ ý tương tự, cho rằng Vô Cực là một giải nghĩa để ghép vào Thái cực cho dễ hiểu, ngõ hầu diễn dung được một Thái cực vô chất (immatériel).
Trong Thái cực tiềm phục sẵn 2 khí, hai yếu tố điều hợp gọi là Âm và Dương. Ở trạng thái động, Thái cực sinh ra Dương và kết quả hành động, vào lúc tĩnh thì sinh ra Âm. Chu Hi coi Âm Dương là 2 thể cách (modalités) của vũ trụ, dính liền với Thái cực như một khối bất khả xâm phạm trong nội tạng của mọi vật. Đó là quan niệm cấu tạo tiên khởi của giai đoạn thứ nhất. Định tắc bất dịch (immuable) là định tắc Âm Dương, thể hiện cùng khắp trong vũ trụ. Nếu ngụ hình thì trời, mặt trời, ánh sáng là Dương, đất, mặt trăng, đêm tối là Âm; thể hiện qua thời gian, Xuân, Hạ, Ngày là Dương; Thu, Đông, Đêm là Âm; thể hiện qua nhân loại, cha, vua, chồng, Nam là Dương, con, tôi, vợ, nữ là Âm. Tất cả hiện tượng vũ trụ đều có thể được xếp loại theo 2 thể cách đó.
Ở giai đoạn 2 thì Âm Dương sinh ra Ngũ Hành, tức là 5 chất cơ bản tạo cơ cấu cho vạn vật trong vũ trụ. Ngũ Hành là sự thể hiện của 2 khí Âm Dương trên phương diện vật chất, tượng trưng cho phần thế giới hữu hình của hình nhi hạ học. Dù có các học giả dị biệt nhau về thứ tự ra đời của Ngũ Hành, nhưng tất cả đều đồng thanh chấp nhận có 5 chất (Mộc, Hỏa, Thổ, Kim và Thủy) và cả quy luật sinh khắc của 5 quy luật này. Từ đó người ta tìm cách phổ quát sự hiện diện của Ngũ Hành và quy tắc sinh khắc vào tất cả các lãnh vực, từ lý, số, cho đến chính trị, quân sự, xã hội, kinh tế, văn hóa, y học. Trong các lãnh vực, các yếu tố đều được Âm Dương hóa và Ngũ Hành hóa để giúp giải đoán mọi việc liên hệ trên quy tắc này. Ngũ Hành trở thành cái khung cơ bản cho triết lý Đông phương với mọi sự ứng dụng rất tạp bác của nó kèm.
Nội dung đạo lý của Kinh Dịch
Hầu hết các triết gia Trung Hoa là những nhà đạo đức học. Những đóng góp của họ vào Kinh Dịch, qua việc dẫn xuất các quẻ, có chứa rất nhiều tư tưởng đạo lý rất sung mãn.
Trước hết phải kể tư tưởng hòa hợp với trái đất, điều hợp với thiên nhiên để tìm sự quân bình cần thiết giữa Thiên, Địa, Nhân. Vì vậy, con người, một mặt phải biết quân thắng được với đạo trời, mặt khác, phải biết thích ứng sự tiến hóa của trời đất vào phạm vi của con người: đó là 2 quy tắc "thuận thiên lạc thiên" và "tài chế thiên" nhằm điều hợp với trời đất, tránh được hỗn loạn, vô trật tự.
Tư tưởng thứ 2 là hiểu lẽ trời để biến. Thời được ngụ ý là thời gian và uy thế. Biến là biến dịch. Tính lý Kinh Dịch đòi hỏi phải biến cho đúng thời mới hay. Trong Kinh Dịch quẻ nào cũng có thì của quẻ ấy, công dụng của quẻ nào chỉ là công dụng làm cho đúng thời của quẻ đó. Toàn bộ Kinh Dịch chỉ có chữ thì là bao trùm hết nghĩa. Muốn kịp thời thì phải biến cách, thay đổi. Cả vũ trụ là một biến đổi không ngừng, con người cũng phải biến đổi mỗi ngày một mới.
Tư tưởng thứ 3 là sự dung hòa cương và nhu trong hành động. Hai đức cương nhu không mâu thuẫn vì Dịch học chủ trương phải tùy thời, phải biết biến cách, không cố chấp. Cương là ý nghĩa của quẻ Càn, nhu là ý nghĩa của quẻ Khôn. Quẻ Hằng (nghĩa là lâu dài) bao gồm quẻ Chấn (sấm chủ cương) và quẻ Tốn (gió chủ nhu). Quẻ Tùy cũng có ý nghĩa phải cương và phải nhu. Rõ ràng nhất là câu trích trong Thuyết quái truyện: "Ngày xưa, thánh nhân đặt ra Dịch là để diễn tả cái lý phải thuật tính mạng. Cho nên lập ra đạo của trời thì là Âm và Dương, lập ra đạo của đất thì là Nhu và Cương, lập ra đạo của người thì là Nhân, là Nghĩa".
Tư tưởng thứ 4 là đức trung, chính. Dịch học đề cao phép tùy thời, có lúc nên cương, có lúc nên nhu, nhưng tùy thời mà phải trung chính chớ không được a dua. Trung là không quá nhiều quá ít (trung dung). Chính là ngay thẳng giữ đúng địa vị, nghĩa vụ mỗi người, để cho gia đình và xã hội có trật tự. Có nhiều quẻ nói đến đức trung chính, là hay nhất, được khuyên dùng hơn quẻ tụng, quẻ đồng nhân, quẻ quan, quẻ li, quẻ cấu, quẻ đại hữu. Quẻ mông còn khuyên cả hai đức cương kiện và trung chính, kiện, quẻ sư, quẻ điều sức và quẻ lâm.
Tư tưởng thứ 5 là sự phát huy đức, trí, dũng. Có rất nhiều khuyến cáo trọng đức, sửa đức (quẻ khiêm) trong số các đức này có nhân nghĩa, thành, tín dũng. Ngoài ra, Kinh Dịch cũng đề cao tri thức, cổ võ sự quan sát tìm hiểu vũ trụ. Như vậy ít ra cũng đến đời Hán, tinh thần khoa học đã manh nha trong một số triết gia Trung Hoa rồi, duy tiếc rằng đa số học giả còn nặng đạo lý, không phát huy xu hướng khai trí của Dịch học. Tinh thần khoa học đó còn được phản ánh qua khuyến cáo lợi dụng thiên nhiên (tài chế thiên) cho công ích xã hội.
Nội dung bói toán của Kinh Dịch
Mặc dù Kinh Dịch có chứa triết thuyết, song, ngay từ khởi thủy, sách này được thiên hạ xem vào việc bói toán. Chính có lẽ nhờ lẽ đó mà Kinh Dịch thoát khỏi họa tai của Tần Thủy Hoàng.
Việc bói toán trong thời cổ đại là một hiện tượng rất phổ cập. Dân tộc Trung Hoa, vốn chịu ảnh hưởng quá nặng của thiên nhiên, gánh chịu nhiều điều thiên tai và chiến tranh hầu như mang một tự ti mặc cảm trước Trời Đất, tự cho rằng trời phạt dân chúng vì các vua chúa không hành sự theo đạo trời. Người ta tìm cách thuận thời để né tránh tai họa. Tín ngưỡng này không chỉ phổ cập trong dân gian mà còn được chính quyền cùng chia sẻ. Vương triều nào cũng đặt ra quan Thái bốc để nghiên cứu hiện tượng, đoán điềm trời, suy ra đường lối chính sách quốc gia cho vua chúa áp dụng ngõ hầu dung hạp với đạo trời. Vai trò của Thái bốc ngày càng quan trọng: muốn làm cái gì người ta cũng hỏi trước trời, qua việc bói quẻ, đoán điềm, giải mộng của Thiên Tử. Bói toán như thế có 3 hiện tượng tâm lý, chính trị và giáo dục.
Về mặt tâm lý, người ta tin rằng bói toán nhằm tạo sự cảm thông với trời đất, từ đó trấn an được hoang mang của dư luận, của cá nhân. Về mặt chính trị, việc bói toán có tác dụng tạo niềm tin cần thiết của dân vào chính quyền của chính phủ. Và nhờ bói toán dân chúng coi như được giáo dục để vào khuôn phép, diễn xuất từ thiên nhiên, từ vũ trụ.
Vì sự lan tràn của tín ngưỡng đó, nên phong thái Dịch học có 2 xu hướng: một xu hướng của nho gia quan niệm Dịch học như kiến văn triết lý, đạo đức, một xu hướng bói toán của các thuật số xem Dịch học là phương tiện để biết cát hung qua sự lý đoán luật biến hóa của vũ trụ và con người. Xu hướng sau ngày càng mạnh. Người ta suy diễn từ Kinh Dịch những sấm thư và vĩ thư để bói. Cả một môn phái gọi là Tượng số học cũng được thành lập hẳn hoi trong đó Đổng Trọng Thư (đời Hán) và Trần Đoàn (đời Bắc Tống) là những đại biểu tiên khởi nhiệt thành và lỗi lạc nhất.
Xét về nội dung học phái Tượng số, có thể nói rằng đây là khoa toán đồng thời là khoa triết về số (philosophie des nombres) và về tượng (signes, symboles). Tượng là những dấu hiệu biểu hiện sự vật và luật biến hóa của nó. Ví dụ gạch liền chỉ dương, gạch đứt chỉ âm, lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành biến sinh được làm căn bản để ghi các tượng và giải thích cách ghi dựa theo quy tắc biến hóa, các tượng ghép đôi với nhau tạo thành quẻ mang một ý nghĩa rõ ràng về nhân sinh, về sự vật.
Số là các con số, được phỏng theo bố trí của Hà Đồ, Lạc Thư của Phục Hy và Hạ Vũ cùng với thuyết Âm Dương Ngũ Hành để giải thích ý nghĩa từng số và sự kết hợp các số. Ví dụ như số 1 chỉ trời, số 2 chỉ đất, số 3 là chính vị của dương, số 9 là lúc biến của dương, số 2 là Âm mới sinh, số 4 là chính vị của Âm, số 6 là lúc biến của Âm...
Phái tượng số còn đặt lại phương vị cho Bát Quái, như quẻ Khảm ở phương bắc vì Khảm là Thủy, phương bắc thì lạnh, quẻ Ly ở phương Nam, tượng trưng cho Hỏa, nóng. Ngũ Âm, ngũ vị, ngũ tạng đều được Ngũ Hành hóa. Tinh tú trên trời cũng được gán cho đặc tính Âm Dương và Ngũ Hành, tùy theo ngày giờ tháng năm sẽ ứng cho vận mệnh con người.
Tóm lại, phái học Tượng số ứng dụng số để đoán đạc cõi âm hình, ứng dụng tượng để tìm ý nghĩa của sự vật và tiên đoán tương lai của con người, của triều đại, của vua chúa... Thoán từ và hào từ của Văn Vương và Chu Công, cùng với 3 chương 9, 10, và 11 trong Dịch Hệ Thượng, được dùng làm điển cho việc bói toán.
Có điều lạ lùng là tinh thần bói toán này lại không mảy may tham chiếu siêu linh hay thần quyền để tiên đoán cát hung mà chỉ lấy lý để suy, lấy luật tất biến hóa và định tắc mâu thuẫn, nhân quả trong vũ trụ mà tìm hiểu sự việc. Có lẽ vì thế nên gọi là lý số học.
Đổng Trọng Thư đời Hán là một kiện tướng của Tượng số học. Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê đã nhận xét rằng Đổng Trọng Thư bao gồm vũ trụ vạn vật trong một hệ thống Âm Dương ngũ hành khá chặt chẽ, thần tình, nhiều người phải nhận nó là kỳ dị, có tổ chức đàng hoàng, như một lâu đài kiến trúc, có cửa vào cửa ra, có tiền đường hậu sảnh, lối đi sáng sủa, ngăn nắp, chỉ tiếc lâu đài đó hoàn toàn xây dựng trên một không trung, không có một cơ sở thực nghiệm, một điều lạ lùng là cái học Tượng số đó đến đời Tống càng phát huy thêm nhờ một đạo sĩ, Trần Đoàn rồi sinh ra môn học như Tướng, Số (số Tử Vi, tử hình, hà lạc). Sách của Nguyễn Hữu Lương có nhận xét về Trần Đoàn như sau: "Đến đời Tống, ông tổ của lý học ra đời: Trần Đoàn, một đạo gia kiêm nho gia. Dương Đạt Chi, tác giả cuốn Trung Quốc Đại Học Sử Đề Yếu giới thiệu: thủy tổ của Lý học là Trần Đoàn, đời Bắc Tống. Tuy nhiên cái học của Trần Đoàn còn là cái học mạt lưu của Đạo gia. Học thuyết này trước chuyển cho Xung Phóng, Mục Tu, sau chuyển đến Chu Đôn Di, Lý Chi Tài, và sau nữa đến Thiệu Ung, Trình Hạo, Trình Di. Học thuyết này còn tham bác cả Thiền Tông của Phật giáo, do đó Tam giáo hợp lưu và Lý học đản sinh. Và như vậy, từ Bắc Tống đến Nam Tống, các danh gia Lý học trong 4 phái Liêm, Lạc, Quan, Mân đều coi như môn đệ của lão tổ Trần Đoàn."
Sự xuất hiện của phái học Tượng số vì thiên về tai dị, quái dị, lịch số, luyện đan, nên bị phái học nho gia công kích, gán cho danh hiệu "bàng môn tả đạo". Dù sao học phái Tượng Số cũng đã gây lên một ảnh hưởng lớn trên niềm tín ngưỡng của dân tộc Trung Hoa, có số lượng môn đệ khá đông qua nhiều thời đại. Hai môn học này còn được lưu truyền rộng lớn cho đến nay là khoa Tử Vi và khoa Tượng số, được coi là sự đóng góp đặc sắc của học phái này cho khoa học nhân văn Á Đông.
Toàn thể Phụ lục về Kinh Dịch trên đây được viết phỏng theo những tài liệu tham khảo sau: Đại cương triết học Trung Quốc của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Cảo Thơm xuất bản, Saigon 1964; Đại cương triết học sử Trung Quốc của Phùng Hữu Lương, Đông Hưng Học phái ấn hành, Saigon 1972; Chu Dịch, Sào Nam Phan Bội Châu, Nhà Sách Khai Trí, Saigon 1969; Dictionnaire des œuvres de tous les temps et de tous les pays, Laffont-Bompiani, Société de dictionnaires et encyclopédies, Paris, 1959.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc
