Bài tổng quan
Phương pháp tổng hợp và phương pháp động của khoa Tử Vi
Một cung không nói lên được con người, dù cung đó có bao nhiêu sao tốt đi nữa — phải gộp đủ mười hai cung mới ra một chân dung trọn vẹn. Nhưng chân dung ấy cũng không đứng yên: từ Mệnh sang Thân, từ đại hạn xuống đến thời hạn, cả lá số cứ chuyển động không ngừng...
Phương pháp tổng hợp của khoa Tử Vi
Giữa phân tích và tổng hợp sự liên quan rất chặt chẽ. Sự phân tích cốt thu thập dữ kiện cho việc tổng hợp. Phân tích là một đoạn đường bắt buộc để tiến đến tổng hợp. Con người chỉ được mô tả đầy đủ và toàn diện trong phương pháp tổng hợp mà thôi.
Sở dĩ khoa Tử Vi đề cao tổng hợp là vì khoa này có một quan niệm hết sức độc đáo về con người. Quan niệm này có thể được tóm tắt như sau: con người trong khoa Tử Vi là con người toàn diện (l'homme dans sa totalité) và là con người trong môi trường sinh hoạt (l'homme dans son milieu). Quan niệm toàn diện đòi hỏi sự tổng hợp. Đối với khoa Tử Vi, con người không phải chỉ có tay, chân, mũi, miệng hoặc cơ thể nói chung mà là cơ thể phối hợp với tâm hồn. Xem con người qua một yếu tố duy nhất chẳng khác nào như anh mù sờ voi mà chỉ mó có một bộ phận. Khoa Tử Vi góp nhặt hết các yếu tố, kết tụ hết các mảnh nhỏ để hình dung đối tượng. Chính vì vậy cho nên một cung không đủ diễn tả hết con người: phải tổng hợp hết 12 cung, phải nắm toàn thể lá số mới có một tổng hợp nhất trí. Mỗi cung, ngoài ý nghĩa cơ hữu, còn có liên đới với nhau, trong một bối cảnh chung. Khoa Tử Vi không hề theo phương pháp phân tích phiến diện. Giá trị của khoa này chính là ở chỗ tổng hợp. Giá trị của người giải đoán cũng bắt nguồn từ khả năng tổng hợp đó.
Không bị chiết mẻ, con người trong khoa Tử Vi cũng không bị bóc ra khỏi khung cảnh sinh hoạt: nó được đặt rất đúng chỗ, được nghiên cứu trong chỗ đứng cố hữu của nó. Sự phân tích các cung cho thấy con người sống trong nhiều môi trường khác nhau: gia đình, xã hội, nghề nghiệp, sinh kế, tiền kiếp... Mỗi khung cảnh hé lộ vài đặc điểm của cá nhân. Nhưng, phải tổng hợp hết các môi trường sinh hoạt thì mới thấy rõ chân tướng con người.
Lẽ dĩ nhiên, khi tổng hợp, ta chỉ lột được những nét chính của con người và đời người, được nhìn một cách toàn bộ, toàn diện, toàn thời gian. Đó là cách nhìn đại quan (macro-vision), nghĩa là đứng xa nhìn vào. Nhãn quan đó chỉ mô tả đại cương quyết con người và cuộc đời. Tuy nhiên, đó là những đường nét quyết định vì nó đóng khung các chi tiết khác. Nói như thế có nghĩa là các chi tiết về cá tính và cuộc đời biến thiên trong khuôn khổ đại cương đó, không đi nghịch lại nền nếp đó. Nói như thế có nghĩa tổng hợp là hàm số của phân tích và sự phân tích bao giờ cũng phải giúp tiến đến tổng hợp.
Khảo hướng của khoa Tử Vi bao giờ cũng là tập đại thành. Kết luận của Tử Vi bao giờ cũng là sự đúc kết các yếu tố ảnh hưởng. Đó là lý do tại sao khoa Tử Vi cao siêu hơn những khoa học nhân văn Tây phương. Tây phương, khi khảo cứu con người, chỉ dám kết luận về cá tính, không dám nói đến vận mệnh (thành bại, giàu nghèo, thọ yểu). Nền nhân học Tây phương đứng lại nơi khoa tâm tính (caractérologie), không tiến xa hơn nữa. Trái lại, khoa Tử Vi Đông phương, không những nói đến cá tính mà còn nói đến chung cuộc con người. Sở dĩ khoa Tử Vi táo bạo như thế là vì phương pháp tổng hợp giúp cho khoa này suy diễn được hậu quả của cá tính đó trên cuộc đời. Chỉ khi nào người xem số nói được vận mệnh một cá nhân thì mới đạt đến trình độ tổng hợp đúng mức. Những khám phá về cá tính trong một lá số chỉ là giai đoạn sơ khởi của tổng hợp. Nó phải được tiến xa hơn, tức là phải suy diễn ý nghĩa vận mệnh của cá tính, thay vì chỉ dừng lại ở ý nghĩa tính tình. Tóm lại, khảo hướng tổng hợp của khoa Tử Vi đòi hỏi người xem số phải xác định về cuộc đời, về vận mệnh, về sự thành bại thịnh suy, về sự giàu nghèo, về sự thọ yểu, về nếp sống gia đình, nghề nghiệp, xã hội của một cá nhân. Đó là những vấn đề lớn của nhãn quan tổng hợp, những nét căn bản của phương pháp đại quan, đó là đối tượng của khoa Tử Vi. Khoa này không những là khoa tâm tính mà còn là khoa vận mệnh. Nền nhân học Á Đông khó ở chỗ đó, nhưng cũng cao thâm ở chỗ đó.
Đến đây, vấn đề đặt ra là phương pháp tổng hợp đó thể hiện ở đâu? Có năm lãnh vực rõ rệt nhất của khảo hướng tổng hợp: tổng hợp trong ý nghĩa liên đới giữa các cung; tổng hợp trong tương quan Mệnh, Thân và Phúc; tổng hợp trong tương quan Mệnh, Phụ, Bào; tổng hợp trong cơ cấu của Phúc Đức; tổng hợp trong tương quan giữa Quan, Di, Nô.
Ý nghĩa liên đới giữa các cung
Lá số Tử Vi có 12 cung. Mỗi cung mô tả một khía cạnh của con người. Nhưng, mỗi cung không bao giờ có ý nghĩa độc lập và riêng rẽ. Ý nghĩa mỗi cung liên đới mật thiết với 11 cung còn lại. Đó là nói chung.
Còn nói riêng thì bất cứ cung nào cũng chịu ảnh hưởng của cung xung chiếu, 2 cung tam chiếu, 2 cung tiếp giáp và 1 cung nhị hợp. Tính ra có đến sáu cung chi phối đồng loạt. Điều này sẽ được giải thích rõ hơn trong chương "Nhận định về các cung".
Tương quan Phúc, Mệnh và Thân
Giữa 3 cung này, sự liên hệ rất chặt chẽ, ảnh hưởng đến tất cả cung còn lại trong cuộc đời con người. Ba cung này là ba nền tảng căn bản của con người và đời người.
Tương quan giữa 3 cung Phụ, Mệnh, Bào
Trong bất cứ lá số nào, ba cung Phụ, Mệnh và Bào cũng nối tiếp nhau.
Hai cung Phụ và Bào tượng trưng cho khung cảnh gia đình, nơi mà con người chịu ảnh hưởng mật thiết, đặc biệt là trong suốt thời gian sống chung với cha mẹ, anh chị em.
Con người được khoa Tử Vi kết hợp với gia đình chớ không tách biệt với gia đình. Lý do thứ nhất là vì cá nhân bao giờ cũng thừa hưởng huyết thống và tính nết di truyền của cha mẹ. Lý do thứ hai, là ít ra cũng trong tuổi thiếu niên, cá nhân không sống riêng rẽ, không thoát ly gia đình. Vị trí con người được khoa Tử Vi đặt rất đúng chỗ, môi trường sống của cá nhân được diễn tả rất thích đáng.
Vì có sự liên hệ đó, nên trong việc đoán số, chúng ta không nên coi nhẹ mối liên lạc thân tộc với cha mẹ và với anh chị em mà phải lồng cá nhân vào bối cảnh gia đình.
Tương quan giữa 3 cung Phúc, Tài, Di, Phu Thê
Nằm trong khung cảnh gia đình, cá nhân cũng đồng thời nằm trong 3 bối cảnh: xã hội (cung Di), gia đạo (cung Phu Thê), và sinh kế (cung Tài). Hạnh phúc con người tùy thuộc vào ba loại hạnh phúc đó. Như vậy, hạnh phúc là một ý niệm tổng hợp phong phú. Cung Phúc được xem như một cung hết sức quan trọng, đối với phái nam cũng như phái nữ, nhờ ở cách cấu tạo của nó trong bối cảnh của thời thế, của gia đạo và của sinh kế. Nhờ mối tương quan với 3 cung kể trên, cung Phúc và cái phúc không có gì huyền bí và linh thiêng mà trái lại có một nền tảng nhân bản vững vàng và súc tích.
Tương quan giữa 3 cung Quan, Di, Nô
Ngay bối cảnh xã hội, vì tầm ảnh hưởng rộng lớn của nó, càng được khoa Tử Vi tổng hợp một cách thích đáng khi chi tiết hóa nó thành ba lãnh vực hỗ tương mật thiết: lãnh vực xã hội nói chung, do cung Di mô tả, chỉ thời thế, hoàn cảnh sinh hoạt đối ngoại; lãnh vực nghề nghiệp do cung Quan mô tả; lãnh vực nhân sự trong môi trường đối ngoại, do cung Nô mô tả, chỉ bốn hạng người gần gũi nhất với mình: đó là bạn bè, tôi tớ, thuộc quyền và nhân tình.
Cả 3 cung này được bố trí theo thế tiếp giáp và vì đó phải được cứu xét song song mới có thể hình dung ngoại cảnh một cách cụ thể.
Tóm lại, tinh thần tổng hợp là một khảo hướng độc đáo của khoa Tử Vi, khoa này không nhìn con người dưới một khía cạnh duy nhất. Sự bố trí các cung, cách cấu tạo ý nghĩa cho một cung, sự liên đới giữa các cung cho thấy khoa Tử Vi đã lưu tâm khảo sát con người qua nhiều tư cách cùng một lúc:
- Tư cách của người con trong gia đình (tương quan Mệnh - Phụ)
- Tư cách anh chị em trong gia đình (tương quan Mệnh - Bào)
- Tư cách vợ, chồng (tương quan Mệnh/Thân - Phu Thê)
- Tư cách một phần tử xã hội (tương quan Mệnh - Di)
- Tư cách của người bạn, người tình, người chủ (tương quan Mệnh - Nô)
- Tư cách của một đồng nghiệp (tương quan Mệnh/Thân - Quan)
- Tư cách của cha, mẹ (tương quan Mệnh/Thân - Tử)
Các giềng mối can thường, các đạo phụ tử, phu thê, huynh đệ, bằng hữu, ngoại hôn, tôn ti đều được mô tả. Con người trong khoa Tử Vi là một tổng hợp các đạo can thường đó.
Mặt khác, vì muốn tổng hợp, khoa Tử Vi cũng không chịu bóc con người ra khỏi khung cảnh sinh hoạt. Khoa này nghiên cứu con người đang sống, trong khung cảnh sống, trong sự liên đới chặt chẽ với dòng họ, với gia đình, với xã hội, với nghề nghiệp. Đây là quan niệm con người trong tập thể, được tổng hợp từ tập thể, không phải là con người riêng biệt và độc lập với chung quanh. Đây là một nhãn quan chính xác, phong phú và cụ thể, nhìn con người toàn diện, toàn cục, toàn đời (prendre l'homme dans sa totalité, dans son intégralité, dans sa vie).
Nhìn con người trong tổng thể là một chuyện; nhìn con người như một thực thể sống, không ngừng đổi thay theo hoàn cảnh, lại là một đòi hỏi khác của khoa Tử Vi.
Phương pháp động của khoa Tử Vi
Khoa Tử Vi không khảo sát người chết, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Theo nghĩa đen, khoa Tử Vi không tìm hiểu tử thi. Theo nghĩa bóng, khoa Tử Vi chỉ nghiên cứu con người sống ở ngoài đời, sống chung với đời, theo phong hóa của xã hội, tức là có vợ chồng, có con cái, có bạn bè, nói khác đi con người với tất cả thất tình lục dục, bị chi phối bởi thất tình lục dục, không trốn tránh nó, không tiêu hủy nó. Với nghĩa bóng đó, con người nào diệt dục, lìa bỏ cõi đời để tương ứng tạo, hoặc không bỏ cõi đời, nhưng tương ứng tâm, để ra ngoài những phú quý vinh hoa thì không phải là đối tượng khoa Tử Vi. Tuổi thành niên thì có vợ, có chồng, sinh con, đẻ cái, lăn lóc với xã hội, vật lộn với đời để tìm miếng ăn, thức uống, chức cao quyền trọng, trong một thế đua chen ráo riết.
Vì đặt đối tượng như thế cho nên khoa Tử Vi phải áp dụng phương pháp động. Động có nghĩa là con người không bao giờ cố định mà luôn luôn thay đổi, bị chi phối bởi hoàn cảnh, có khi chi phối hoàn cảnh, lúc thì có những ham muốn này, lúc thì có những khao khát nọ, suốt đời mưu tìm sự thỏa mãn nguyện vọng, tình cảm, trí tuệ, sinh lý, tiền bạc... Khảo sát đối tượng động, khoa Tử Vi triệt để áp dụng phương pháp đó thể hiện qua ý niệm động của mỗi cung, Âm Dương ngũ hành tính của cung và sao, và qua quan niệm động của nhiều cung phối chiếu.
Ý niệm động của mỗi cung
Trên lá số Tử Vi, sự phối chiếu này cho thấy tinh thần dịch lý đó. Chẳng hạn như cung Mệnh. Cung này không bị đóng khung trong các sao tọa thủ. Trái lại, Mệnh bị chi phối bởi cung Di (tức là môi trường xã hội), bởi cung Quan (tức là cuộc sống nghề nghiệp), bởi cung Tài (tức là sinh kế). Vì vậy, cung Mệnh không tĩnh, không biệt lập, không độc lập với 3 cung kia được. Có ảnh hưởng đi thì cũng có phản ánh lại, nghĩa là Mệnh con người cũng chi phối lại xã hội, nghề nghiệp và sinh kế. Cho nên, theo tinh thần dịch và động, không bao giờ nên xem cung Mệnh một cách riêng rẽ, mà phải xem nó trong bối cảnh 3 cung phối chiếu.
Cung Phúc cũng vậy, Phúc con người gồm có phần phúc cơ hữu, quyết định bởi các sao tọa thủ ở cung Phúc và phần phúc kết hợp từ cung Tài (tức là sinh kế tiền bạc hay hạnh phúc vật chất), từ cung Di (tức là cảnh sống hay hạnh phúc xã hội), từ cung Phu Thê (tức là tiểu gia đình, vợ chồng hay hạnh phúc gia đạo). Cả 3 cung đó dính liền với cung Phúc làm cho cung Phúc thêm sống động.
Những cung khác cũng đều liên đới, chằng chịt, linh động như vậy. Xem Tử Vi mà thiếu ý niệm động thì kết luận thiếu hồn. Xem Tử Vi theo phương pháp động là nắm một lần nhiều yếu tố để tổng hợp, xem các yếu tố đó hỗ trợ cho nhau, sinh hay khắc lẫn nhau.
Âm Dương ngũ hành tính của cung và sao
Để có một hình ảnh, có thể ví con người như một hợp kim (alliage), được một số kim loại kết thành. Tác hóa giữa các đơn chất đó thành ra hợp chất chung cuộc đời. Mang Âm Dương ngũ hành vào cung, vào sao, khoa Tử Vi cụ thể hóa dịch lý và động tính của mỗi yếu tố đến một mức độ quá sức phong phú. Thật vậy, trong cung, ít ra cũng phải có 6, 7 vì sao thuộc 5 hành khác nhau, tác động lẫn nhau và tác động với cung, tạo thành một liên hệ phản xạ chằng chịt, khiến cho nhiều người bị lạc vào một mê hồn trận, kiểu như bát quái trận đồ của Khổng Minh vậy. Ngũ hành tương sinh theo một vòng kín, không có khởi điểm: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy rồi Thủy trở lại sinh Mộc. Cái vòng đó cũng không có dứt điểm. Nó giống như một lối nói bình dân cho rằng "kỳ nhông là ông kỳ đà, khác đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông", rốt cuộc không biết con nào làm chúa. Cái vòng sinh khắc của ngũ hành cũng lằng nhằng như vậy. Nó làm cho Tử Vi khó đoán. Điều này khiến cho nhiều kẻ bực tức cho rằng có lẽ người xưa bày ra sinh khắc ngũ hành cốt để cắt nghĩa những cái gì không thể cắt nghĩa được. Dù sao, trong mục này, ta thấy rằng Âm Dương Ngũ Hành đã diễn đạt động tính và dịch lý của khoa Tử Vi đến cùng cực.
Khoa này đã đặt con người vào từ trường chi phối của rất nhiều yếu tố ngoại cảnh cũng như nội tại. Nó là một sinh vật rất phức tạp trong sự cấu tạo và trong phản ứng, biến đổi trong tâm tính và trong hoàn cảnh. Chính hoàn cảnh này cũng luôn luôn biến đổi. Từng đợt, con người phải thích ứng mãi với môi sinh mới: tuổi niên thiếu sống với cha mẹ, anh em, lớn lên sống với vợ chồng, con cái, va chạm với nghề nghiệp, mưu cầu sinh kế, giao thiệp với xã hội, khiến cho tính nết tiên khởi không còn nguyên vẹn.
Ngoài động tính của mỗi cung và của Âm Dương ngũ hành còn phải kể động tính trong thế liên hợp các cung.
Ý niệm động trong cục diện của Mệnh và Thân
Đời người được chia làm hai thời kỳ tổng quát: Mệnh là thời gian lúc sinh cho đến khoảng 30 tuổi; Thân là thời gian còn lại.
Sở dĩ người xưa chọn tuổi 30 để phân biệt hai giai đoạn này vì tuổi 30 được xem như tuổi thành thân. Nó đánh dấu một bước mới của đời người, lúc cá nhân đã trưởng thành về mặt xã hội, có cơ hội giao tiếp nhiều với ngoại cảnh, lúc cá nhân phải tự lập thân, các yếu tố xã hội chi phối đời sống con người nhiều hơn.
Dù sao, khi phân biệt Thân với Mệnh, khoa Tử Vi muốn nhấn mạnh đến sự biến dịch của cuộc đời.
Quan niệm động trong cục diện hạn
Ngoài sự biến dịch lớn trong Mệnh và Thân, còn có nhiều biến dịch nhỏ hơn trong mỗi vận hạn.
Khoa Tử Vi chia vận hạn ra làm nhiều hệ cấp. Đại hạn, tức là thập niên, kéo dài 10 năm, mỗi đại hạn được một cung quảng diễn, đánh dấu những biến dịch của 10 năm trong khuôn khổ của Mệnh hoặc Thân. Tiểu hạn, tức là từng năm, cũng do một cung quảng diễn để ghi dấu những biến dịch của năm đó trong khuôn khổ 10 năm. Nguyệt hạn, tức là một tháng, được 12 cung lần lượt mô tả, ghi dấu những biến dịch của tháng trong khuôn khổ một năm. Nhật hạn tức là một ngày, mỗi ngày do một cung quảng diễn, ghi dấu các biến cố trong ngày. Thời hạn tức là một giờ (giờ âm lịch kéo dài 2 tiếng), mỗi giờ đóng ở một cung.
Qua sự phân biệt tinh vi đó, chúng ta thấy rằng khoa Tử Vi quan niệm đời sống con người rất liên tục và linh động qua những biến cố xảy ra cho từng giờ, chớ không phải từng năm, từng tháng.
Tuy nhiên, đây chỉ là nguyên tắc. Trên thực tế, đời người không quá linh động như vậy. Thông thường, những biến cố xảy ra chỉ đúng đến cấp nguyệt hạn là nhiều. Thỉnh thoảng, có thể đúng đến nhật hạn. Nhưng, càng xuống thấp đến nhật hạn, thời hạn, mức độ chính xác càng giảm đi. Khoa Tử Vi có tham vọng tổng hợp đời người từng giờ. Đây quả là một ảo vọng. Nhưng, vì đã trót chấp nhận dịch lý, cho nên lá số phải phân biệt các thời hạn dài đến ngắn, không thể dừng lại nửa chừng được. Dù sao, sự phân biệt đó chỉ để chứng tỏ dịch lý của con người và đời người mà thôi. Người khảo sát Tử Vi chỉ nên chấp nhận dịch lý đó một cách tương đối, có mức độ, đến một hệ cấp thời gian nào đó. Không nên bám vào tuyệt đối trong luật động.
Quan niệm động qua các sao
Mỗi sao trong khoa Tử Vi có nhiều nghĩa, tối đa có thể có đến 9 nghĩa. Nếu đứng riêng rẽ, mỗi sao có ý nghĩa cố định. Nhưng, nếu đi chung với sao khác, ý nghĩa đó biến đổi ít nhiều, hoặc được tăng cường, hoặc bị giảm nghĩa, có khi mất hẳn. Ví dụ như Hóa Lộc chỉ tiền bạc gặp Tuần hay Triệt thì không thể giàu có, ít ra cũng trong giai đoạn nào đó, hoặc chỉ đủ ăn, hoặc có thể túng thiếu. Vì vậy, không thể tách rời sao ra khỏi bối cảnh các sao khác, không thể xem một sao như một yếu tố độc lập và biệt lập. Phải nhìn sao qua sự hội tụ với các sao khác để tìm ý nghĩa và mức độ thích hợp nhất của nó. Ý nghĩa một sao bao giờ cũng có tính cách đa diện và liên đới.
Mặt khác, ý nghĩa của mỗi sao còn thay đổi theo thời gian. Ví dụ như sao Đào Hoa, sao Hồng Loan hẳn phải có nghĩa rất mạnh lúc con người còn trẻ, bao hàm cả trong tâm lý và sinh lý. Nhưng, đến tuổi già 2 sao này biến nghĩa hoặc mất cả ý nghĩa, có thể chỉ còn bao hàm khả năng tâm lý mà thôi. Trái lại 2 sao Địa Không, Địa Kiếp chỉ tai họa, có thể ảnh hưởng mạnh về già nhiều hơn. Lúc già, Không, Kiếp có thể có cả ý nghĩa về bệnh, về họa trong khi lúc trẻ, có thể Không, Kiếp chỉ có một trong hai tác dụng mà thôi.
Ngoài ra, cũng vì dịch lý của các sao, cho nên không có sao nào hoàn toàn tốt hoặc xấu. Sự tốt xấu còn tùy thuộc vị trí và những sao khác đi kèm. Mặc dù khoa Tử Vi có phân biệt 2 loại cát tinh và hung tinh, nhưng, khi cát tinh đi chung với hung tinh, ý nghĩa cơ hữu bị biến đổi, sao tốt trở thành bớt tốt, sao xấu trở thành bớt xấu. Và chăng, ngay những sao thuộc loại xấu như Kình, Đà, Không, Kiếp, Hỏa, Linh lại tỏ ra thích hợp với cách võ và phù hợp cho cách võ hưng vượng thêm. Những ví dụ này cho thấy rằng khoa Tử Vi có một quan niệm rất thực tiễn về các dữ kiện. Một dữ kiện tự nó không tốt hay không xấu. Cái tốt hay xấu tùy thuộc chỗ dụng của nó. Cho nên, phải xét chỗ dụng của dữ kiện, chớ không nên xem xét riêng rẽ dữ kiện ngoài trường hợp áp dụng.
Sau cùng, ngũ hành của sao trong mỗi cung càng làm cho các sao thêm linh động về ý nghĩa. Sao Mộc đóng ở cung Thủy, tất phải thịnh hơn là đóng ở cung Kim. Sao Hỏa đóng ở cung Thủy, hẳn phải bị giảm nghĩa nhiều. Nếu gặp thêm sao khác hành chi phối, ý nghĩa càng phức tạp hơn nữa.
Những dẫn chứng trên cho thấy khoa Tử Vi tiêm nhiễm tinh thần động, chấp nhận dịch lý như một nguyên tắc cơ bản, bất khả phân với đối tượng khảo sát và phương pháp khảo sát. Mất động tính, khoa Tử Vi như mất linh hồn. Ngay từ khi được sáng lập, khoa Tử Vi vốn đã chấp nhận nguyên lý đó.
Thật vậy, khi nhà thủy tổ Trần Đoàn bày ra môn Tử Vi, ông đã căn cứ vào Kinh Dịch. Kinh Dịch là bộ sách khảo sát luật chuyển động của vạn vật, những nguyên tắc chi phối động tính của sự vật. Triết Đông phương nhìn vũ trụ và con người như những động vật, biến dịch với thời gian và không gian. Hình thể và nội trạng của các vật không bao giờ cố định. Cả hình thể lẫn nội trạng đều là kết quả của một quá trình thay đổi liên tục, không ngừng lại ở một giai đoạn nào. Con người cũng được xem như động vật và không thoát khỏi quy luật biến dịch được. Dịch là hình thái sống của con người. Cho nên, vì lý do đó, khoa Tử Vi khảo sát con người sống và trong giai đoạn sống của con người tức là giai đoạn con người sống bằng hồn lẫn xác. Thiếu một yếu tố, con người không còn sống nữa. Vì vậy, khoa Tử Vi không áp dụng cho một tử thi, cho những người đã chết. Không bao giờ Tử Vi tìm tòi âm hồn của kẻ quá cố, hoặc theo dõi âm kiếp của họ. Khoa Tử Vi cũng không bao giờ khảo sát người thoát tục, tức là tuy còn sống ở đời mà xa lánh việc đời, vì lý do giản dị là kẻ thoát tục tự ý rời khỏi khung cảnh sống của người thế tục, không chịu sự chi phối toàn bộ của cục diện sống thông thường.
Đối tượng của khoa Tử Vi chẳng những là con người còn sống mà còn là người sống chung với đời, quan niệm cõi đời như chỗ đứng bắt buộc của mình. Bao giờ con người chối bỏ lối sống này, người đó sẽ không còn là đối tượng của khoa Tử Vi nữa.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc
