Bài tổng quan
Đào Hoa, Hồng Loan và bộ Tứ Đức giải trừ hung họa
Đào Hoa, Hồng Loan gắn liền với duyên nợ trai gái, nhưng khi hội cùng Nhật Nguyệt hay đường công danh lại hóa thành lực đẩy cho khoa bảng tài lộc. Bên cạnh đó là bộ Tứ Đức chuyên hóa giải hung tinh, và cặp Thiếu Dương Thiếu Âm ít được nhắc tới nhưng lại...
Mục lục · 13 phần
Có một nhóm sao pha trộn cả họa lẫn phúc: những bại tinh gây hao tán tài lộc đứng cạnh những sao chủ duyên nợ trai gái, rồi tới bộ Tứ Đức chuyên giải trừ hung họa, và cuối cùng là cặp Thiếu Dương – Thiếu Âm, thứ khí lực kín đáo nuôi sống cả Nhật lẫn Nguyệt.
Đại-Hao, Tiểu-Hao
Song Hao thuộc Thủy. Miếu ở Mão Dậu, Vượng ở Tý Ngọ. Lâm Mệnh hãm địa, là người bé nhỏ, ưa thích cờ bạc, đam mê rượu chè. Hội với Mã Riêu, là tình như đáy giếng, hoang tàn, chỉ dong chơi mà phá bại tổ nghiệp.
Lâm Mệnh Quan, cư Mão Dậu lại là văn tinh, rất thông minh, lanh lợi, là người có tài tháo vát, lập nên cơ nghiệp. Ở Quan-Lộc thì đắc cách hơn Mệnh Thân. Song Hao Mão Dậu, chúng thủy triều đông, là các dòng nước đều chảy về phương đông, ví như bốn đại dương cùng căn cứ hướng về Thái-Bình-dương, và đại dương này tương quan địa cầu là đông vị.
Nước thủy triều lên và xuống mỗi ngày, là do ảnh hưởng của mặt trăng thu hút, nên thủy triều tháng nào cũng có 2 kỳ con nước, so thời gian 1 tháng của ta, bằng 1 ngày và 1 đêm của mặt trăng, và thời gian của thủy triều thăng giáng là do ngày sóc, vọng, huyền, vị trí của trái đất tương quan với mặt trăng, đồng hành trên quỹ đạo, mà mặt trăng trực tiếp ảnh hưởng đến địa cầu ta, là hành tinh cư đông vị của trái đất.
Như vậy, nếu các ngọn nước phải hướng về đông, là Hao miếu ở đó là chính lý. Chúng thủy là tất cả các dòng nước, phải đâu là chúng hỏa mà là Hao được. Song Hao tượng ở thân thể là cái mũi. Nên song Hao cư Mệnh, mũi hơi bị hếch, lỗ mũi hướng lên trời một chút. Ở tướng học gọi mũi này là mũi trư tụy (mũi heo).
Tang-Môn, Bạch-Hổ
Tang-môn thuộc Mộc. Bạch-hổ thuộc Kim. Miếu địa ở Mão Dậu, Vượng ở Dần Thân. Hai sao Tang-Hổ là bại-tinh, chủ hình thương, tai nạn bệnh tật.
Tang-môn cư Mão, ví như bằng sắc, hiệu lệnh treo ở cửa nhà Trời. Bạch-hổ cư Dậu là cách Hổ khiếu tây phương. Hổ ở đây ví như đã no, nên về hang nghỉ, không còn hung nguy, vì Dậu coi như thâm sơn cùng cốc, không ai đặt chân tới, và Bạch-hổ Kim, Dậu là âm kim nên Hổ miếu là lý do đó.
Kết hợp với Đường-phù, Tấu-thư, ví như hổ mang hòm sắc đi đường xa, nên chẳng những anh hùng, mà văn chương nữa. Kết hợp với Phượng-Long, Hoa-cái, thành bộ tứ Linh, có thể chấn át được hung tinh, nên lưu hạn gặp tứ Linh thời không sợ hung họa. Hội nhân, thi cử, cầu công danh, mà gặp được tứ Linh là đắc cách.
Hội với Hình, và Phi, thời nên tùy nơi miếu hãm mà luận đoán, vì tai họa hay bỉ sự cũng có thể đến một cách nhanh chóng được. Tang-Hổ hãm chủ phá bại tiền tài, công danh, nhị bạn mà gặp thời buồn thương khổ tránh.
Lâm Mệnh thời vẻ mặt không được tươi, u buồn, thường hay mắc chứng bệnh về phổi và ruột, nhất là những chứng áp huyết, và đàm nhiệt mà sinh bệnh lao. Hội với Dương Đà, dễ bị yếu gân và các chứng kinh phong. Đàn bà lưu hạn, khi lâm bồn, mà Tang-Hổ gặp Lưu-hà, thời phải quan phòng, khó tránh được sự châm chích mổ xẻ. Trái lại Tang-Hổ miếu địa nhập Mệnh, là cách tứ phương cũng phục anh hùng, tính tình cương dũng, văn võ song toàn mà lập nên nghiệp lớn.
Đào-Hoa, Hồng-Loan, Thiên-Hỷ
Ba sao gắn liền với chuyện trai gái, duyên nợ vợ chồng — nhưng cũng chính ba sao này, khi hội với Nhật Nguyệt hay với đường công danh, lại trở thành lực đẩy cho khoa bảng, tài lộc. Ranh giới giữa Đào Hoa và Hồng Loan cũng vì thế mà được sách phân định khá kỹ.
Đào-hoa thuộc Mộc. Hồng-loan thuộc Mộc đới Thủy. Thiên hỷ thuộc Hỏa đới Mộc. Cư cung Quan-lộc thì hợp cách nhất, hoạn lộ sẽ nhẹ bước thang mây, vì thời thế, hay vì hoàn cảnh, mà được địa vị dễ dàng, và tránh được các tính lẳng lơ hoa nguyệt của Hồng Đào, nếu cư ở Mệnh.
Hồng-Đào miếu địa ở Tý Hợi, chủ phát triển tài lộc công danh thăng tiến. Hồng-Đào cần thiết cho Tử Phủ, nhưng đối với bộ nào, sự phù trì cũng đắc lực cả. Đào-hoa, Thiên-hỷ, Hỷ-thần, hợp lại là bộ tam minh, hay gọi tắt là bộ song hỷ, thì hỷ sự đến trùng trùng. Bộ tam minh hội với Nhật Nguyệt, sẽ được sáng ra bội phần. Lưu hạn mà gặp tam minh, thời thi cử, cầu công danh, tài lộc, hôn nhân chắc sẽ được đắc ý.
Về già mà lưu hạn, thấy Hồng Hỷ ở mộ khố, là chủ tật bệnh và có sự nguy kịch tới tính mạng. Hồng hội với Địa-kiếp, Quả Cô, là cách chết thắt cổ, vì Hồng-loan là cái giây thừng. Hồng Kiếp, Quả Cô, cư cung Phu Thê, là phải 1 hay 3 tao mới chính định được. Nữ Mệnh có cách Tướng Hồng, là gặp chồng qúy hiển.
Hồng-loan hội Lộc Kình Đà, là các bà rất giỏi về kinh thương, nhất là buôn bán vải vóc rất được vượng phát. Nữ Mệnh gặp Đào Thai tướng Phục, thời khó tránh được sự lầm lỡ bụng to, và bị hãm hiếp, hai sao Hồng Đào xung hay hợp chiếu cung Thiên-di, là cách vợ chồng thiên lý tương ngộ, kết duyên với nhau chồng nam vợ bắc. Ở phú có câu: Vợ chồng viễn phối tha hương, Đào Hồng đôi chiếu vào nàng Thiên-di.
Thiên-Tài, Thiên-Thọ
Thiên-Tài, Thiên-Thọ đều thuộc Thổ. Chủ phúc thọ tăng tài lộc và nhân từ. Thiên thọ cư cung nào cũng tốt đẹp, nhưng ở Phụ-mẫu và Phúc-đức là hợp cách hơn. Hội với Thiên-lương càng tăng phúc thọ.
Thiên-tài hội với Nhật hãm, là người nói năng không cẩn trọng, không giữ gìn thuần phong mỹ tục, và thường thiếu lòng tín ngưỡng về thần quyền. Ở phú có câu: Thiên-tài ngộ Nhật bất minh, những phường lếu láo, để khinh Phật Thần.
Bộ Tứ Đức: Thiên, Nguyệt, Long, Phúc-Đức
Thiên-đức, Nguyệt-đức, đều thuộc Hỏa. Long-đức thuộc Thủy. Phúc-đức thuộc Thổ. Chủ khoan hòa, nhân hậu, đoan chính và phúc thiện. Thiên-Nguyệt-đức được gọi là bộ lưỡng Đức. Lâm Thân Mệnh thời giảm trừ được tai nạn, tật bệnh hung nguy, và là người đoan chính từ tâm.
Giải được phần nào các sao hung sát, chế giảm được tính hoa nguyệt của Hồng Đào. Hội với Hồng Đào, tuy có tính dâm, nhưng là chính dâm chớ không phải là cách ngoại tình, cách này ở nữ Mệnh là người xinh tươi, duyên dáng, có tài cư xử lịch thiệp.
Lưỡng-Đức hội với Long-đức, Phúc-đức, là bộ tứ Đức, cư chiếu Thân Mệnh thời phù trì đắc lực, dù lâm hạn họa đổ vỡ cũng không bị tuyệt địa, lại có thể nhờ vận khác để khởi vận được, nên người có tứ Đức Thân Mệnh dù sao cũng còn hưởng được ân nọ huệ kia, giữ được cái cốt cách của người phong lưu, không quá khốn đốn cùng quẫn, cửa nhà bán sạch, chân tra vào cùm.
Bốn sao này được gọi là phúc thiện tinh, hội với hung sát thời không nhập đảng tác hại, tính hay giải cứu, tá khổn phò nguy. Hội với cát diệu thời tăng thêm mỹ mãn. Ở phú có câu: Thiên-Nguyệt Đức Giải-thần tàng, cũng là Quan Phúc một đoàn trừ hung.
Phá-Toái, Kiếp-Sát
Phá-toái thuộc Thủy. Kiếp-sát thuộc Hỏa. Kiếp-sát chủ hình thương tai nguy, hung họa, mổ xẻ. Phá-toái chủ phá hại, hao tán điền trạch tiền của. Hai sao này tuy là hai sao nhỏ, nhưng nếu kết hợp với Kiếp Không Linh Hỏa thì như kẻ phụ giúp cho Kiếp Hỏa tăng thêm tính hung ác lên nhiều.
Lưu nhị hạn hội với Hỏa-tinh, Tang Hổ, chủ cháy nhà, hung họa về hình thương, hoặc hoán cải nghề nghiệp. Lưu hạn vãn niên là lâm trọng bệnh, vì chủ sự chết chóc có hiếu tang không lành. Nữ nhân lưu hạn khi lâm bồn, thì khó tránh được mổ xẻ, châm chích. Phá-toái Kiếp-sát hội với Thất-sát, Phá-quân, gia Lộc và Dương Đà là người hành nghề đồ tể (giết heo trâu bò) hay nghề chài lưới (đánh cá sông biển) thật phát đạt thịnh vượng.
Đẩu-Quân
Đẩu-quân thuộc Hỏa. Đẩu-quân là sao Nguyệt Tướng. Tính lý gần giống như Phục-Binh hay Hỏa Kỵ. Hội với cát tinh miếu vượng thời uy nghi, nghiêm cẩn, có cơ mưu biến hóa lanh lợi. Tá phù cho Tử phủ, tăng thêm tốt đẹp. Cư Quan-Lộc, Điền-trạch là hợp cách, giữ gìn của cải được bền chặt. Hội hung tinh hãm, thời gần giống như Phục-binh Hỏa Kỵ. Tính tình gian hiểm, ưa đặt điều thị phi, dương đông kích tây, sinh sự thù ghét.
Bác-Sỹ
Bác-sỹ thuộc Thủy. Chủ văn chương, bác học, công danh thi cử. Hội với Lộc-Tồn và Dương Đà giáp biên, là chứng nhân cho sự đổi thay, phú qúy văn chương của tính chất Lộc-Tồn khi hội chiếu với các tinh đẩu khác. Hội với Riêu-Y là cách thầy thuốc giỏi.
Thiên-Riêu, Thiên-Y
Thiên-Riêu, Thiên-Y thuộc Thủy. Cư nơi miếu địa là người văn chương thi phú thanh hiển, là nhà khảo cứu rất sâu về các môn học, trọng lễ nghĩa phong tục, dầm vào các nơi tửu sắc cũng không bị say đắm. Hội với Hồng-loan cư Mệnh, thì y phục lúc nào cũng cẩn trọng. Hội với Cơ Lương, Tả Hữu, Bác-sỹ là thầy thuốc danh giá cao tay. Hội với Tả Hữu, Hình Kỵ, lưỡng Phù (Quan-phù Trực-phù) là thầy phù thủy rất giỏi.
Nữ Mệnh mà Hồng-Riêu hội với Lộc Dương Đà, đàn bà là người kinh thương về vải vóc, canh cửi hay nghề may vá được tiếng tăm thịnh vượng. Nữ Mệnh hội Hồng, Riêu, Tấu, Vũ, Mỹ, Đào, là cách đào nương thượng thặng về ca vũ. Gia hợp song Lộc Tý Ngọ, là danh tiếng vang động lại cự vạn chi tài.
Thiên-Trù, Thiên-Giải, Địa-Giải, Giải-Thần
Thiên-trù thuộc Thổ, Thiên-giải Hỏa. Địa-giải thuộc Thủy khí, miếu ở Mão Dậu. Bốn sao này là phúc thiện tinh. Cư Thân Mệnh chủ phúc hậu nhân từ cứu khổn phò nguy, giải trừ được phần nào tai nạn hung nguy, gia tăng phúc thọ. Cư Điền Tài, thời giữ gìn của cải ruộng vườn được bền chặt thêm. Tuy là sao nhỏ, nhưng lưu nhị hạn mà gặp được thời cũng đỡ lo ngại, dù không có nhiều mãnh lực để triệt tiêu được các tai họa.
Lưu-Niên, Văn-Tinh
Thuộc Hỏa. Chủ Văn-tinh, khoa giáp, học vấn. Lâm Mệnh là người có học vấn. Lưu nhị hạn mà gặp thì cầu công danh, thi cử có sự đắc ý.
Trực-Phù, Tử-Phù
Thuộc Hỏa. Chủ về tật bệnh. Hội với Thiên-lương, Đà-la, hay bị bệnh đau ruột, gan, và chứng kiết lỵ. Lưu hạn gặp Tang-Hổ, Hỏa-Linh, Địa-kiếp, phải quan phòng nạn hỏa tai.
Thiếu-Dương, Thiếu-Âm
Có một cặp ít được nhắc tới nhưng lại mang một vai trò khá đặc biệt: nuôi sống Nhật Nguyệt vào đúng lúc hai vầng sáng ấy lâm vào chỗ tuyệt.
Thiếu-dương thuộc Hỏa khí, miếu ở Tý Ngọ. Thiếu-âm thuộc Thủy khí, miếu ở Mão Dậu. Hai sao này là hai khí thiếu dương và khí thiếu âm của Nhật Nguyệt.
1) Dương trung hữu dương. 2) Âm trung hữu âm. 3) Dương trung hữu âm. 4) Âm trung hữu dương.
Trao đổi cho nhau theo luật âm sinh nhi dương trưởng, khi Thái-dương bị tuyệt cần gặp khí âm (thiếu âm) để mà sinh, cũng như khi Thái-âm bị tuyệt, thời cần gặp khí dương (Thiếu-dương) để mà trưởng. Vậy thời Thái-dương, Thái-âm, lúc bị tuyệt địa, cần phải nhờ Thiếu-dương, Thiếu-âm mà sinh trưởng.
Không nên nghĩ Thiếu-âm, Thiếu-dương là Nhật Nguyệt thứ hai, mà nên căn cứ vào, dương tuyệt gặp âm, âm tuyệt gặp dương là đắc vị, tùy theo vị trí của Nhật Nguyệt cần thiết tới Thiếu-âm, Thiếu-dương, hay không cần thiết mà luận đoán thời mới phân định được.
Thí dụ: Nhật cư Tý mà gặp được Thiếu-âm là tốt. Nguyệt ở Ngọ mà gặp được Thiếu-dương là tốt.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
