Bài tổng quan
Điền Trạch, Huynh Đệ, Tật Ách: nhà cửa, kho tiền và thân thể
Điền Trạch phi Kỵ nhập Huynh Đệ thì anh em rảnh nhà ai nấy ở, trước cửa đìu hiu; Huynh Đệ phi Lộc nhập Điền Trạch thì tay chân tình sâu, của cải tăng đều. Nhà ở, kho tiền và thân xác đứng chung một tam phương. Khi hóa rơi ngay tại chỗ, cái kho nhà rò rỉ ra sao…
Mục lục · 7 phần
- 01Nhà ở, anh em và thân thể trong một vòng tròn
- 02Điền Trạch và Huynh Đệ: ngôi nhà và những người cùng mái
- 03Điền Trạch và Tật Ách: chỗ ở và sức khỏe
- 04Huynh Đệ và Tật Ách: tay chân và thể lực
- 05Tự hóa của ba cung: kho nhà, tình anh em, sức người
- 06Kỵ vào kho nhà: khi nào là gánh nặng, khi nào là cái chắc
- 07Lời nhắn cuối cho người giữ nhà
Nhà ở, anh em và thân thể trong một vòng tròn
Điền Trạch, Huynh Đệ và Tật Ách là ba cung của tam phương Điền Trạch: nơi ta ở và giữ của, những người cùng máu mủ và đồng hành, cùng cái thân xác gánh mọi việc. Ba cung này phi hóa cho nhau theo từng đôi, và khi hóa rơi ngay tại cung thì thành tự hóa. Mỗi hóa vẫn giữ tính chất cơ bản: Lộc là thuận và hưởng, Quyền là mạnh và chủ động, Khoa là điềm đạm có kế hoạch, Kỵ là trở ngại, kẹt, thu mình.
Cả ba cung đều thuộc nhóm "giữ": giữ nhà, giữ của, giữ sức. Vì thế khi các cung này nhận hóa, kết quả thường nói về nền móng của cuộc sống chứ ít nói về chuyện danh vọng ngoài xã hội.
Điều dễ nhìn thấy nhất là nhà và tiền ở đây gắn liền nhau. Khi các hóa tốt chảy trong tam phương này thì gia đình có nề nếp, tiền bạc có kho chứa; khi Kỵ dồn về thì nhà cũng hao, người cũng mệt.
Điền Trạch và Huynh Đệ: ngôi nhà và những người cùng mái
Cái kho của gia đình có sung túc hay không, nhìn từ cách tiền bạc đi giữa mình và anh chị em.
Điền Trạch phi Lộc nhập Huynh Đệ
Hoàn cảnh gia đình tốt, hoặc gia thế khá, nhà cửa hòa thuận, sống đầy đủ, nhưng quản lý tài sản chưa thật chặt. Có thể tự mở tiệm, kinh doanh kiếm lợi, dễ kết hợp nhà ở với quán. Tài khố dồi dào, chi ra thuận lợi nhưng anh em cũng hưởng nhiều. Bất động sản sinh tài, hợp những nghề nhàn như trồng cây cảnh, quán cơm, nhà trọ, cho thuê. Cũng hợp đầu tư tài sản khi có sao tài bất ngờ. Nhân khí trong dòng họ tốt đẹp.
Huynh Đệ phi Lộc nhập Điền Trạch
Anh em hòa thuận, tình sâu như tay chân, ít so bì. Thu nhập gia đình tốt, kinh tế sung túc, sự nghiệp càng làm càng thuận, tài sản tăng đều, lần lượt thêm của cải. Đây là cách người con trưởng.
Điền Trạch phi Quyền nhập Huynh Đệ
Gia thế tốt, đời sống vật chất cao. Cũng tự mở tiệm, kinh doanh kiếm lợi, dễ kết hợp nhà và quán. Kinh tế vững, anh em cũng giúp đỡ về tiền. Bất động sản sinh tài, có thể đầu tư địa ốc. Phải phòng nếp nhà thô bạo, ngang ngược, xa hoa lãng phí, vì xung Giao Hữu.
Huynh Đệ phi Quyền nhập Điền Trạch
Giỏi kinh doanh, tiền càng xoay càng nhiều, càng làm càng thuận. Anh em mở rộng cơ nghiệp, nhưng cũng có thể thô bạo, tranh quyền với nhau. Mua nhà, tạo tài sản, mọi thứ như mặt trời lên cao.
Điền Trạch phi Khoa nhập Huynh Đệ
Gia đình quản lý tài sản có kế hoạch, thu chi cân bằng, cuộc sống điềm đạm, giản dị.
Huynh Đệ phi Khoa nhập Điền Trạch
Anh em lúc gần lúc xa nhưng không mất lễ. Kinh tế bình ổn, có tính tích trữ.
Điền Trạch phi Kỵ nhập Huynh Đệ
Gia cảnh kém thì anh em phải gánh vác sinh hoạt, và mình không phải con trưởng. Gia cảnh tốt thì anh em tự kinh doanh, lập môn hộ riêng. Phòng thối tài, hao tán, dần dần tiêu điều. Không hợp kiểu nhà và quán gộp một. Bạn bè thân sơ rời xa, trước cửa vắng người, vì xung Giao Hữu.
Huynh Đệ phi Kỵ nhập Điền Trạch
Anh em rảnh nhà ai nấy ở, tình tay chân nhạt, trợ lực không lớn. Sống kiệm ước, tích trữ dần dần, dựng nghiệp gian khổ, bước vững từng bước.
Điền Trạch và Tật Ách: chỗ ở và sức khỏe
Chỗ ngủ, chỗ ăn và hơi thở của căn nhà in dấu lên thân thể chủ nhà; ngược lại, thân thể ra sao thì căn nhà cũng mang bấy nhiêu sắc.
Điền Trạch phi Lộc nhập Tật Ách
Gia đình hòa thuận, gia vận bình thuận. Sinh hoạt nhàn rỗi, chỗ ở rộng rãi, dễ chịu, đời sống vật chất được hưởng hậu. Không thuộc cách con trai trưởng. Hợp nhà và quán hợp nhất để kinh doanh.
Tật Ách phi Lộc nhập Điền Trạch
Gia vận tốt, nhà an, đất lành. Ở nhà nhiều, sống chung với người nhà dễ dàng. Thích không gian rộng, sáng, cuộc sống hưởng thụ. Sức khỏe tốt nhưng phải phòng ít vận động mà mập ra.
Điền Trạch phi Quyền nhập Tật Ách
Hoàn cảnh sống tích cực, hữu kính; không khí gia đình phấn chấn, có sức sống. Đời sống đắt đỏ. Hợp mở tiệm ngay tại nhà để thu lợi.
Tật Ách phi Quyền nhập Điền Trạch
Gia vận hưng vượng. Thích nơi sáng sủa, rộng lớn. Khỏe mạnh, nhiều sức sống, ít bệnh. Sức bền chính là nhờ vận động.
Điền Trạch phi Khoa nhập Tật Ách
Môi trường sống điềm tĩnh, ưu nhã.
Tật Ách phi Khoa nhập Điền Trạch
Sinh hoạt điềm đạm, điềm đạm mà có tư vị.
Điền Trạch phi Kỵ nhập Tật Ách
Hoàn cảnh sống trở ngại, nhà cửa rối bời, gia trạch không yên. Mang nợ vì gia đình, cuộc sống bận rộn, việc nhà hay kinh tế đè lên vai. Không hợp kinh doanh tại nhà. Có nhà mà khó ở yên trong nhà.
Tật Ách phi Kỵ nhập Điền Trạch
Bệnh cũ, bệnh dai dẳng, tâm tình u ám lâu dài. Tính không muốn bước chân ra khỏi nhà, ít giao tế. Gia vận tắc nghẽn, trì trệ.
Huynh Đệ và Tật Ách: tay chân và thể lực
Anh em là tay chân của mình, thể chất cũng là tay chân của mình, nên hai cung này hay đổi chỗ cho nhau trong cách đọc.
Huynh Đệ phi Lộc nhập Tật Ách
Tình tay chân sâu, hay tụ họp, dễ bàn bạc. Kinh tế sung túc, kiếm tiền nhàn, dễ làm ăn. Thể chất tốt, ít bệnh. Đời sống vật chất tốt.
Tật Ách phi Lộc nhập Huynh Đệ
Gần gũi anh em. Sức khỏe bình thuận, biết hưởng cuộc sống. Gần gũi con cái, vì Huynh Đệ là cung Phúc Đức của Tử Nữ. Công việc rộng thì kiếm tiền càng thuận.
Huynh Đệ phi Quyền nhập Tật Ách
Anh em thân thể cường tráng, tính thô thoáng. Bản thân công việc hao tốn thể lực, hoạt động nhiều. Sức đề kháng cao, càng tập thể thao càng khỏe. Thu nhập cao, kinh tế không phải lo.
Tật Ách phi Quyền nhập Huynh Đệ
Sức sống, sức khỏe, hợp vận động rèn thân. Chịu đựng tốt, sức đề kháng tốt, thu nhập cao. Tính thô thoáng, dứt khoát, chủ động, nhưng Quyền xung Giao Hữu.
Huynh Đệ phi Khoa nhập Tật Ách
Tình anh em nhạt, qua lại có lễ.
Tật Ách phi Khoa nhập Huynh Đệ
Biết dưỡng sinh, bảo vệ sức khỏe.
Huynh Đệ phi Kỵ nhập Tật Ách
Anh em cần cù, hoặc mình làm cho anh em mệt mỏi. Anh em không thân, ai lo nhà nấy, vì Kỵ nhập tam phương Điền Trạch thường mang chút ích kỷ. Bản thân công việc bận rộn, quá nhọc, hiếm khi có người thay.
Tật Ách phi Kỵ nhập Huynh Đệ
Thể chất nghèo nàn, tâm tình u ám. Ít giao lưu, xã giao vì xung Giao Hữu. Bệnh lâu, dinh vệ kém, cần dưỡng sinh và vận động lâu dài.
Tự hóa của ba cung: kho nhà, tình anh em, sức người
Khi hóa không đi đâu mà rơi tại chỗ, kho tiền, tay chân và thân xác đều có chung một nét rò rỉ.
Điền Trạch tự hóa
Tự hóa Lộc: ít dụng tâm vào việc nhà và quản lý tài sản, tinh thần trách nhiệm trong gia đình kém. Nhà thường đẹp bên ngoài mà bên trong chưa tới. Hợp buôn bán tiền mặt, tự cung tự cấp. Nếu cung khác phi Kỵ nhập cùng sao thì kho tiền gặp tai kiếp, Lộc Kỵ thành song Kỵ.
Tự hóa Quyền: nhà trông có vẻ hưng vượng, nhưng chủ nhà làm theo ý mình, hoặc nhiều thành viên can thiệp mà không đoàn kết.
Tự hóa Khoa: nhà dòng nho học, giản dị, tiếng tăm lan xa.
Tự hóa Kỵ: tiền rò rỉ, âm thầm hao tổn, kinh tế trống không. Tối kỵ nhà thiếu ánh sáng, đồ vật bừa bãi, bẩn thỉu, làm gia vận rơi vào vòng ác tính. Phòng gia đình có khoảng cách, người thân ly biệt. Dễ rời nghề nghiệp, chuyển nhà, nhà trở nên trống trải.
Huynh Đệ tự hóa
Tự hóa Lộc: trông như tình tay chân thân thiết nhưng anh em không nhờ cậy được. Kinh tế tự túc nhưng ít kế hoạch quản lý tài sản. Tốt nhất là buôn bán tiền mặt mỗi ngày đều thấy tài, nghề tiêu thụ, nghiệp vụ, dịch vụ chóng thấy kết quả. Cung khác phi Kỵ cùng sao thì kho tiền gặp tai kiếp.
Tự hóa Quyền: anh em kiêu ngạo, can thiệp vào chuyện của nhau, ai cũng cho mình là nhất, không đoàn kết. Kinh tế mạnh nhưng thiếu quản lý, dễ chi không mục đích. Hợp tiền mặt, tiêu thụ, nghiệp vụ, kỹ thuật, nghề không ép vốn, thu hồi nhanh. Trông tích cực mà thiếu mục tiêu.
Tự hóa Khoa: anh em văn chất, thường có kế hoạch quản lý tài sản.
Tự hóa Kỵ: anh em tư tâm, vô tình, thiếu trợ lực. Mình dễ bị hao tổn ngầm, rò rỉ tiền, cần kế toán quản lý. Thể chất sa sút, cần vận động và dưỡng sinh lâu dài.
Tật Ách tự hóa
Tự hóa Lộc: an vui, lười biếng, hưởng thụ, coi chừng mập ra. Thờ ơ, thiếu lý trí, dễ bị dắt mũi. Thiếu tích cực, chậm chạp, cơ hội dễ tuột khỏi tay.
Tự hóa Quyền: dáng người bền chắc, động nhiều tĩnh ít. Cá tính qua loa, không kiểu cách. Dễ va chạm, té ngã, bị thương, ứ huyết. Tích cực có thừa nhưng ít phương hướng, lỗ mãng.
Tự hóa Khoa: lịch sự có thừa nhưng phòng ưu nhu, kiểu cách.
Tự hóa Kỵ: dễ mệt quá, hoặc thiếu ý chí vì quá vội. Chịu đựng chưa đủ, vấp chân là hốt hoảng. Cách cục kém thì khi bệnh phát, thuốc hết công hiệu hoặc diễn biến rất nhanh, dễ thành tật, có khi phải cắt bỏ một bộ phận.
Kỵ vào kho nhà: khi nào là gánh nặng, khi nào là cái chắc
Cũng một chữ Kỵ, nhưng đặt vào kho thì nó có nghĩa khác với khi đặt vào cửa ngõ.
Tam phương Điền Trạch là cung thu tàng, nơi cất giữ. Khi Kỵ, vốn là sao thích giữ, thích gom, chỉ nhập vào đúng tam phương này, thì ấy là sao thu tàng nhập cung thu tàng: gặp đúng chỗ của mình. Người ta thích sở hữu, thích tích lũy, chịu khó lao động thì rồi cũng gặt được quả. Đó là lý do tam phương Điền Trạch có Kỵ nhập, nếu chỉ là một Kỵ, lại thành thế cát, ổn định và vững.
Nhưng cũng chính vì Điền Trạch tam phương là cung thủ thành mà Kỵ nhập Giao Hữu lại thành chuyện không lành, bởi Giao Hữu xung thẳng vào cung này: khó mà yên ổn. Cho nên nhìn Điền Trạch, Huynh Đệ, Tật Ách, câu hỏi quan trọng không phải chỉ là có Kỵ hay không, mà là Kỵ ấy đứng ở chỗ nào và có bao nhiêu mũi tên cùng đổ về.
Lời nhắn cuối cho người giữ nhà
Có một ghi chú đáng nhớ: khi tam phương Điền Trạch có nhiều Lộc, Quyền và cách cục tốt, nhà hưng vượng, gia đạo thịnh. Cách cục kém thì vẫn có thể tự kinh doanh tại nhà. Còn khi tam phương này nhiều Kỵ thì chỉ nên làm dè dặt, hoặc đi làm hưởng lương, đừng đặt cược cả cơ ngơi vào một canh bạc.
Nguồn: Lương Nhược Du, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số 12 cung 672 tượng.
