Bài tổng quan
Đè nén, bất dụng nơi quan trường và đại họa tài sản
Có người tài năng hơn hẳn đồng liêu mà cả đời chỉ được giao việc chạy vặt, như Khuất Nguyên phải ngâm thơ ta thán bên dòng sông. Lá số của họ thường thiếu đúng một loại sao, và khi tai họa chuyển từ chiếc ghế sang cái hòm tiền…
Đè nén, đố ky trong quan trường
Họa nghề nghiệp còn thể hiện dưới hình thái bị cấp trên đè nén, cô lập, hoặc bị cấp ngang cạnh tranh bất chính, đố ky.
Phục binh
Điển hình cho sự ám hại bằng thủ đoạn ngầm, sự đố ky ganh ghét giữa đồng nghiệp hay giữa mình với cấp chỉ huy, Phục Binh còn có nghĩa âm mưu, toa rập, kết bè, kết phái để đào thải, loại trừ đối thủ, có khi tổ chức phục kích, ám sát, thanh toán hoặc gài đương sự vào chỗ chết, chỗ kẹt, chỗ bị án, bị tù, bị quy trách.
Sao này làm cho không khí công vụ khó thở, đặt viên chức trong cái thế vừa làm vừa thủ, chống đỡ tiểu nhân, đề phòng dư luận, đồng thời cũng tìm cách hạ uy tín của đối thủ để cho mình dễ thở, dễ tung hoành. Thông thường, Phục Binh hay sử dụng mánh lới, thủ đoạn bất chính và bí mật để phá hoại đồng nghiệp, có khi liên kết với tòng bạn, bè cánh, tổ chức. Nếu có cả Tả Phù, Hữu Bật đi kèm thì nạn nhân phải chạm trán với cả một hệ thống chằng chịt bao gồm nhiều tay sai ở nhiều ngõ ngách, muốn khiếu nại cũng không được như ý, nhiều khi chẳng đi đến đâu.
Hóa Ky
Chỉ đố ky, ganh ghét, cạnh tranh. Vì là cái lưỡi, nghĩa bóng là lời nói, cho nên thủ đoạn của Hóa Ky là gièm pha, thêm bớt, thọc gậy. Phương tiện của Hóa Ky là ngôn ngữ, cáo giác. Hậu quả của Hóa Ky là khẩu vạ, khẩu thiệt, thị phi, cãi cọ, bút chiến. Hóa Ky ở Quan không hẳn chỉ có nghĩa đương số là nạn nhân bị đố ky, bị nói xấu ... mà còn là chủ phạm nói xấu và đố ky người khác dù là để tự bênh vực, tự biện minh.
Trong công sở, Hóa Ky là các phần tử ngồi lê đôi mách, bép xép, “xí xọn”, hay “học tâm học tể”, vạch lá tìm sâu, gây chia rẽ, nghi ky, hiềm khích giữa đồng nghiệp, hoặc giữa cấp chỉ huy và viên chức thuộc cấp.
Trong một ẩn ý khác, Hóa Ky là người bị nghi ngờ, bị theo dõi, bị để ý. Thành thử, quan trường bị hôn ám bởi đám mây nghi hoặc, khó cho đương số thăng tiến. Đi chung với Phục Binh, sự đố ky có tính cách tầm thù, ám hại, chẳng những bằng lời nói mà còn bằng hành động. Cả hai sao đều tượng trưng cho tiểu nhân, cho sự nhỏ mọn. Đi với Thiên Hình, Hóa Ky dễ sinh quan tụng, thưa gửi, khiếu nại, điều trần, cảnh cáo, khiển trách, có khi có ẩu đả lẫn nhau.
Chỉ trừ khi đi với Thăng Long mới đẹp.
Thiên Không
Chỉ phần tử lưu manh trong công sở, chuyên môn phá hết kẻ này đến người khác, thọc gậy bánh xe, cản trở bước tiến của đồng nghiệp. Vì là ác tinh nên Thiên Không có ác tâm, có tà ý, có âm mưu phá hại, dìm, kìm kẹp. Bị Thiên Không, viên chức khó lòng ngóc đầu lên nổi, bị khép trong kỷ luật, trong sự khống chế, cụ thể như bị trù, bị đày, bị bỏ xó “ngồi chơi xơi nước”, mình làm mà thiên hạ hưởng, bị cấp trên hay cấp ngang cướp công.
Đà La, Kình Dương
Chỉ sự ngăn trở quan trọng vì ganh đua, cạnh tranh gay gắt. Ở vị trí hãm địa, đương số là nạn nhân của chia rẽ, phân hóa trong nghề nghiệp, làm việc nặng nhọc, gánh trách nhiệm mà bị tội vạ, hiểu lầm, khiển phạt. Những bạc bẽo của nghề thường do hai sao này quảng diễn.
Cự Môn hãm địa
Đồng nghĩa với Hóa Ky, nhưng nặng nề hơn. Cự ví như đám mây lớn, Ky như đám mây nhỏ. Ở vị trí hãm địa thì gây bất lợi cho công việc, cụ thể như gặp phải sự ghen ghét, hoài nghi, chỉ trích, ám hại, kiện cáo, tranh cãi, kìm kẹp, khống chế, bất công việc, cô lập, cạnh tranh, chung cuộc bao giờ cũng đưa đến bất mãn, thối chí.
Con người Cự Môn cũng như Hóa Ky lúc nào cũng bất mãn, mưu tìm sự tranh cãi, sửa đổi, cách mạng theo ý mình. Họ sẵng sàng nhập cuộc với những thành phần đấu tranh để chống lại mọi ngược đãi. Cự Môn và Hóa Ky không hề bảo thủ, trái lại đấu tranh thay đổi chống lại thành phần bảo thủ. Nếu được đắc địa thì việc đấu tranh có cơ hội thành công, trái lại, Cự Ky sẽ là nạn nhân của thái độ cấp tiến của mình, gánh lấy hậu quả của sự kìm chế, đè nén, cô lập.
Đi chung với các sao khác như Thiên Không, Kình Dương, Đà La, Phục Binh, đó là những người hay kết bè kết đảng để đấu tranh, để cách mạng, thay cũ đổi mới. Nếu có sát tinh đi kèm thì thường có đổ máu, hình ngục, thanh toán, trả thù qua lại. Đó là những bộ sao của binh biến, của truất phế, của đấu tranh, trực diện, của khuynh loát.
Tuế, Đà, Ky
Bộ sao này tượng trưng cho những xui xẻo liên tiếp trong quan trường, trong nghề nghiệp, trong đó có sự đè nén, thị phi, gièm pha, đố ky.
Ngoài ra, còn có những hao bại tinh rất đáng chú ý trong họa nghề nghiệp, mặc dù hình thái và mức độ họa nhẹ hơn.
Đại Hao, Tiểu Hao
Đi chung với quyền tinh, quí tinh, dũng tinh, Nhị Hao thường chỉ sự sa sút hậu thuẫn, sự sút kém tín nhiệm, sự mất mát thế lực, cụ thể như kém điểm, mất “bon trường”, xuống “cốt” bị người dưới khinh ghét, vì tư cách hạ tiện (trên dội dưới đạp).
Viên chức có Song Hao ở Quan, ngoài ý nghĩa hư danh, hư quyền, bị tổn thương uy tín, thất sủng, từ đó làm việc gì cũng không lâu bền, ở với ai cũng khó hòa hợp, có thể ngồi chơi xơi nước hay được giao những công việc chạy vặt, liên lạc, kém quan trọng.
Về mặt tâm lý, Đại Tiểu Hao ở Quan còn chỉ những người đứng núi này trông núi nọ, bất mãn không khí đang sống, lúc nào cũng chực hờ, tìm chỗ tốt, chỗ bở hay thay đổi chức vụ mà cũng chẳng hiển vinh gì bao nhiêu. Tính tình của Nhị Hao thường bất nhất, không bền chí, không kiên tâm tiến thủ trên cái gì đã có, mà chỉ lo đổi chỗ để tìm lợi lộc, tìm thăng tiến. Viên chức có Nhị Hao thường có xu hướng quyền lợi quá đáng làm cho quần chúng ghét, mở miệng là nói đến quyền lợi trước tiên.
Nếu được đắc địa thì Nhị Hao có lợi hơn về mặt tài lộc, kinh nghiệm.
Thiên Khốc, Thiên hư hay Tang Môn, Bạch Hổ
Trừ khi đắc địa ở Tý, Ngọ, Khốc Hư ở Quan biểu tượng cho những ưu tư, lo buồn, hoang mang, sợ sệt khi hành nhiệm. Ngoài ra, còn có đặc tính bị khinh ghét, bị chê bai vì bất lực, bất hòa. Người có Khốc Hư ở Quan không thoải mái trong công việc, phải quan tâm lo lắng nhiều mối, vì nhiều lý do, có khi phải gánh chịu nhục nhã, xấu hổ bởi tai tiếng, bởi thị phi.
Nếu đắc địa, các sao này chỉ uy tín và hoạt động chính trị, cũng như năng tài hùng biện, giáo khoa, xách động, tâm lý chiến.
Bất dụng, sai dụng, thiểu dụng
Có những người không hề bị cách chức, cũng chẳng bị ai hãm hại, mà tài năng vẫn cứ mòn dần trong bóng tối, như thanh gươm quý cất mãi trong vỏ.
Bất dụng là trường hợp người có khả năng mà không được ai biết để dùng, vào lúc đương sự có điều kiện phục vụ đắc lực.
Sai dụng là trường hợp một tài năng không được dùng đúng chỗ.
Thiểu dụng là trường hợp dùng không hết sức tài của mình.
Cả ba tình trạng trong khiến cho tài năng dễ mai một, thua buồn, bất đắc chí, nhất là đối với người có tài thật sự. Ba trường hợp trên cũng còn có nghĩa là không được biết công, không được tưởng thưởng tương xứng. Mặc dù đây không phải là mối họa cho nghề nghiệp, nhưng là một sự bất hạnh trong quan trường, tưởng cũng cần biết qua các sao quảng diễn.
Ta có dịp bàn về những sao Cự Môn, Hóa Ky, Thiên Không, Kình, Dương, Đà La, Phục Binh. Những sao này đều ứng trong ba trường hợp nhân dụng, đối với những lá số có nhiều sao tài năng. Chỉ cần liệt kê thêm vài sao bổ túc.
Lực sỹ, Kình Dương
Bộ sao này tượng trưng cho sự bỏ quên, việc ngồi chơi xơi nước, việc nghỉ giả hạn. Lực Sỹ chỉ tài năng, sự tháo vát, linh hoạt, lanh lợi, đồng thời cũng ám chỉ thành tích, công lao, chiến tích. Kình Dương chỉ sự ngăn cản, trở lực, trục trặc trong công danh. Cả hai hội ý chỉ sự thi thố hết mức tài năng...sự đãi ngộ bất xứng với thành tích, sự thiểu dụng, từ đó nảy sinh sự bất mãn, bất đắc chí.
Cũng cần lưu ý rằng bộ sao Kình Lực, không nhất thiết ngụ ý người có tài mà lắm khi ngụ ý người tự cho rằng mình có tài, vì bạc đãi nên bất mãn. Kình Lực đôi khi chỉ tham vọng, sự cậy tài, sự ỷ lại quá đáng làm cho quần chúng ghét bỏ, xa lánh.
Thiên Mã, Tràng Sinh ở Hợi
Thiên Mã thông thường chỉ tài năng. Gặp thêm Tràng Sinh là có cơ may tiến đạt. Nhưng hiềm vì ở cung Hợi (ban đêm) cho nên năng tài này bị chìm trong bóng tối. Đây là hạng người kém may, không có cơ hội thi thố được, hoặc chỉ có công danh mà không có quyền, chỉ có hư vị hơn là thế lực, hoặc bị đặt vào chỗ tượng trưng để lợi dụng uy tín chớ không phải để hành sử quyền binh.
Công lao của Mã Sinh ở Hợi thường chỉ ở trong bóng mờ, hay bị người khác lấn át.
Thiên Mã, Tuần, Triệt
Trong trường hợp Mã gặp Tuần hay Triệt không chỉ tai nạn xe cộ, thì ứng vào chức nghiệp, bộ sao này chỉ sự bất dụng, sự thiếu may mắn trong nghề nghiệp, làm cái gì cũng thất bại, tai ương, xui xẻo khiến cho thượng cấp mất dần tín nhiệm, không dám giao phó đại sự. Cho nên, công danh của Mã, Tuần, Triệt tương đối nhỏ.
Lộc Tồn, Tuần, Triệt
Lộc Tồn cũng chỉ tài năng như Thiên Mã, đặc biệt là tài tổ chức, quyền biến, khai sơn phá thạch, có nhiều sáng kiến giải quyết mọi việc. Gặp Tuần, Triệt tài năng, cơ may bị tiêu tán. Đó là trường hợp những người bị thiểu dụng, bị uổng dụng, bị sai dụng.
Thiên tài
Sao này đi chung với Nhật, Nguyệt sáng sủa sẽ làm mất đi sự tốt đẹp, làm giảm ánh sáng của Nhật, Nguyệt. Đó là trường hợp tài năng thiếu cơ hội.
Những sao kể trên có thể hợp chiếu với nhau để có thêm ý nghĩa phong phú hơn. Ví dụ Mã Sinh ở Hợi có thể gặp Phục Binh, ngụ ý người có tài bị ruồng bỏ, bị gièm xiểm, bị đào thải, kiểu như Khuất Nguyên bất đắc phải ngao du ta thán trên dòng sông Vị. Ví dụ như Lực Sỹ đi với Tuần, Triệt, Mã, Lộc Tồn gặp Tuần, Triệt hay Hóa Ky, Thiên Không v.v...
Ngoài ra, tại cung Quan mà vắng bóng những sao trợ quyền, những sao may mắn thì tài năng thường cô độc, thiếu người cộng lực, nâng đỡ, thiếu may mắn của thời cuộc. Đó là những sao Ân Quang, Thiên Phú, Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Quan, Thiên Phúc, Thanh Long, Bạch Hổ, Phi Liêm, Tràng Sinh, Đế Vượng, Thiên Hỷ, Hỷ Thần, Tử Linh, Tam Hóa v.v... Vì thế tại cung Quan, không những cần có chính tinh tốt đẹp mà phải có thêm trung tinh phò tá và cơ hội may hên trong khi vẫn tránh được sát, hình, hao, bại, ám tinh thì mới toàn mỹ.
Họa cho tài sản
Ngoài chiếc ghế quyền chức còn cái hòm tiền và mảnh đất, những thứ mà một cơn lửa, một cuộc kiện hay một người thân cũng có thể cuốn đi trong chốc lát.
Họa cho tài sản không nhất thiết xảy ra cho những người có của mà thôi mà có thể xảy ra cho mọi người, kể cả giới trung lưu, hạ lưu và người nghèo. Mỗi giới có thể bị một vài hình thái họa khác nhau. Người giàu có thể bị phá sản, còn người nghèo có thể vì đau yếu, cháy nhà, tang khó mà tán điền, hao tài, mắc nợ. Họa tài sản có hai tác dụng làm mất, giảm của cải và gây nợ, bất luận vì nguyên nhân gì, bất luận đối với ai. Họa tài sản của người nghèo vẫn xảy ra cho kẻ giàu.
Hình thái của họa này liên quan đến điền sản, hoặc là tiền bạc.
Đối với điền sản, họa tài sản là di luỵ đến nhà cửa, ruộng vườn, hoa màu, cơ xưởng làm ăn, xe cộ (khoa Tử-Vi xem như bất động sản), thuyền bè, hầm mỏ, và những hàng hóa, vật liệu đi liền với bất động sản như lúa gạo, xi măng, đường, muối, giấy, sách vở trong kho, vải vóc, nhiên liệu, máy móc, những đồ dự trữ v.v... Họa điền sản thường có nhiều hình thái khác nhau như cháy, sập, bị tịch thu, bị truất hữu, bị trưng dụng, bị cướp phá, bị sang đạo, bị kiện tụng, bị chiến nạn, bị thiên tai (hỏa hoạn, lụt lội, hạn hán), bị mất mùa, bị sâu bọ, bị mối mọt, bị mất giá, bị phá hoại v.v...
Đối với tiền bạc, họa tài sản di luỵ đến tiền mặt, đồng lương, vàng bạc, châu báu, cổ phần, trương mục. Hình thái có thể là bị trộm, bị cướp, bị sang đoạt, bị lường gạt, bị ăn chận, bị nợ nần, bị gái bòn của, bị phá sản vì lạm phát, vì tiền bạc sụt giá, bị trưng dụng, bị đóng thuế, bị siết nợ, bị thua bạc, bị con phá của, bị trả nợ cho cha mẹ, họ hàng, bị bệnh nặng.
Họa tài sản thường thấy xuất hiện ở hai cung Điền và Tài, ở những cung chiếu Điền (Tử, Phật, Bào), chiếu Tài (Phúc, Quan, một) cung Thân và các cung Hạn.
Họa tài sản có liên hệ nhiều đến cách nghèo, vì lý do giản dị là bị họa tài sản thì hao của. Nhưng nhiều khi không có dính dáng gì đến cách nghèo hay cách giàu. Một kẻ bần hàn chỉ cần mái tranh che mưa, trú nắng vẫn có thể bị cháy mất mái nhà đó. Một nhà giàu mà bị biến cố chính trị vẫn có thể sạt nghiệp như thường. Thành thử, tuy nghèo có thể là do họa tài sản, nhưng giữa nghèo và họa vẫn có khác biệt, mặc dù cả hai cách đều do những sao tương tự quảng diễn. Chính vì bắt nguồn từ những sao gốc giống nhau đó mà cách họa và cách nghèo hơi khó phân biệt. Gặp bộ sao xấu có thể đoán là họa hay là nghèo cũng được.
Khi xem họa tài sản, cần lưu ý các điểm sau:
- Chú trọng đặc biệt đến những cung chỉ tài sản hay có liên hệ đến tài sản.
- Quan tâm đến các hình chính tinh và phụ tinh có ý nghĩa tài sản, đặc biệt là vị trí hãm địa của tài tinh. Họa cách sẽ được quyết định ít nhiều bởi những bộ sao chỉ cách nghèo về điền sản và nghèo về tiền bạc.
- Đặc biệt quan tâm đến phá cách của phú quí cụ thể là sự hiện diện của sát, hình, hao, bại, ám tinh, giải tinh, Tuần, Triệt. Cũng cần để ý đến mức độ tập trung của các sao này, bởi lẽ càng hội tụ nhiều sao xấu, họa càng nhiều càng lớn.
- Quan tâm đến sự trùng phùng của đại hạn và tiểu hạn xấu. Sự trùng phùng này có ảnh hưởng nặng nề cho phá cách trong thời gian của đại, tiểu hạn.
- Quan tâm đặc biệt đến những lá số có Thân cư Tài.
Những họa tài sản thường được nhiều loại sao mô tả phối hợp, cụ thể như sát tinh đi liền với hao tinh, hình tinh với bại tinh, sát tinh với hình tinh và bại tinh, hao tinh. Phân biệt riêng từng loại thường dễ bị ngộ nhận. Duy, để dễ dàng cho thuật xem số, chúng ta đứng về mặt phân tích để chia các sao họa tài sản thành hai loại :
- những đại họa.
- những tiểu họa.
Sự phân biệt mức độ lớn nhỏ ở đây chỉ để gợi ý, hướng dẫn tuỳ thuộc vào thực tế của mỗi người.
Những đại họa tài sản
Ta gọi là đại họa để chỉ những biến cố lớn lao có ảnh hưởng trầm trọng đến điền sản và tiền bạc. Những biến cố lớn đó có thể là họa hoạn, lụt lội, lạm phát, chiến nạn, cướp bóc, truất hữu, trưng dụng. Ảnh hưởng trầm trọng ở đây là sự tiêu tán hết sự nghiệp, tài sản, sự mất đi đa số tài sản, sự mất quyền sử dụng hay hưởng dụng tài sản.
Về mặt này, có những sao điển hình dưới đây :
Địa Không, Địa Kiếp hãm địa
Trong bối cảnh một cung Điền hay cung tài xấu vì chính tinh hãm địa, sự hiện diện của 1 trong 2 sao hoặc của cả 2 sao này báo hiệu hiểm họa lớn lao cho tài sản. Kiếp Không mô tả chi tiết hình thái của hiểm họa. Hai sao này chỉ nói lên một họa lớn, có tính cách bất khả kháng, ảnh hưởng đến nhiều người cùng một lúc, đến nhiều quốc gia hoặc nhiều vùng trong xứ, đập mạnh vào những nguồn gốc lớn của nền kinh tế quốc gia, từ đó có tiếng dội mạnh mẽ trên tài sản cá nhân.
Có thể hình dung Kiếp, Không như một tai họa chiến tranh làm tiêu tán tài sản, một lạm phát đồng tiền làm mất giá cổ phần, chứng khoán, tiền bạc lưu hành, một thiên tai lớn hủy hoại nhà cửa, ruộng vườn, cơ xưởng, gia súc, xe cộ, máy móc, sinh mạng, hoặc một hành vi pháp lý của nhà nước có hậu quả nặng nề đến cuộc làm ăn của toàn dân, cụ thể như việc truất hữu ruộng đất, việc đánh thuế nặng nề, việc sung công các trương mục, việc quốc hữu hóa các công ty thương mại v.v...
Mặt khác, Kiếp Không còn có thể tượng trưng cho sự cướp của, sự hủy hoại tài sản cá nhân, sự đốt nhà, phá hoại hoa màu, mùa màng ... cơ xưởng kinh doanh, hoặc những tai nạn khác như đắm tàu, bị bom đạn hỏa thiêu sản nghiệp, mùa màng.
Vì tính chất nặng nề đó cho nên Kiếp, Không không thể vắng bóng trong đại họa. Hai sao này có thể xem như mực thước để đo mức họa : nếu gặp cả hai sao hội chiếu thì họa càng nặng, nếu chỉ có một thì tương đối nhẹ hơn. Hai sát tinh này vẫn có thể phối hợp với sát tinh, hình tinh, hao tinh, bại tinh, ám tinh khác để tác họa.
Chẳng hạn như hội với Phá Toái, Kiếp, Sát thì hệ số họa sẽ tăng lên cao, nguy hiểm nhiều hơn.
Càng hội tụ nhiều, số lượng càng chồng chất, họa vô đơn chí.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
