Bài tổng quan
Cung anh chị em ở trụ tháng và cách đếm số anh em
Hỏi một thầy xem số rằng nhà mình có mấy anh chị em, rất nhiều người đành chịu. Vậy mà có một cách đếm từ số chữ cùng hành trong tám chữ, đoán ra một giám đốc có bốn người anh em hai trai hai gái, và một nhà sư có đúng chín. Cách ấy chạy thế nào, và vì sao ở xứ nóng phải nhân đôi con số...
Trong lục thân của Tứ trụ, anh chị em là người khó đặt chỗ nhất. Trụ năm là tổ tiên, trụ tháng là cha mẹ, trụ ngày là mình và vợ, trụ giờ là con cái; còn anh chị em thì chẳng có ngôi nào riêng. Vì thế người đời sau không rõ họ thuộc cung nào, và rất nhiều thầy đoán chịu bó tay mỗi khi chủ số hỏi nhà có mấy anh chị em.
Trụ tháng là cung anh chị em, ngang vai và kiếp tài là người ruột thịt
Lấy ngôi nào đứng cho anh em là điều các thầy chưa thống nhất. Có người lấy thiên can địa chi của tháng sinh; có người lấy ngang vai, kiếp tài, kình dương; có người lại lấy ấn. Cách đáng tin hơn cả là một bản ghi cổ về lục thân:
Phàm đoán lục thân thì lấy năm làm cha, lấy thai làm mẹ, lấy tháng làm anh em, lấy ngày làm mình và vợ, lấy giờ làm con.
Câu ấy cho thấy trụ tháng chính là cung anh em, và thực tế kiểm nghiệm cũng khớp. Tuy nhiên can chi của tháng chưa chắc là một người anh chị cụ thể nào. Anh chị em ruột phải tìm ở những chữ cùng loại với nhật chủ: ngang vai, kiếp tài, lộc, kình dương. Thiên can cùng hành thì gọi là tỉ kiếp, địa chi cùng hành thì gọi là lộc hoặc kình dương. Ngày Giáp gặp Giáp là ngang vai, gặp Ất là kiếp tài, gặp dần là lộc, gặp mão là kình dương. Người sinh ngày Giáp mà thấy mộc trong trụ thì mộc ấy đều do mẹ là Nhâm hoặc Quý sinh ra, nên đều là dấu hiệu của anh chị em.
Với mệnh nam, can tháng là anh em trai, chi tháng là chị em gái. Với mệnh nữ thì ngược lại: can tháng là chị em gái, chi tháng là anh em trai. Can chi của tháng cùng ở vượng địa thì nói chung anh chị em đông và khỏe mạnh.
Cách đếm số anh chị em: đếm chữ cùng hành rồi xét sinh vượng
Câu hỏi ai cũng muốn hỏi nhất lại là câu ít thầy dám trả lời: nhà này có bao nhiêu người con?
Từ nhiều năm thử nghiệm, người luận số rút ra một cách làm: nếu trong Tứ trụ mộc là anh chị em thì đếm xem có bao nhiêu chữ mộc, rồi xét mộc ấy gặp đất sinh vượng hay đất tử tuyệt để định số lượng. Nắm vững sinh vượng của lệnh tháng thì độ chính xác càng cao; nếu có lệch cũng chỉ lệch một hai người.
Năm 1991, sang Xingapo và Thái Lan vừa giảng bài vừa khảo sát kỹ thuật dự đoán bằng Bát quái, Tứ trụ và tướng học, người ấy nhận thấy phương pháp của Trung Quốc dùng ở nước ngoài vẫn rất hợp. Riêng chuyện số anh em thì có độ lệch cố định: lá số cho ra sáu người ở Trung Quốc thì ở các nước Đông Nam Á như Philipin, Inđônêxia, Mianma, Malaixia, Xingapo, Thái Lan, Hồng Kông hay Ôtxtrâylia, phải lấy kết quả cân đối trong lá số rồi nhân đôi mới đúng. Có hai lý do được nêu ra: khí hậu nơi ấy thuận hơn, từ hàn đới sang ôn đới, á nhiệt đới rồi nhiệt đới thì sinh sản có xu hướng tăng rõ; và chuyện sinh nhiều hay ít còn do trình độ phát triển và quan niệm của từng xứ.
Những điều có thể hỏi về anh chị em thì rất nhiều: thời gian nào sinh trai, thời gian nào sinh gái, thai nào là trai, thai nào là gái, tất cả mấy người, nay còn mấy người. Nghe nói có những bậc cao thủ đoán được rất chuẩn nhờ "Thiết bản thần số", nhưng bí quyết ấy chỉ truyền trong gia đình, người giữ được bản ghi ấy cũng không hiểu nổi chỗ huyền bí của nó. Vì vậy ở đây chỉ nói số anh em theo kinh nghiệm bản thân.
Phân trai gái theo can ngày
Mệnh nam có can ngày âm thì can âm là anh em trai, can dương là chị em gái; can ngày dương thì can dương là anh em trai, can âm là chị em gái. Mệnh nữ có can ngày âm thì can âm là chị em gái, can dương là anh em trai; can ngày dương thì can dương là chị em gái, can âm là anh em trai.
Còn một cách khác: nam gặp ngang vai là anh em trai, kiếp tài là chị em gái; nữ gặp ngang vai là chị em gái, kiếp tài là anh em trai. Ngang vai nhiều là anh em đông, kiếp tài nhiều là chị em đông.
Dấu hiệu anh chị em đông, giàu sang và hòa thuận
Tỉ kiếp gặp nhiều thì anh chị em đông đúc. Tỉ kiếp nhiều mà ở đất sinh vượng thì đông, gặp suy thì ít. Tỉ kiếp đóng ở lộc hoặc gặp quý nhân thì anh em giàu có đầy đủ; gặp tướng tinh thì phú quý; gặp thiên đức, nguyệt đức thì lương thiện, thật thà. Tỉ kiếp đóng ở trạch mã thì anh chị em đi xa. Tỉ kiếp là dụng thần thì được anh em giúp đỡ. Ngang vai gặp lộc thì anh em có địa vị, gia đình hưng vượng. Tỉ kiếp ở trường sinh thì anh chị em khỏe, thọ.
Thân vượng mà có ấn thì anh chị em nhiều. Trụ ngày yếu, trụ tháng ấn vượng cũng nhiều anh chị em. Trụ ngày yếu mà không có tỉ kiếp thì lấy ấn để tính số anh em. Thân vượng, tài yếu thì anh chị em nhiều. Sát vượng, ấn phục, ngang vai không có khí thì em kính anh nhưng anh bất lực; quan vượng, ấn nhược, tài tinh có khí thì anh thương em nhưng em bất lực. Trụ tháng gặp quan tinh thì anh em quý trọng nhau. Tháng và ngày tương sinh thì anh em hòa thuận. Trụ tháng gặp trường sinh, đế vượng thì anh chị em đông; cha mẹ hoặc tỉ kiếp gặp trường sinh, đế vượng thì anh chị em rất đông.
Với cặp sinh đôi, nếu sinh ngày dương giờ dương thì anh mạnh hơn em; ngày âm giờ âm thì em mạnh hơn anh. Trong cặp ấy, người mệnh dương sinh sau thì khó nuôi hoặc mất trước; người mệnh âm sinh trước cũng khó nuôi hoặc mất trước. Thất sát vượng, tỉ kiếp nhiều thì anh em đông mà lại đồng tâm.
Bảy lá số đoán ra số anh chị em
Con số khô khan chỉ sống lại khi có người gật đầu: đúng, nhà tôi đúng như thế.
Lá số thứ nhất là của một giám đốc nhà máy họ Mạnh, năm Kỷ mão, tháng Giáp tuất, ngày Giáp ngọ, giờ Canh ngọ. Tháng 7 năm 1987, thấy trong Tứ trụ ba mộc lộ và một mộc ẩn, người xem đoán ông có bốn anh chị em, nên là hai trai hai gái. Ông nói đúng, rất chuẩn.
Lá số thứ hai là của một nữ mệnh sinh năm 1970, năm Canh tuất, tháng Ất dậu, ngày Mậu tuất, giờ Kỷ mùi. Người luận số có dịp tiếp xúc với giới xuất gia, nhất là nhà Phật, vốn không tin đoán mệnh. Ông nói với họ rằng với người tu hành, võ sư khí công và những người có công năng đặc biệt, giai đoạn trước khi vào đạo dễ đoán đúng, còn sau khi đã tu thì khó đúng. Lý do là mệnh vận tốt xấu chủ yếu do khí âm dương ngũ hành tác động, mà những người ấy tự điều chỉnh hành vi, làm thông các trở ngại của khí, giữ cho trường khí trong thân luôn cân bằng. Mấy vị hòa thượng nghe giảng rất tán thành, rồi nhờ đoán thử những chuyện trước lúc họ xuất gia. Người trong lá số này xuất gia năm 1982. Thấy trong Tứ trụ hai hành thổ Mậu và Kỷ, lộ lẫn ẩn, có tám chữ, lại được hỏa trường sinh sinh ra, người xem đoán có tám đến chín anh em. Quả nhiên là chín người, khiến các nhà tu hành có mặt đều kinh ngạc.
Lá số thứ ba là của một người lính già, nay là cán bộ cao cấp, ông Trần Mưu: năm Kỷ mùi, chi tháng mùi, ngày Ất hợi, giờ Bính tí. Ông tin mệnh từ bé vì được cha mẹ lấy số. Một mùa xuân nọ ông đưa giờ sinh để thử. Trụ năm là ngôi cha mẹ gặp đất trường sinh; giáp ất mộc tuy mờ, chỉ ám chỉ bốn số, nhưng ngày giờ hợi tí thủy tương sinh nên anh chị em nhất định đông. Người xem đoán ông có sáu anh chị em; ông nói rất đúng, giống lời đoán hồi nhỏ.
Lá số thứ tư là của một nam mệnh, năm Giáp ngọ, tháng Canh ngọ, ngày Canh tí, giờ Nhâm ngọ. Hai Canh kim lộ ra, lại gặp vượng địa; nhưng can năm Giáp mộc là thiên tài ở tử địa lại bị Canh kim khắc, chi năm là ngôi mẹ mà hỏa ngọ xuất hiện ba lần, quá vượng, nên người xem đoán cha mất, mẹ đi lấy chồng, và chỉ có hai anh em. Quả đúng như thế. Dù câu "tỉ kiếp ở trường sinh và vượng địa thì anh chị em nhiều" nói rằng lá số này đáng lẽ đông anh em, phải xem cả cha mẹ ở đất gì. Cha mẹ vượng, thân thể còn tốt thì con cái nhiều; cha mẹ không thuận hoặc sớm suy thì anh em chắc chắn ít. Vì vậy khi đoán phải kết hợp thêm nhiều nguyên nhân khác.
Lá số thứ năm là của một nữ mệnh, năm Quý tị, tháng Canh thân, ngày Mậu thân, giờ Nhâm tuất, đoán ở nước ngoài. Mậu và Kỷ là anh chị em, vừa lộ vừa ẩn tất cả sáu người. Nhưng thiên tài và chính ấn của cha mẹ đều ở vượng địa, nên người xem đoán một bà mẹ sinh mười hai người con. Cô nói quả đúng như thế.
Lá số thứ sáu là của một nữ mệnh, năm Đinh hợi, tháng Ất tị, ngày Kỷ hợi, giờ Giáp tí. Nhà có năm anh chị em, bốn người kia trước sau đều sang Canada, đúng câu: huynh đệ gặp trạch mã thì anh em đi xa.
Lá số thứ bảy là của một nam mệnh sinh đôi, năm Đinh mùi, tháng Mậu thân, ngày Giáp tí, giờ Giáp tuất. Hai anh em đều là mệnh nam. Người anh học vấn cao hơn, thông minh hiếu học, thích suy nghĩ nghiên cứu sâu, ấp ủ hoài bão trong học thuật, từng viết sách và nổi tiếng sớm; người em bình thường. Người sinh giờ dương ngày dương là anh mạnh hơn em; nếu sinh ngày âm giờ âm thì em mới mạnh hơn anh.
Dấu hiệu anh em xa cách, bất hòa và tổn thất
Cùng một mái nhà, cùng một dòng máu, thế mà có những người anh em chẳng chung nổi một chiếc bàn.
Trụ tháng có thương quan thì anh em bị thương tổn. Quan sát nhiều thì khắc anh chị em. Thìn tuất sửu mùi nhiều thì anh em xa nhau, tình nghĩa hờ hững. Tài nhiều thì ấn bị chết, ngang vai nhiều thì anh em không thân nhau. Trụ năm gặp sát, trụ tháng gặp thương thì anh em không hòa. Mệnh gặp hoa cái thì anh em ít. Lệnh tháng gặp xung thì anh em mỗi người một phương. Quan nhược mà thực thương mạnh lại gặp tỉ kiếp thì vì anh em mà liên lụy. Tài nhược, tỉ kiếp vượng, lại có ấn thì anh em bất hòa. Lệnh tháng nắm quyền quan sát thì tổn thất anh em nhiều.
Tứ trụ không có tỉ kiếp lẫn ấn tinh, nhỏ đã gặp vận tỉ kiếp, thì bản thân nhờ anh em họ hay bạn bè nuôi dưỡng mà lớn. Trụ ngày vượng, tỉ kiếp nhiều thì anh em bất hòa hoặc gia đình chia lìa. Tỉ kiếp cùng kình dương thì anh em bất hòa, hay cãi nhau. Tỉ kiếp bị xung khắc thì bất hòa hoặc nhiều bệnh tật. Tỉ kiếp xung khắc dụng thần thì anh em gây liên lụy cho mình. Tỉ kiếp rơi vào không vong thì không có anh chị em. Tỉ kiếp làm kị thần thì bị anh em làm hại. Tỉ kiếp đóng ở tang môn, điếu khách thì khắc anh em. Tỉ kiếp đóng ở đào hoa thì anh em phong lưu, hiếu sắc. Tỉ kiếp nhiều mà không bị chế phục thì cửa nhà ngầm tổn thương hoặc anh em vô tình với nhau. Nam gặp sát vượng hoặc tỉ kiếp là có anh mà không có em trai; thái quá hay bất cập thì cả anh lẫn em đều không có.
Bốn lá số anh em tổn thất hoặc bất hòa
Một nam mệnh, năm Mậu thân, tháng Giáp tí, ngày Quý hợi, giờ Nhâm tí. Trụ tháng có thương quan thì anh em có tổn thất. Nhất là khi can tháng gặp thương quan, người ấy trước hoặc sau khi sinh sẽ mất một anh hoặc chị; cũng có khi là mất em trai, em gái, hoặc em gặp tai nạn. Nói chung em chịu ít hơn, anh chị chịu nhiều hơn, đó là kinh nghiệm nhiều năm. Lá số này là của một lão hòa thượng hơn tám mươi tuổi, và vị ấy có một người anh đã mất.
Một nam mệnh, năm Giáp thìn, chi tháng mùi, ngày Mậu ngọ, giờ Bính thìn. Trụ tháng có thương quan, tuy không có tang anh chị nhưng bất lợi cho em trai: năm 1991 người em phạm pháp, bị giam. Vì vậy trụ tháng gặp thương quan thực tế là em trai bị khắc.
Một nữ mệnh, năm Kỷ mão, tháng Bính tí, ngày Bính ngọ, giờ Canh dần. Lệnh tháng gặp xung, chủ yếu là chi tháng và chi ngày xung nhau; vì ở sát cạnh nên sức xung lớn, xung tức là động. Cho nên lệnh tháng gặp xung thì anh em người một nơi, rất khó đoàn tụ. Lá số này tháng ngày tương xung nên anh em người nam kẻ bắc.
Một nữ mệnh, năm Quý mão, tháng Ất sửu, ngày Giáp tí, giờ Quý dậu. Tỉ kiếp và kình dương đều có nên anh em không hòa thuận, thường cãi vã nhau, suýt nữa người này mắc bệnh tâm thần.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
