Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Chín sao, tám hạn, cách lễ sao và cách tìm sao hạn của mình

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn30/09/202610 phút đọc5 lượt đọc
Chín sao, tám hạn, cách lễ sao và cách tìm sao hạn của mình

Cứ chín năm, có một năm giống hệt năm trước, chỉ vì mải lam lũ nên người ta không nhận ra. Người xưa gọi đó là sao chiếu mạng, mỗi năm một ngôi, và mỗi ngôi có một cách khấn, một ngọn đèn, một hướng lạy. Còn bạn năm nay gặp sao nào?


Người sống giữa trời đất: Đại Càn Khôn và Tiểu Càn Khôn

Mọi sự vật trong vũ trụ, kể cả con người, đều do tạo hóa sinh ra theo thuyết âm dương ngũ hành gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Con người mang âm dương trong huyết quản, xương thịt và trí óc, nên thiếu một phần linh hồn hay thể xác đều không sống được. Vì thế ai sinh ra cũng có số mạng riêng, kẻ giàu người nghèo, người sang kẻ hèn đều do tạo hóa sắp đặt. Nếu biết ngừa, biết làm điều tốt, biết lễ sao cúng hạn, làm lành lánh dữ, thì cũng có thể giảm bớt phần rủi trong năm.

Cõi mà ta không thấy, không biết gọi là Đại Càn Khôn, nằm trong khuôn khổ bát quái để chỉ sự bao la của vũ trụ. Cuộc sống ở trần thế gọi là Tiểu Càn Khôn, cũng nằm trong bát quái. Trong chín hành tinh, mặt trời là vị chỉ huy làm chủ sự việc còn các hành tinh là thụ động. Ta sống trong Tiểu Càn Khôn nên phải chịu ảnh hưởng của Đại Càn Khôn. Làm việc gì mà thiếu một trong các thành phần tạo hóa dựng nên thì khó thành công, như người có tài mà thiếu đức thì không hay, có âm mà thiếu dương cũng bất thành.

Chín sao và tám hạn

Từ Tiểu Càn Khôn, tức thân xác con người, mà có chín sao hạn: Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hớn, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức và La Hầu. Cát hung của sao hạn được đo bằng quan hệ giữa ngôi sao ấy với mặt trời (Thái Dương), mặt trăng (Thái Âm) và các biến thể của chúng. Điều này không chỉ khoa huyền bí của ta mới nói đến, các nước phương Tây cũng bị ảnh hưởng.

Mặt trời có vòng chín năm, trái đất quay quanh mặt trời trong một năm, tức 365 ngày, mặt trăng quay quanh trái đất trong 28 ngày. Theo âm lịch, sự đi lại của thái dương hệ ảnh hưởng đến con người, mỗi năm ứng vào một ngôi sao theo thứ tự. Sao Kế Đô là điềm xấu, hao tài tốn của. Khi gặp năm hạn ấy nên cúng tế cho đúng phương hướng, bài vị. Tác giả không hứa rằng cúng vái là hết rủi ro, nhưng nếu có làm thì cũng chẳng phải điều vô ích. Nếu để ý sẽ thấy cứ chín năm lại có một năm giống nhau, chỉ vì lam lũ làm ăn nên người ta không nhận ra.

Sao và hạn trong sách Tử Vi luôn đi đôi, nên mới có chữ cửu cung (chín sao) và bát quái (tám hạn). Tám hạn gồm Tam Kheo, Ngũ Mộ, Thiên Tinh, Toán Tận, Thiên La, Địa Võng, Diêm Vương và Huỳnh Tiền.

Chín sao và tám hạn không đứng riêng rẽ, mỗi năm một sao gặp một hạn, và kết hợp nhau thành năm tốt, năm xấu.

Sao và hạn kết hợp thành năm tốt xấu

Có năm sao tốt hạn xấu, có năm hạn tốt sao xấu, có năm cả sao lẫn hạn đều xấu, cũng có năm cả hai đều tốt. Sách lịch Tam Tông Miếu ghi lại những bài thơ đoán rất đầy đủ, mà nội dung chính có thể thuật lại như sau.

Tháng ứng với từng sao

Tháng bảy và tháng giêng phải coi chừng La Hầu, tháng tư và tháng tám thì phải giữ mình với Thổ Tú và Thủy Diệu, vì dễ động tình bi ai. Tháng năm gặp Thái Bạch là phạm kỵ nên cố công đề phòng. Thái Dương là chúa tể nhật cung, tháng mười và tháng sáu vận thông đắc tài. Năm Vân Hớn thì tháng hai và tháng tám dễ xảy ra thị phi. Kế Đô thì tháng ba và tháng chín khóc thầm sầu bi. Thái Âm là hoàng hậu nguyệt cung, tháng chín là cát, tháng mười một lâm khổ nạn. Mộc Đức thì bình an, riêng tháng Chạp được ban phước lành.

Tám hạn báo điều gì

  • Huỳnh Tiền: bệnh nặng nguy vong.
  • Tam Kheo: đau mắt, phải phòng chân tay.
  • Ngũ Mộ: hạn xấu, tổn tài.
  • Thiên Tinh: mắc vạ tai, ngục hình.
  • Toán Tận: nạn đến thình lình, đàn ông rất kỵ, có khi bỏ mình.
  • Thiên La: bệnh lạ, quỷ ma khuấy phá, tâm không yên.
  • Địa Võng: nhiều nỗi buồn than, lời ăn tiếng nói sinh chuyện rầy rà.
  • Diêm Vương: rất kỵ đàn bà, nếu lâm sản nặng thì nguy đến tính mạng.

Lời khuyên đi kèm là khấn nguyện hết lòng, giải nhượng cho đúng thì mới thoát vòng tai ương.

Cách lễ từng sao và lời đoán

Mỗi sao có phương hướng, giờ, ngày và lễ vật riêng, cùng một bài thơ đoán cát hung.

La Hầu

Sao La Hầu thuộc hành Thủy, hiện ở chính Bắc vào giờ Hợi, từ 22 đến 24 giờ. Mỗi tháng lễ vào ngày mùng tám, dùng bài vị giấy màu hồng viết chữ đen, lễ vật tinh khiết gồm hoa, trà, quả và chín ngọn đèn. Người gặp La Hầu trăm việc lo rầu không yên. Đàn ông thì dễ vạ đến quan, đàn bà nhiều nỗi gian nan buồn phiền. Đàn ông phòng khẩu thiệt và bệnh mắt, đàn bà lo bệnh huyết, thai sinh khó khăn nguy hiểm. Bài vị ghi: Thiên cung Thần Nữ, La Hầu Tinh Quân.

Thái Bạch

Sao Thái Bạch thuộc hành Kim, hiện ở chính Tây vào ngày 15, giờ Dậu, từ 18 đến 20 giờ. Bài vị viết trên giấy trắng, lễ vật gồm hương đăng, trà quả và tám ngọn đèn. Gặp Thái Bạch thì muôn điều chẳng được thỏa tình, đàn ông sầu muộn, có khi mất mạng, đàn bà rất kỵ, tai nghi không ngừng. Có quý nhân thấy mặt vui mừng, nhà thêm người, nhưng chuyện hôn nhân không nên dễ dãi, sợ bụng dạ vướng bệnh nguy. Ra vào phòng những việc bất kỳ, kẻ tiểu nhân mưu hại, ưu bi khá phòng.

Thổ Tú

Sao Thổ Tú thuộc hành Thổ, hiện ở chính Tây vào ngày 15, giờ Dậu, cũng dùng bài vị giấy trắng và tám ngọn đèn. Gặp Thổ Tú thì có việc quan đến mình, ra vào không hòa hài, phải đề phòng loài tiểu nhân. Đàn ông tai họa nhiều cơn, trong nhà xào xáo bất hòa, đêm nằm mộng mị thấy ma. Bài vị ghi: Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh Quân.

Thủy Diệu

Sao Thủy Diệu thuộc hành Thủy, hiện ở hướng Bắc vào ngày 21, giờ Hợi, từ 22 đến 24 giờ. Bài vị viết trên giấy màu xanh, lễ vật gồm hương đăng, trà quả và mười hai ngọn đèn.

Thái Dương

Gặp sao Thái Dương thì đầu năm được an khang. Đàn ông hoan hỷ trùng trùng, đàn bà e mắc phải nạn hung không chừng. Thái Dương chiếu sáng mọi nơi, đi xa thì tài lộc muôn vàng, gặp bậc đại nhân vui mừng, trong nhà thêm người, mọi trở ngại đều tan. Chỉ lo cho phận gái, không được yên vui như đàn ông. Cúng sao khấn vái thì ơn trời xuống phước, khỏi phiền khỏi lo. Bài vị ghi: Nhật Cung Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân.

Vân Hớn

Sao Vân Hớn thuộc hành Hỏa, hiện ở chính Nam vào ngày 29, giờ Tuất, từ 20 đến 22 giờ. Bài vị viết trên giấy đỏ, lễ vật gồm hương đăng, trà quả và mười lăm ngọn đèn. Đầu năm gặp Hỏa tinh thì giữ theo lối cũ cho lành mình. Đàn bà nhiều tai nạn bận lòng, đàn ông lo hình vạ. Hỏa tinh nhiều nỗi long đong, sợ thương tích trong thân mình. Đàn bà giữ lúc thai sinh, đàn ông vạ phạt hình khiên, nhiều điều bất lợi, bạc tiền tiêu tan, gia quyến chẳng yên. Bài vị ghi: Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Tinh Quân.

Kế Đô

Sao Kế Đô thuộc hành Kim, hiện ở chính Tây vào giờ Dậu. Bài vị viết trên giấy trắng, lễ vật gồm hương đăng, trà quả và hai mươi ngọn đèn. Gặp Kế Đô thì liên miên tai nạn, đàn bà phải phòng khẩu thiệt, đàn ông may thoát vòng tai ương. Gặp bậc đại nhân cũng chẳng được thương. Làm ăn xứ lạ thì biết bao lời lỗ, còn cứ ở nhà hoài thì nhiều đêm ám muội khó phân biệt. Bài vị ghi: Thiên Vĩ Cung Phần, Kế Đô Tinh Quân.

Thái Âm

Sao Thái Âm được gọi là hành Kim, hiện ở chính Tây vào giờ Hợi, từ 22 đến 24 giờ, mỗi tháng lễ vào ngày 26. Bài vị viết trên giấy bạc, lễ vật gồm hương đăng, trà quả và bảy ngọn đèn. Gặp Thái Âm thì việc gì cũng xứng tâm. Cầu danh cầu lợi cho mình, đi xa mới được tiếng tăm vang dội. Dù kiện cáo đến quan cũng đắc lý, mọi đường vẹn xong. Đàn ông hành động khởi công việc gì cũng hân hoan. Đàn bà thì tật ách không mang, nhất là chuyện sinh sản dễ mắc bệnh nan y. Bài vị ghi: Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Hậu Tinh Quân.

Mộc Đức

Sao Mộc Đức thuộc hành Mộc, hiện ở chính Đông vào ngày 25, giờ Tý, từ 24 giờ đến 2 giờ. Bài vị viết trên giấy màu xanh lục, lễ vật gồm hương đăng, trà quả và hai mươi ngọn đèn. Gặp Mộc Đức thì đàn bà chẳng lợi, phải giữ gìn tổn hao, dù có chút đau đớn thì năm này tháng nọ việc nào cũng xuôi. Đàn ông lo mắt, đàn bà bệnh về huyết, hôn nhân hòa hiệp, trong nhà già trẻ đều bình an. Bài vị ghi: Đông Phương Giáp Mộc Đức Tinh Quân.

Biết sao và hạn của từng sao rồi, còn một việc: tìm xem năm nay mình gặp sao nào.

Cách tìm sao hạn của mình

Muốn biết mình gặp sao nào, lấy số tuổi trừ đi chín, trừ mãi đến khi không trừ được nữa thì lấy số còn lại. Số còn lại là 0 thì coi như số 9, tức Mộc Đức với nam. Ví dụ tuổi 33 trừ ba lần chín là 27, còn 6, nam là Vân Hớn. Tuổi 41 trừ bốn lần chín là 36, còn 5, nam là Thái Dương. Tuổi 55 trừ sáu lần chín là 54, còn 1, nam là La Hầu. Cách tìm này, theo tác giả, là phương pháp riêng của ông, dùng cho bất cứ năm nào, tuổi nào.

Số còn lạiNam gặp saoNữ gặp sao
1La HầuKế Đô
2Thổ TúVân Hớn
3Thủy DiệuMộc Đức
4Thái BạchThái Âm
5Thái DươngThổ Tú
6Vân HớnLa Hầu
7Kế ĐôThái Dương
8Thái ÂmThái Bạch
9 (còn 0)Mộc ĐứcThủy Diệu

Ngày tốt để kết hôn

Có những ngày tốt để kết hôn rất chọn lọc, hợp với duyên số. Nếu không tiện thì có thể chọn một trong các ngày cực tốt sau: Bính Dần, Đinh Mẹo, Mậu Dần, Kỷ Mẹo, Bính Tý, Bính Tuất, Mậu Tý, Canh Dần, Nhâm Dần, Quý Mẹo.

Về ngày nghinh hôn cực tốt, ngày Giáp Dần và Ất Mẹo là ngày thiên địa hợp. Ngày Bính Dần và Đinh Mẹo là ngày nhật nguyệt hợp. Ngày Mậu Dần và Kỷ Mẹo là ngày nhân dân hợp. Ngày Canh Dần và Tân Mẹo là ngày kim thạch hợp. Ngày Nhâm Dần và Quý Mẹo là ngày giang hà hợp.

Đọc thêm trên lá số

Trong Tử Vi, sao hạn cũng được nhìn theo nhiều cách khác. Bạn có thể xem chín sao chạy theo năm, cách giải họa qua các cung tốt và vận hội tốt và triết lý chính danh.

Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn