Bài tổng quan
Câu phú Thái Vi bàn lẽ Cát Hung trong cung Thân Mệnh
Cùng một vì Lộc Tồn nằm ở Mệnh, có người hưởng trọn, có người lại gặp hung triệu khi Địa Kiếp xông tới. Con Thiên Mã gặp Tuần Triệt thì bôn tẩu cả đời, vậy mà đặt vào cung Bại địa lại có khi phát lên. Cái lý nào khiến sao tốt hóa xấu, sao xấu hóa tốt…
Lộc, Mã, Không vong và lẽ sinh khắc của các sao
Lộc phùng xung phá, Cát sử tàng hung.
Như Thân Mệnh cung phùng Lộc Tồn, hoặc tam hợp có Lộc, Địa Kiếp bị kỵ đến phá thì lại thành hung triệu. Như hạn đến cung có Lộc Tồn hay Hóa Lộc và hung tinh cùng hội cũng bị hung hại.
Mã ngộ không vong, chung thân bôn tẩu.
Như sao Thiên Mã gặp Tuần Không hay Triệt Lộ đóng ở cung Thân Mệnh thì cả đời bôn ba đây đó. Người sinh năm Giáp, Triệt Lộ không vong ở giữa cung Thân Dậu, nếu an Mệnh tại cung Thân có Thiên Mã tức là cách Mã ngộ không vong, chủ suốt đời bôn tẩu, nhưng gặp ở cung Bại địa thì trở lại phát vậy.
Sinh phùng Bại địa, phát dã hư hoa.
Giả như người sinh Thổ, Thủy Mệnh an Mệnh ở cung Tị là Tuyệt địa, nhưng may được Kim sinh Thủy, lại Tị là Thủy không bị tuyệt, cũng như cái lý mẹ đến cứu con. Nếu được Cát tinh chiếu cũng, ám hợp cũng phát được, nhưng cũng chỉ như đóa hoa mau tàn thôi vậy. Phàm Dần Thân Tị Hợi là Tứ Tuyệt và cũng là Tứ Sinh.
- Hành Kim, Sinh tại Tị, Tuyệt tại Dần
- Mộc: Sinh tại Hợi, Tuyệt tại Thân
- Hỏa: Sinh tại Dần, Tuyệt tại Hợi
- Thủy Thổ: Sinh tại Thân, Tuyệt tại Tị
Tinh lâm miếu Vượng địa, tái quan sinh khắc chi ư, Mệnh sinh cường cung, tế sát chế hóa chi lý.
Nếu các sao được ở nơi miếu vượng thì nên xem sự sinh khắc, Mệnh an ở cung nào phải xem sự xung khắc chế hóa của cung đó. Như người sinh thuộc Thủy Thổ Mệnh, Mộ khố ở cung Thìn, nếu cung Tài Bạch an ở cung đó thì gọi là Tài khố (khố nghĩa là cái kho), hay Quan Lộc an ở đó gọi là Quan khố, có sao Lộc Tồn tọa thủ gọi là Thiên khố, nếu có Sát tinh đồng lâm thì gọi là Không khố. Cung Thiên Di an ở đó gọi là Kiếp khố (Kiếp khố có nghĩa là cái kho của kiếp người, tốt xấu tùy theo sao tọa thủ).
Nhật Nguyệt tối hiềm phản bối.
Như Nhật Nguyệt: Nhật tại cung Tuất, Dậu, Hợi, Tý, Sửu; Nguyệt tại cung Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, đều gọi là phản bối (ngược lại). Vậy phải xem người sinh Thượng huyền, Hạ huyền. Nguyệt tại Thượng huyền vọng Nhật thì tốt, Hạ huyền mà hối (tối tăm) Nhật thì hung. Ngày 7, 8 là Thượng huyền, ngày 22, 23 là Hạ huyền. Nếu Nhật Nguyệt đồng cung muốn luận rõ họa phúc của Nhật Nguyệt, thì phải lấy giờ sinh để luận Nhật và ngày tháng sinh để luận Nguyệt. Ví dụ người sinh giờ Mùi, ngày rằm tháng hai có Nhật Nguyệt cư Sửu thì luận Nhật tốt, vì giờ Mùi tức là ban ngày mà Nhật cư Sửu; và Nguyệt thì ngày 15 là giữa tháng trăng tròn còn vọng Nhật, nên luận Nguyệt cư Sửu cũng được tốt vậy.
Lộc Mã tối hỉ giao trì.
Như người sinh năm Giáp Lộc tại Dần cung, và người sinh năm Thân Tý Thìn thì Thiên Mã cư Dần ngộ Lộc, như vậy gọi là Lộc Mã giao trì.
Không vong định yếu đắc dụng, Thiên Không tối vi hệ yếu.
Xem Triệt Lộ, không vong, Tuần Không cần phải xem cho cẩn thận, có chỗ dùng được, không phải bỏ vậy. Đó là Thiên Không rất cần yếu, nó như cái thắng xe: có sự nguy hiểm thì thắng bớt lại, hay xe tốt chạy mau ắt phải có cái thắng tốt thì mới không sợ sự nguy hiểm. Phải phân biệt Ngũ hành không: như Thân Mệnh duy chỉ gặp Kim không thì có tiếng tăm, Hỏa không thì phát đạt; hai hạn gặp được thì trái lại thành Phú trạch. Nếu là Thủy không thì sẽ bị tràn ngập, Mộc không ắt bị gãy, Thổ không thì bị hãm; hai hạn gặp lại thì là Họa bại. Ví dụ: Triệt ở cung Thìn thì gọi là Thổ không, ở cung Tị thì gọi là Hỏa không.
Nhược phùng Bại địa, chuyên khán phù trì chi diệu, đại hữu kỳ công.
Như Mệnh ở cung Bại Tuyệt có Tuần, Triệt không, lại nhờ có các sao tốt như Lộc Tồn, Hóa Lộc phù trì thì trái lại thành tốt đẹp vô cùng.
Tử Vi, Phá Sát, Tham Lang và những cách Quân Thần
Sao lành có lúc phải xoay chiều, sao dữ có lúc phải lùi bước; cái thế quân thần, phụ bật, hình tù đứng ở đó mà đổi thay.
Tử Vi, Thiên Phủ toàn y Phụ Bật chi công.
Như Thân Mệnh ngộ Tử Phủ lại được Phụ Bật thủ chiếu thì suốt đời giàu sang.
Thất Sát Phá Quân chuyên y Dương Linh chi ngược.
Hai sao Phá Sát ở nơi hãm địa rất ác, sự ảnh hưởng hung tàn bạo ngược như Kình Dương, như Linh Tinh; nhưng nếu Thân Mệnh ngộ Thất Sát và Phá Quân lại hội với Dương Linh thủ chiếu mới có thể chế ngự được.
Chư tinh cát phùng hung dã cát, chư tinh hung phùng cát dã hung.
Như ba phương Thân Mệnh có nhiều cát tinh thì xấu. Nhưng phải xem Cát, Hung tinh đắc, thất, vượng hãm và sinh khắc chế hóa ra sao rồi mới định được họa phúc.
Phụ Bật giáp Đế vi thượng phẩm, Đào Hoa phạm Chủ vi chí dâm.
Sao Tham Lang cũng gọi là Đào Hoa; Đế và Chủ là chỉ sao Tử Vi. Như Thân Mệnh có Tử Vi và Tham Lang đồng cung tức là Đào Hoa phạm Chủ, là nam nữ tà dâm, gian trá, xảo ngôn lệnh sắc, sau cũng tỉnh ngộ được; nếu lại được Phụ Bật giáp Tử Tham lại là đại quý, làm quan đến thượng phẩm; nếu bị thụ chế thì không được như vậy.
Quân Thần khánh hội, tài thiện kinh bang.
Như Tử Vi thủ Mệnh, được Thiên Phủ, Thiên Tướng, Xương Khúc đồng lâm, được Thiên Đồng, Thiên Lương tương chiếu (giáp Tử Vi), thế là cách Quân Thần khánh hội, ắt đại phú quý. Nếu gặp Kim tinh và Hình Kỵ, bốn sao đồng độ thì gọi là cách Phản bội, là tớ khinh Thầy, tội giết Vua trở thành họa loạn, cần phải suy cho kỹ. Như mệnh của An Lộc Sơn có Tử Phủ gia hội, Song Lộc triều viên, Tả Hữu củng chiếu, cho nên phú quý; nhưng chỉ hiềm có Tử Phá cư ở cung Thìn Tuất, và lại có Linh Tinh đồng vị ở cung Dần hợp chiếu, có Hóa Kỵ và chủ thần bất trung, sau bị hung vong.
Khôi Việt đồng hành vị cư Thai phụ, Lộc Văn cung Mệnh quý nhi thả phú.
Như Thân Mệnh có Khôi, Việt tức là tọa quý hưởng quý, vị đến Tam công, lại có Quyền Lộc Xương Khúc cát diệu chiếu lại thì được phú quý. Nếu bị Hình Kỵ tương xung thì giảm đi nhiều, còn có khi bị trắc trở hung hại.
Nhật Nguyệt giáp Mệnh, giáp Tài gia cát diệu, bất quyền tắc phú.
(Nếu gặp Dương Đà xung thủ thì không phải.) Nhật Nguyệt giáp Mệnh hay Tài Bạch có cát diệu củng chiếu thì không là người quyền quý thì giàu có.
Mã đầu đới kiếm, chấn ngự biên cương.
Mã đầu đới kiếm nghĩa là an Mệnh ở cung Ngọ (Mã) có Kình Dương (cái kiếm) ngộ Thiên Mã, Tham Lang. Người sinh năm Bính Tuất mà gặp là cách rất tốt. Được cách này thì có uy quyền chấn ngự ở biên thùy, làm về võ cách. Lấy Kình Dương cư Ngọ an Mệnh mà luận được phú quý nhưng không bền. Cách này phần nhiều là của quan võ ra trận, uy phong lẫm liệt thật, nhưng chơi dao có ngày đứt tay là lẽ đó vậy.
Hình Tù giáp Ấn, hình trượng duy ti.
Dương Nhận là sao Hình, Liêm Trinh là Thiên Tù, Thiên Tướng là cái Ấn. Như Thân Mệnh có Thiên Tướng, có Liêm Trinh và Dương Nhận giáp thì chủ người về việc quan mà phải thụ hình trượng chung thân, không bao giờ được phát đạt.
Thiện Ấm triều cương, nhân từ chi trưởng.
Như Thân Mệnh cư ở cung Thìn Tuất, có sao Cơ Lương (Thiện, Ấm) tọa thủ hay chiếu lại, có cát tinh tương trợ là người nhân từ nhất, là phú quý; nếu có Hình Kỵ Hao Sát thì chỉ nên đi tu.
Quý nhập quý hương, phùng giả hoạch lộc.
Như Thân Mệnh có sao Khôi, Việt tọa thủ ở Tý Ngọ, gia cát tinh Quyền Lộc lại chiếu thì phú quý, hạn gặp thì phát phúc.
Tài, Quan, Nhật Nguyệt và cửa vào phú quý
Khôi Việt đã vào quý hương thì kho của cải cũng mở ra ở những cung Tài, Quan và Thiên Di.
Tài cư tài vị, ngộ giả phú xa.
Tài tinh là Thiên Phủ, Vũ Khúc; tài vị là cung Tài Bạch. Như Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc cư cung Tài Bạch lại có Quyền Lộc hay Lộc Tồn, tất chủ giàu có lớn lao, hạn gặp thì chủ đại phát tài.
Thái Dương cư Ngọ vị chi nhật lệ trung thiên, hữu chuyên quyền chi vị, địch quốc chi phú.
Như Thân Mệnh ở cung Ngọ có Thái Dương tọa chủ, người sinh năm Canh Tân và sinh ban ngày thì quý đến thượng phẩm và phú gia địch quốc. Đàn bà gặp số này thì được vượng phu ích tử, phong tặng phu nhân.
Thái Âm cư Tý hiệu viết: Thủy đăng quế ngạc, đắc thanh yếu chi chức, trung gián chi tài.
Thái Âm cư ở cung Tý như giọt nước trên nụ hoa quế, ắt được chức vụ trọng yếu thanh cao, có tài trung trực can ngăn bề trên.
Tử Vi Phụ Bật đồng cung, nhất hô bá nặc.
Sao Tử Vi và Phụ Bật cùng cư trú một cung, an ở Thân Mệnh là số phú quý, gọi một tiếng trăm kẻ thưa, chung thân tươi đẹp.
Văn hao cư ư Dần Mão, chúng thủy triều đông.
Như Thân Mệnh cư cung Dần Mão, gặp Xương Khúc, Phá Quân lại có Hình, Sát xung phá là người hay kinh hãi. Hạn gặp được cát tinh thì bình thường, gặp hung tinh thì nguy khốn, chung thân tàn khổ, phí công lao lực.
Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu, hợp ám phúc tụ bất phạ hung nguy.
Như Thân Mệnh có sao Nhật Nguyệt và hội cát tinh cũng không là toàn mỹ, vì phùng hung tinh còn bị hung; nhưng được tam hợp có Nhật Nguyệt chiếu và có cát tinh thì mới là thật tốt.
Ấm phúc tại Thân Mệnh bất phạ tai ương.
Ấm phúc là Thiên Lương, Thiên Đồng cư cung Thân Mệnh phùng cát tinh thì không sợ tai ương hung hại, nhưng gặp Hình Kỵ cũng vẫn bị như thường.
Đào hoa, Sát Phá và những hạn nguy khốn
Sao lành che chở được thân, nhưng gặp Tham Lang ở Hợi Tý thì con nước đào hoa lại cuốn người đi.
Tham cư Hợi Tý, danh vi phiếm thủy đào hoa.
Như Thân Mệnh tọa cung Hợi Tý, gặp Tham Lang phùng cát tinh thì cát toàn. Nếu gặp Hình Kỵ ắt trai là hạng người lang thang phóng đãng, gái là hạng ca nhi dâm đãng.
Hình ngộ Tham Lang hiệu viết phong lưu thái trượng.
Như Thân Mệnh ở cung Dần có Tham Lang ngộ Thiên Hình là người thông minh, chủ phong lưu, hay chưng diện; nếu gặp Hình ở nhàn cung thì thường.
Thất Sát Liêm Trinh đồng vị, lộ thượng mai thi.
Như Thân Mệnh có sao Thất Sát, Liêm Trinh cùng tọa thủ là người chết đường.
Phá Quân ám diệu đồng hương tác trủng.
Ám diệu là sao Hóa Kỵ; như Thân Mệnh có Phá Quân gia Kỵ, Hỏa Sát thì chắc chết, hoặc ở cung Thiên Di cũng đoán như trên.
Lộc cư Nô Bộc, túng hữu quan dã bôn trì.
Như Thân Mệnh cung tinh bình thường, cung Nô Bộc ở cung Sửu Mùi ám hợp cung Quan, có sao Lộc Tồn lại có Quyền Lộc cát tinh thì đoán là có quan trước đẹp đẽ nhưng bị lao tâm khó nhọc bôn ba.
Đế ngộ hung đồ, tuy hoạch cát nhi vô đạo.
Như Tử Vi (Đế) thủ Thân Mệnh, ngộ Quyền Lộc Hình Kỵ cùng một cung, tuy là cát không hung nhưng là người tâm bất chính.
Đế tọa Mệnh khố tắc viết kim dư phủ ngự liễn. Lâm quan đồng, Văn diệu hiệu vi y cẩm nặc Thiên Lương.
Như sao Tử Vi thủ Mệnh, cung đằng trước có cát tinh, là như kim dư (xe nhà vua) phò vua, tức là được quyền cao chức trọng. Hay sao Tử Vi lâm cung Quan Lộc cũng đoán như trên. Lại gặp thêm Xương, Khúc, ví như áo gấm nặc hương thơm, tức là đã được quyền quý lại được tiếng làm đẹp đẽ vang lừng.
Thái Dương hội Văn Xương ư Quan Lộc, hoàng điện thủ ban chi quý.
Như Thái Dương hội Văn Xương miếu vượng ở cung Quan Lộc phùng cát tinh thì phú quý, làm đến tể tướng.
Thái Âm đồng Văn Khúc Thê cung viết: Thiềm cung triết quế, văn chương lệnh thịnh.
Như Thái Âm miếu vượng có Văn Khúc đồng ở cung Thê, lại có cát tinh đến phù giúp. Hạn đến mà gặp thì trai lấy vợ đẹp khôn ngoan, con nhà thế phiệt trâm anh; gái gặp được chồng thông minh quý hiển và được phong tặng.
Lộc Tồn thủ ư Điền, Tài tắc mai kim tích ngọc.
Như sao Lộc Tồn miếu vượng thủ hai cung Điền Tài thì chủ đại phú, có vàng chôn ngọc cất.
Tài ám họa ư Thiên Di, tất cự thương cao mại.
Tài tinh tức sao Vũ Khúc, ám tức là Thiên Lương. Hoặc hai hay một sao đó được Quyền Lộc và cát tinh tọa cung Thiên Di là người buôn bán to lớn; nếu gặp Hình Kỵ Sát thì bình thường.
Hao cư Lộc vị, duyên đồ khất thực.
Hao tức là Đại Hao, Tiểu Hao, Phá Quân cũng là Hao tinh; Lộc vị là cung Quan Lộc. Cung Quan Lộc có Hao tọa thủ lại gặp Hình Kỵ là kẻ ăn mày. Người sinh Dần Ngọ Tuất, Mệnh tọa cung Ngọ; người sinh năm Tị Dậu Sửu, Mệnh tọa cung Dậu; người sinh Thân Tý Thìn, Mệnh tọa cung Tý; người sinh Hợi Mão Mùi, Mệnh tọa cung Mão thì đúng cách.
Tham hội vượng cung, chung thân thử thiết.
Như Hao tinh, Tham Lang thủ Thân Mệnh, Quan Lộc ở vượng địa là người có quan lộc nhưng bần tiện lén lút, bị hư hao trộm cắp suốt đời.
Sát cư Tuyệt địa, yểu niên tuyệt tự Nhan Hồi.
Như Mệnh an ở cung Dần Thân Tị Hợi có Thất Sát gia Hình Kỵ lại là chỗ tuyệt của sao khác, cho có cát tinh hội chiếu nữa, hạn đến ắt chết non. Như Nhan Hồi, Mệnh tọa cư Khôi Việt cư Dần, Thân phùng Quyền Lộc Xương Khúc, hãm ư Thiên Thương nên không được phát đạt. Đại hạn đến sao Thất Sát hãm ở cung Hợi, năm Nhâm Thìn tiểu hạn cư Dần cung Mệnh, Thái Tuế, lưu Dương, lưu Đà cho nên chết vậy.
Kỵ ám đồng cư Mệnh cung, Tật nguy khốn nhược uông ly.
Như cung Thân Mệnh, Tật (Giải Ách) có Cự Môn, Kình, Đà, Kỵ là người nghèo khổ, bệnh tật liên miên, tiêu tan tổ nghiệp, bôn ba lao khổ.
Hình Sát hội Liêm Trinh ư Quan Lộc, giá hữu đồng lưu.
Như Hình Sát Liêm thủ cung Quan Lộc mà hai hạn gặp không họa hoạn thì ắt phùng hình, tù, gông cùm không tránh khỏi.
Quan phủ gia Hình Sát ư Thiên Di, ly hương tảo phối.
Như cung Thiên Di có sao Quan Phủ tọa thủ gia Hình Sát thì phải lập nghiệp nơi xa quê hương, gặp vợ gặp chồng.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số, Nguyễn Mạnh Bảo
