Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Ba đường chỉ tay chính: Mạng đạo, Trí đạo và Tâm đạo

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn30/09/20268 phút đọc6 lượt đọc
Ba đường chỉ tay chính: Mạng đạo, Trí đạo và Tâm đạo

Nhìn vào lòng bàn tay, người xem tướng không hỏi bạn giàu hay nghèo trước, mà tìm ba nét chỉ chạy qua đó. Một nét kể chuyện sống chết, một nét kể chuyện đầu óc, một nét kể chuyện trái tim. Cả ba đều có thể đứt ở đâu đó.


Ba đường chính trên lòng bàn tay

Bàn tay con người thiên hình vạn trạng, không ai giống ai. Trên lòng bàn tay có ba đường chỉ chính gọi là Mạng đạo, Trí đạo và Tâm đạo, bên cạnh vô số đường phụ khác. Ba đường này lần lượt nói về sinh mệnh và sức khỏe, về trí tuệ và sự nghiệp, về tình cảm và tình yêu.

Mạng đạo: đường của sống lâu, chết mau

Nhìn tổng quát, Mạng đạo ứng vào đời người ở chuyện thọ hay yểu, khỏe hay yếu, cùng những biến cố như tai nạn, bệnh tật hoặc phước đức, vẻ vang trong cuộc sống hiện tại. Sách nêu chín trường hợp thường gặp.

  1. Mạng đạo cụt ngắn, đứt khúc hoặc không hiện rõ: đời có bệnh hoạn, hay ưu tư ít vui, sức khỏe kém, có thể chết non.
  2. Mạng đạo sâu đậm, không đứt quãng, không bị nét nào chắn ngang: tinh thần cao, đời vui, hăng hái làm việc, nhiều sinh lực, ít khi ốm đau.
  3. Mạng đạo không suôn, ngoằn ngoèo, nhiều nét nhỏ như gai góc: tinh thần yếu đuối, sinh lực kém, tính gắt gỏng, làm ăn hay chán nản, thiếu kiên nhẫn, thường thất bại và nghèo khổ.
  4. Mạng đạo có vòng tròn như cù lao: đời hay đau ốm liên miên, vất vả nghèo nàn, đau bất thường, nhất là bệnh ở mắt.
  5. Mạng đạo bị một nét chắn ngang như chữ thập: đời sống bừa bãi, đam mê, chạy theo thói đời không mục đích, rất dễ sa ngã.
  6. Mạng đạo có nhánh tẻ lên như cây lúa và vượt qua Tâm đạo: người sung mãn, đời đi lên, có hạnh phúc, được nhiều người thương mến, say sưa yêu đời.
  7. Mạng đạo có hình tam giác: đời ít nhất cũng qua một lần tù tội nhưng không nặng. Có hình vuông thì số bị tù lâu năm, hoặc có thể gây án mạng.
  8. Mạng đạo có những đường nhỏ chĩa xuống cổ tay: đời nhiều bực mình, phiền lụy, phần nhiều trắc trở, có khi làm ơn mắc oán vì gánh họa của người khác.
  9. Mạng đạo có những đường nhỏ chĩa lên: nhiều hy vọng trong cuộc sống, điều mong cầu tính toán đâu ra đó đều hanh thông.

Các dấu trên Mạng đạo

Ngoài hình dáng chung, còn có những dấu điểm, chấm, vết mang hình tượng như cù lao, hình vuông, chữ thập, tam giác, đường chắn ngang. Dấu đứt khúc, ngắn cụt hoặc mờ lợt báo bệnh ở bên trong, sức suy yếu. Chỗ có nhánh nhọn như chà gai, Mạng đạo không suôn thì tánh tình thiếu kiên nhẫn. Có cù lao, mặt vảy hoặc chữ thập thì tánh nóng nảy, ngang tàng. Có hình ngôi sao ở giữa thì phước tướng tốt, giàu sang, có địa vị. Có hình vuông hoặc tam giác thì có thể bị tù tội, gian lao khổ cực, sống vất vả.

Từ đường sống còn của thân thể, mắt ta chuyển sang đường của đầu óc, nơi người ta đọc được học vấn và sự nghiệp.

Trí đạo: kiến thức và sự nghiệp

Trí đạo nói về sự nghiệp và kiến thức của mỗi người. Có mười trường hợp đáng chú ý.

  1. Trí đạo nằm ngay giữa lòng bàn tay, vừa sâu vừa đậm, sáng rõ, chạy thẳng: óc thông minh, học ít biết nhiều, khôn ngoan lanh lẹ.
  2. Trí đạo không chạy thẳng mà kéo ngang qua, không bị nhánh, chùm chĩa xiên lên hoặc xuống: người luôn cương quyết, muốn là làm, không ai ngăn được, ý chí kiên nhẫn, không lùi bước trước khó khăn.
  3. Trí đạo mờ thường nối liền với Mạng đạo, bắt đầu từ phía dưới cỡ hai phân ngón tay trở xuống, lại có những nét chắn ngang hình chữ thập: học vấn bị cách trở, hoặc hoàn cảnh trái ngược khiến kiến thức hẹp hòi.
  4. Trí đạo mờ lợt, đứt khúc, thêm một hoặc hai khoanh tròn: thiếu khôn ngoan, có khi khủng hoảng thần kinh dẫn đến mất trí.
  5. Trí đạo rõ, thẳng nét, thêm một hoặc nhiều dấu ngang hình ngôi sao: học một biết mười, khôn trước tuổi, mưu kế vượt bực, phần đông làm cố vấn, nhưng cũng là người xảo quyệt, có khi chủ trương hành động nguy hiểm.
  6. Trí đạo ngắn cụt lại cong queo: tánh giận dữ, lưu manh, đê tiện, lười biếng, sống bám người khác, phần nhiều ngu đần dốt nát. Nếu đời họ dư dả thì cũng làm những việc bất chính.
  7. Trí đạo đỏ thắm, thẳng, suôn, chạy sát tới bờ bàn tay: hiểu biết sâu rộng mọi việc, tính cương trực ngay thẳng, địa vị quan trọng trong xã hội, rất tốt.
  8. Trí đạo bị gãy, hoặc có nhiều dấu chữ thập hay hình vuông: học hành nửa chừng vỡ lở, tương lai lận đận, công danh chùn bước, số vất vả.
  9. Trí đạo thẳng mà ngoằn ngoèo, điểm nhiều hay ít chấm tròn nhỏ: khá lợi hại, trong lòng thường mưu toan độc ác, nham hiểm, ích kỷ, tham quyền cố vị, chủ tâm hại người.
  10. Trí đạo có chấm son, tàn nhang hoặc cù lao nhô lên, màu hồng ửng: tốt số, có thể làm nên sự nghiệp lớn, không chỉ ở chốn quan trường mà trên bất cứ lĩnh vực nào, nhờ kiến thức rộng, học hành thi cử đỗ đạt cao, hưởng vinh quang phú quý.

Các dấu trên Trí đạo

Nét chỉ ngắn, có chữ thập và cù lao là kiến thức hẹp hòi, học hành dở dang. Trí đạo thẳng nét, rõ ràng và đậm là người học rộng tài cao, lý trí xét đoán mưu kế giỏi. Trí đạo cong queo, cụt mà có tia nhánh chĩa lên là gan dạ can đảm, sâu độc nhưng lại hiểm ác. Trí đạo suôn dài, nét chỉ màu hồng là có danh vị lớn trong xã hội và giàu sang tột bực. Trí đạo tái mét, mờ lợt, đứt khúc hay chia nhánh là kém thông minh. Trí đạo có cù lao mặt võng song song, một đường nhỏ và một đường lớn, thì thường bị bỏ rơi, đau khổ và hay thất bại trên đường đời.

Sau đầu óc là trái tim, đường chỉ nói về cả sự nghiệp lẫn tình yêu của mỗi người.

Tâm đạo: tình cảm và tình yêu

Tâm đạo nằm ở hàng thứ ba tính từ trên, chỉ về nội tâm, gia đình, tình cảm và tình ái. Sách đưa ra mười trường hợp.

  1. Tâm đạo dài và đậm: người có nhiều đức tính tốt, có lý trí xét đoán, Tâm đạo tốt, có âm đức.
  2. Tâm đạo ngoằn ngoèo, mờ lợt, đứt khúc và ngắn cụt: lòng dạ chai đá, không xúc cảm, thiếu tư cách, lạnh lẽo với mọi người, tâm trạng lúc nào cũng bối rối.
  3. Tâm đạo rõ rệt, dài, nằm song song với Trí đạo hoặc ở khoảng giữa rồi quằn xuống và có tia nhánh chĩa lên: tâm hồn nghệ sĩ, thích giao du nay đây mai đó, ưa ca nhạc, làm thơ văn.
  4. Tâm đạo lớn nhất, dài, lốm đốm ít nhiều khoanh tròn, nhánh chĩa xuống, thêm vài dấu chữ thập hoặc mặt võng: đời âu lo, đau khổ về tình yêu.
  5. Tâm đạo mỏng, chia làm hai lằn, lằn dưới có dấu chữ thập và nhiều tia nhánh chĩa lên: tâm hồn lãng mạn đa tình, hay đam mê trụy lạc, thường có những mối tình không đứng đắn.
  6. Tâm đạo hồng ửng, suôn và dài, kéo dài quá bờ bàn tay khoảng hai phân dưới ngón út, thêm vài ngôi sao: rất may mắn trong tình duyên, cùng với nghề nghiệp có thể thành công về kỹ thuật.
  7. Tâm đạo ở cuối, tức phần dưới ngón út cách khoảng một phân rưỡi, có một hai ba hình tam giác: cuộc sống khắc khổ, tình cảm xáo trộn, thiếu hạnh phúc, rủi nhiều may ít, đời cô độc buồn tẻ.
  8. Tâm đạo chấm dứt ngay ở ngón giữa, hai đầu có dấu chữ thập hoặc ngôi sao: tâm trạng chán chường thế sự, lòng dạ bùi ngùi nghĩ vẩn vơ, người như vậy sau này sẽ tìm chốn tu hành ở chùa hoặc nhà thờ.
  9. Tâm đạo có ít nhiều cù lao gần bờ bàn tay: dù nam hay nữ đều số đào hoa, được nhiều người yêu nhưng yêu đương thay đổi như xiêm đổi áo.
  10. Tâm đạo đỏ, thẳng, không chia nhánh ràng rịt, không bị chữ thập cắt đứt, không có hình vuông, dài từ bờ bàn tay đến vượt lên dưới ngón trỏ: người dám làm những việc phi thường.

Đọc thêm trên lá số

Muốn đối chiếu chuyện thọ yểu, trí tuệ và tình cảm với lá số Tử Vi, có thể xem cách đọc sao làm yểu và cách thọ, hay tìm hiểu bộ sao văn tinh chỉ về học vấn, và cả cách đọc chuyện ái tình trong bảng số.

Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn