Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Các sao làm yểu, cách thọ và cường nhược của tuổi già

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202614 phút đọc2 lượt đọc
Các sao làm yểu, cách thọ và cường nhược của tuổi già

Kình Dương thủ Mệnh ở cung Ngọ được ví như gươm kề cổ ngựa; Thái Dương rơi vào cung ban đêm thì chết bi thảm. Nhưng sang đến tuổi già, những sao ấy đổi nghĩa, và cả những cung từng cường thịnh cũng bỗng thành yếu ớt. Vì sao người già lại đọc lá số bằng một thước đo hoàn toàn khác…


Các sao yểu và nơi chúng có nghĩa

Những sao yểu chỉ có nghĩa rõ ràng khi đóng ở cung Phúc, cung Mệnh, cung Thân hoặc cung Hạn của tuổi tráng niên. Nếu có nhiều yểu cách hội tụ ở Mệnh thì thời gian yểu xảy ra trước 30 tuổi. Nếu hội tụ nhiều ở Thân thì có thể chết sau 30 tuổi. Cung Hạn nào xấu nhất sẽ góp phần xác định rõ hơn hạn kỳ chết trong giai đoạn Mệnh hoặc trong giai đoạn Thân. Cung Hạn của tuổi già mà thật tốt có thể giúp kéo dài tuổi thọ thêm lên, cho dù Thân có tầm thường hay khá xấu.

Đối với người sống quá 30 tuổi, dù cho Mệnh có xấu cũng không đáng quan ngại vì họ đã bước vào cung Thân. Thành thử cung Thân và những hạn của cung Thân sẽ quyết định thời gian yểu.

Nói về các yểu của sao, phải công nhận rằng khoa Tử Vi không thiếu. Có thể nói rằng các chính tinh nào hãm địa đều có nghĩa yểu. Còn phụ tinh yểu thì bao gồm không những sát tinh mà cả hao tinh, bại tinh, ám tinh, hình tinh, kỵ tinh.

Yểu cách của chính tinh

Từ những nơi ấy, ta lần lượt đi qua từng chính tinh để xem mỗi vì sao mang theo bao nhiêu phần yểu.

Thông thường, yểu cách của con người do cung Phúc mà ra. Những cung Mệnh, Thân và Hạn chỉ bổ túc ý nghĩa cho yểu cách của cung Phúc mà thôi, trừ phi Mệnh, Thân đặc biệt xấu.

Tử Vi

Tử Vi là đế tinh, không có vị trí hãm địa, thấp nhất là bình hòa, không tốt, không xấu. Vì vậy, yểu cách của Tử Vi tương đối nhẹ hơn các chính tinh khác.

Tuy nhiên, đi chung với Tham Lang thì giảm thọ, với Phá Quân thì phải ly hương mới sống lâu, với Tuần hoặc Triệt thì yểu, với Kình, Đà, Không Kiếp thì bị hãm bại. Yểu cách rõ ràng nếu Tử Vi ở những vị trí bình hòa như Hợi, Tỵ, Mão, Dậu vì tại bốn cung này, uy lực của Tử Vi rất tầm thường.

Liêm Trinh

Đi với Thất Sát, hoặc Tham Lang, Liêm Trinh chẳng những yểu mà họ hàng cũng có người chết sớm, bằng không cũng bị ác bệnh tù tội, nghèo hèn tha phương cầu thực.

Đi với Quân thì phải xa quê và vất vả mới thọ.

Thiên Đồng

Đóng ở Dậu, Thìn, Tuất, Đồng có nghĩa giảm thọ và xa cách họ hàng. Đồng cung với Cự Môn cũng yểu, hay bị quan tụng, và tranh chấp nhau trong gia đình.

Đồng cung với Thái Âm ở Ngọ cũng kém thọ và cô độc.

Vũ Khúc

Giảm thọ nếu đồng cung ở Thất Sát hay Phá Quân. Ngoài ra còn cô độc, rời tổ. Họ hàng cũng nghèo và yểu.

Thái Dương

Đóng ở những cung ban đêm như Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý thì xấu: yểu và chết bi thảm, nhất là đối với người sinh về đêm. Ngoài ra, Âm Dương cùng hãm địa phối chiếu với nhau hoặc xung chiếu nhau cũng là yếu tố đối khắc vận mệnh quan trọng.

Thiên Cơ

Sao này chỉ xấu nếu đồng cung với Thái Âm ở Dần, đặc biệt là đối với phụ nữ.

Thiên Phủ

Tuy Phủ không có vị trí hãm địa nhưng ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu thì không hay. Đồng cung với Tuần, Triệt, Không, Kiếp, Thiên Không càng bất lợi hơn vì những sao này làm giảm thọ.

Thái Âm

Đóng ở những cung ban ngày như Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, đối với người sinh ban ngày, Thái Âm hãm địa, kém thọ, nhất là đối với con gái. Ý nghĩa cũng tương tự nếu Âm đồng cung với Thiên Đồng ở Ngọ hoặc Thiên Cơ ở Dần.

Cự Môn

Không tốt ở Thìn, Tuất vì giảm thọ, hay bị quan tụng. Ý nghĩa tương tự nếu đi cùng với Thiên Đồng.

Thiên Tướng

Tướng xấu ở Mão, Dậu, lúc thiếu thời, chỉ khi về già mới có may mắn.

Thiên Lương

Giảm thọ ở Tỵ, Hợi, hoặc đồng cung với Thái Dương ở Dậu.

Thất Sát

Đóng ở Thìn, Tuất, hoặc đồng cung với Liêm Trinh, Vũ Khúc thì yểu và chết vì binh đao, hình ngục.

Riêng ở Tý, Ngọ, tuy kém Phúc, ly hương nhưng cũng còn có ít nhiều cơ may thọ. Vị trí ngưỡng đầu ở đây chỉ lợi cho tài quan hơn là phúc thọ.

Phá Quân

Phá Quân xấu ở Thìn, Tuất, Dần, Thân hoặc khi đồng cung với Liêm Trinh, Vũ Khúc, Tử Vi.

Tất cả các sao ở những vị trí kể trên mà gặp thêm sát tinh Kình, Đà, Không, Kiếp, Hỏa Linh thì tuổi thọ nhất định giảm. Nếu cung Mệnh, Thân cùng xấu, yểu cách dễ đoán.

Yểu cách của phụ tinh

Chính tinh chỉ mới đặt nền; những vì sao dữ mới là kẻ đặt bàn tay lên tuổi thọ.

Nói chung, sát tinh, hung tinh, hao tinh, bại tinh, hình tinh, kỵ tinh, ám tinh là những sao góp phần định đoạt việc yểu của người lớn cũng như trẻ con.

Nếu các loại đó mà hãm địa thì tuổi thọ càng giảm. Trong số này, có riêng các sao có nghĩa yểu một cách trực tiếp: đó là Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, gọi chung là sát tinh (sao làm đoản thọ). Rất khó cân nhắc sự mạnh yếu vì thông thường sát tinh có đi chung với các tinh, giải tinh hay chính tinh đắc địa. Nhưng, nếu tách riêng ra để so sánh, có thể xếp theo thứ tự mạnh yếu sau đây:

Địa Không, Địa Kiếp

Hai sao này hết sức tai hại lúc hãm địa, có hiệu lực quân bình hay lấn át cả Tử, Phủ.

Hai sao này có ý nghĩa xấu toàn diện lúc hãm địa, tức là có liên quan đến cái chết, cái nghèo, cái họa, cái bệnh, cái tật, tóm lại nó tượng trưng cho sự gãy đổ nặng nề, mau chóng và bất khả kháng (nếu thiếu cát và giải tinh).

Đóng ở những cung Phúc, Mệnh, Thân tác họa toàn diện nó sẽ kéo dài suốt đời, dưới nhiều hình thái dưới một trong các hình thái kể trên. Con người càng lớn tuổi, hai sao này mạnh thêm với thời gian để gây họa, bệnh, tật, hoặc đồng loạt trên nhiều phương diện. Lúc bấy giờ, có thể xem như là họa vô đơn chí.

Nếu đóng ở cung cường khác như Quan, Tài, Di, Phu Thê, hai sao hãm địa này tác họa trên những lãnh vực này, một cách không chối cãi.

Đi với sát tinh hãm địa khác, Kiếp Không còn sát hại mạnh mẽ hơn. Đi với Đào hay Hồng cũng yểu.

Hỏa Tinh, Linh Tinh

Hai sao này được gọi là “đoản thọ sát tinh”, có hiệu lực làm giảm thọ, nhất ở hãm địa. Nếu đắc địa thì mức thọ cao hơn.

Đi chung với Kinh, Đà hãm địa thì phải chết thảm, với Kiếp Không thì càng nguy kịch hơn.

Kình Dương, Đà La

Giảm thọ nếu hãm địa là ly hương lập nghiệp vất vả. Đặc biệt ở bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Kình Dương ở Mệnh thì chết non.

Đi với sát tinh kể trên, tai họa càng khủng khiếp. Riêng ở Ngọ, Kình thủ Mệnh ví như gươm kề cổ ngựa, rất dễ nguy kịch. Nếu gặp thêm Thất Sát, Thiên Hình, chắc chắn phải yểu tử và chết tang thương.

Được cát tinh đi chung, thì may rủi đi liền với nhau.

Kiếp Sát

Chỉ khi nào thủ Mệnh, Kiếp Sát mới nguy kịch có ý nghĩa giống như sao Địa Kiếp, chỉ giảm thọ, đặc biệt là vì một bệnh hiểm nghèo, sau một cuộc giải phẫu.

Bại tinh, ám tinh và những sao góp phần tăng hiệu lực

Ngoài những sát tinh kể trên, yểu cách còn do bại tinh góp phần tăng hiệu lực. Đó là các sao:

  • Tang Môn, Bạch Hổ
  • Đại Hao, Tiểu Hao
  • Thiên Khốc, Thiên Hư
  • Bệnh, Bệnh Phù
  • Suy, Tử, Tuyệt
  • Thiên Thương, Thiên Sứ nhập hạn

Mặt khác, kỵ tinh, ám tinh cũng bổ túc cho yểu cách:

Hóa Kỵ, Đà La, Thiên Riêu

Ba sao này chỉ giảm thọ nếu đồng cung hoặc hội chiếu hoặc ở vị trí tam ám liên hoàn (Mệnh có một sao, hai bên giáp hai sao) hoặc đi cùng với Thái Âm, Thái Dương bất luận sáng hay mờ.

Hóa Kỵ cốt chỉ tốt khi đồng cung với cả Âm Dương ở hai cung Sửu và Mùi mà thôi.

Cô Thần, Quả Tú

Đi với sao xấu, Cô Quả chỉ giảm thọ hoặc là cô độc, đúng cho cả hai phái nam, nữ.

Giải Thần nhập hạn

Nếu có cả đại tiểu hạn cùng gặp Giải Thần cùng với các sao xấu thì chắc chắn phải chết một cách nhanh chóng. Sao này chỉ hóa giải được nạn nhỏ. Gặp đại nạn, đại bệnh, Giải Thần là tử thần, làm chết một cách nhanh chóng.

Sao xấu là đầu hội với Giải Thần ở đại tiểu hạn cũng không cứu gỡ được nguy cơ này.

Xương, Khúc

Hai sao này cũng báo hiệu chết non, nếu ở Nô, hoặc đồng cung với Liêm ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi, Mão, Dậu với Phá ở Dần.

Cần lưu ý rằng yểu cách còn lệ thuộc vào hai lý do khác:

  • Do tai họa nặng nề và bất kỳ xảy ra
  • Do bệnh hoạn nặng nề mà có

Họa và bệnh cần được tham khảo bổ túc với yểu cách để có thêm yếu tố xét đoán.

Cách thọ và những cung cường nhược của tuổi già

Đi hết những vì sao rút ngắn năm tháng, lá số quay sang phía bên kia: những người đã sống đủ lâu để thành người già.

Cách thọ hoàn toàn trái ngược với cách yểu. Khi nói thọ là nói đến sự sống lâu của người già. Chữ thọ ở đây không có nghĩa là sự tồn tại của trẻ nít. Thỉnh thoảng, trên 60 tuổi được xem là thọ.

Vì yếu tố thời gian đó cho nên xem thọ rất khó. Lý do là vì nội dung các sao phải được điều chỉnh theo lứa tuổi. Đối với người già, cát tinh, dù là sao chính hay sao phụ, cũng không còn ý nghĩa mạnh mẽ nguyên thủy mà bị giảm hiệu lực đi ít nhiều. Trong số các cung, có nhiều cung giảm giá, có cung lại thêm giá trị. Những sao xấu, trái lại, có xu hướng xấu thêm. Vì vậy, xem số người già, bắt buộc phải thích nghi theo tuổi, thay đổi ít nhiều hướng luận đoán, đặt nặng phương diện sức khỏe, bệnh tật đời sống tâm linh. Hầu như phải có một ý thức hệ mới, hoặc ít ra là một quan điểm riêng biệt về các cung, các sao, qui luật sinh khắc ngũ hành áp dụng cho tuổi già. Để làm sáng tỏ quan điểm này, ta cần cứu xét những mục sau:

Những cung cường, nhược của tuổi già

Quan niệm về các cung cường, cung nhược của tuổi trẻ và tuổi già có phần khác nhau.

Đối với tuổi trẻ, các cung cường bao gồm những cung quan trường, tiền bạc, thời thế, gia đạo (Phúc, Mệnh, Thân, Quan, Tài, Di, Phu Thê). Lý do là vì tuổi trẻ phải vật lộn với đời để sống, phải tìm nghề nghiệp sinh nhai, phải lo sinh kế nuôi mình và nuôi gia đình, phải bận tâm nhiều về gia cảnh, phải bị chi phối bởi thời cuộc.

Nhưng, đối với người già, hoạt động của họ bị giới hạn rất lớn. Những nhu cầu của tuổi trẻ không còn khẩn trương lắm đối với họ. Vả chăng, tuổi cao thì sức kém, năng lực phải hao mòn, tinh thần không còn quắc thước, tóm lại thiếu điều kiện để bôn ba, lăn lộn với đời. Người già thường sống thu hình, sống cho mình hơn là cho gia đình và cho xã hội với sức khỏe vật chất và tinh thần chớ không sống với quan trường, thời cuộc. Họ có những nhu cầu mới, những quan tâm khác. Vì vậy, không cung cường của người già không còn là Quan, Tài, Di, Phu Thê mà có thể chỉ là Phúc, Mệnh, Thân, Tật, Tử. Sắp vào tiên cảnh, các cụ chỉ lo đến sức khỏe. Cho nên những cung Phúc, Mệnh, Thân đối với họ không có ý nghĩa công danh, tài lộc mà rất nặng ý nghĩa bệnh tật. Cung Tật của người già trở thành một cung cường, có giá trị không kém gì cung Phúc. Còn về cung Tử, đó cũng là mối quan tâm không nhỏ. Khi chân đã mỏi gối đã chùn, họ chỉ còn trông mong ở sự giúp đỡ của con cái, cháu chắt, về tiền bạc, về tinh thần.

Quan niệm này có thể bao hàm ít nhiều biệt lệ đối với vài hạng người, nhưng, nói chung, đó là quan niệm khá phổ quát. Cho nên, xem số thọ của người già, cần lưu ý đánh giá lại một hướng luận cung cường nói riêng và các cung nói chung theo một hướng luận mới, cụ thể là chú ý về:

  • Tình trạng sức khỏe, vật chất, tinh thần.
  • Vấn đề thọ, yểu, cái chết, cái bệnh, cái họa.
  • Tình trạng con cái, đặc biệt là tương quan giữa con cái với các cụ, sự đoàn tụ, sự hòa khí, hiếu hay bất hiếu, thành đạt hay không thành đạt.

Còn các lãnh vực khác như nghề nghiệp, tiền của, gia nô, anh em, cha mẹ, điền sản thật ra không mấy quan trọng.

Những sao liên hệ đến tuổi già

Như đã trình bày, đối với bô lão, sao có thay đổi nội dung và cường độ.

Những tài tinh, quý tinh, văn tinh, đào hoa tinh, dâm tinh hầu như không còn ý nghĩa, nhiều lắm là chỉ mang ý nghĩa tiêu cực. Ví dụ như sao Hóa Lộc, Lộc Tồn, Vũ Khúc, Thiên Phủ… không có nghĩa là các cụ còn tự mình tạo ra lợi tức, sản nghiệp, tiền bạc mà có thể chỉ có ý nghĩa là được hưởng, được nhận lợi tức tiền bạc từ những người khác. Ví dụ như sao Hóa Quyền không có ý nghĩa quyền tước, danh phận do mình tự tạo mà có thể chỉ có nghĩa là uy tín, dư âm của thế lực đã có, ký ức về quá khứ công danh, nhiều lắm là sự trọng vọng, ngưỡng mộ của người đời đối với mình. Sao Hóa Khoa, Văn Xương, Văn Khúc không còn có nghĩa là: đi học hay đỗ đạt khoa bảng, mà chỉ có nghĩa vui thú điền viên, đọc sách ngâm thơ, nghiên cứu, sáng tác cho qua cơn nhàn rỗi. Còn về những đào hoa tinh: dâm tinh của tuổi già thì các sao này giảm lực theo tình trạng “hết xí quách” của các cụ, có lẽ loại trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi của một số cụ “già Ba Tri”, dùng hầu non để tạo ảo giác kéo dài tuổi thanh xuân trong phương diện tình ái. Đó là nói về cát tinh.

Đối với hung, sát tinh, nội dung và cường độ cũng thay đổi nhiều. Những hung tinh, hình tinh, hao tinh, bại tinh, kỵ tinh, ám tinh không mất nghĩa, mà được tăng nghĩa và biến nghĩa. Ví dụ như 6 sát tinh thông lệ là Không, Kiếp, Kình, Đà, Linh, Hỏa tác họa mạnh hơn lúc còn trẻ, cụ thể là gặp sao đó, một bệnh, một tật sẽ có thể sinh ra 2, 3 bệnh tật dây chuyền vì hệ thống hô hấp, bài tiết, tiêu hóa, điều khiển đều đã nhão, tác động liên hoàn nhau nếu một bộ phận bị suy hay liệt. Đối với họa cũng vậy, cụ già gặp hỏa hoạn hay thiên tai chạy chậm hơn tráng niên có thể vì đó mà dễ chết. Gặp Thiên Hình, Kiếp Sát cụ già bị mổ, ít hy vọng sống hơn bọn trẻ. Các nghĩa của sao xấu thiên về bệnh tật nhiều hơn là họa. Dù sao, có thể nói, đối với bô lão, sao xấu là đám âm binh lúc nào cũng giơ lưỡi hái tử thần hăm dọa mạng sống của các cụ.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề