Bài tổng quan
Giỏi văn hay giỏi võ: đọc ngành học qua bộ sao văn tinh
Một bộ sao có thể cho biết ai đó học giỏi, nhưng giỏi về cái gì — cầm quân hay cầm bút, làm luật sư hay làm ca sĩ — lại là câu hỏi khác hẳn. Và dù học giỏi đến đâu, văn tinh vẫn phải đóng đúng chỗ trên lá số thì mới thực sự có giá trị...
Mục lục · 2 phần
Biết một người có chất học giỏi mới chỉ là nửa câu chuyện; nửa còn lại là học giỏi về việc gì — binh nghiệp hay bút nghiên, pháp đình hay sân khấu. Để khép lại hệ thống luận về khoa bảng, tác giả dành đoạn cuối cho việc chia ngành nghề theo từng nhóm sao, rồi nhấn mạnh một điều kiện sau cùng: cái học chỉ có giá trị thực khi các sao ấy an vị đúng nơi trên lá số.
Các ngành học trong khoa Lý số
Dưới triều Tống, thời của Hi Di, nền học thuật gần như chỉ xoay quanh hai trục là văn và võ. Khung ấy đã chật hẹp so với văn hóa hôm nay, khi mỗi lĩnh vực đều tách ra thành vô số chuyên khoa. Muốn cho Lý số theo kịp thời đại, người viết mạnh dạn suy diễn một bảng ngành nghề tổng quát, căn cứ vào các sao tọa thủ hoặc chiếu về ba cung Mệnh, Thân, Quan.
Võ học
Lý số hầu như không có sao nào trực tiếp báo hiệu việc học võ; cái có sẵn là những sao báo hiệu nghiệp võ, và chính từ nghiệp võ người ta mới lần ngược lại mà đoán đương số từng học võ. Khi bốn sao Thất Sát, Phá Quân, Liêm Trinh, Tham Lang tụ đủ để cùng chiếu Mệnh, nghiệp võ hiện ra rất rõ. Song thực tế không cứng nhắc như vậy: có quân nhân chính hiệu mà chỉ gặp hai hay ba trong bốn sao, lại có người hội đủ bốn sao mà chẳng hề mặc áo lính. Với trường hợp sau, bộ sao chỉ tả võ tính, nghĩa là bản chất mạnh bạo, hiếu thắng, chứ không đích danh chỉ việc học võ hay nghề võ.
Bộ Binh Hình, Tướng Ấn cũng là dấu hiệu của sự hiển đạt trên đường binh nghiệp: người có tài tác chiến, tài tham mưu, lập được chiến công, biết cầm quân và được ban huân chương. Vũ Tướng kết hợp thì nghiệp võ cũng nổi bật chẳng kém. Tử Vi, Thiên Phủ đi cùng Vũ Tướng vừa mang nét văn vừa mang nét võ nên đặc biệt nhiều quyền uy; đó là con đường võ nắm chính quyền, hay gọi là "văn chế võ". Tướng Quân đi với Thiên Mã cho ra quân nhân có tài: Tướng Quân nói phần võ tính, tức cương cường, hiếu thắng, phách lối; Thiên Mã nói phần tài năng thật sự. Thiên Mã đi với Thiên Tướng cũng cùng nghĩa ấy, nhưng người này kỷ luật hơn, bởi Thiên Tướng vốn đôn hậu và có tư cách hơn Tướng Quân. Thiên Mã cùng Lực Sỹ là cách võ tướng có sức mạnh, vũ dũng đấy nhưng nhiều khi chỉ thuần dũng mà kém mưu. Ba sao Thiên Tướng, Tướng Quân, Phục Binh, khi ghép đôi với nhau, được gọi là cách "lưỡng tướng" hay cách "Tướng Binh": tướng mà có quân, tức nắm thực quyền trong tay.
Bên cạnh đó còn có nhóm sao trợ vũ, đứng cạnh các võ tinh để làm nghiệp võ thêm đậm nét: Không, Kiếp; Kình, Đà; Hỏa, Linh. Đây vốn là sát tinh, hung tinh, tả tính nết mạnh bạo, dám làm, rất hợp tác phong người theo binh nghiệp. Chẳng hạn hai sao Kình, Hỏa đồng cung ở nơi miếu địa là cách của bậc danh tướng, ăn khớp với các cách Sát, Phá, Liêm, Tham. Khi các sát hung tinh ấy vây quanh võ tinh, cách cục của đương số càng lộ rõ: Tướng, Mã, Không, Kiếp đắc địa là vị tướng cầm quân, binh sĩ đông đảo dưới trướng, thường dựng nên sự nghiệp rực rỡ trong buổi loạn ly. Còn Sát, Phá, Liêm, Tham gặp Kình hãm địa tại Mão hoặc Dậu thì lại là tướng gặp loạn, dễ đảo chính, binh biến, hoặc hành xử tàn bạo, khát máu, giết người không run tay.
Nhìn chung, nghiệp võ trong Lý số không rành mạch, ngoại lệ lại nhiều. Có lá số thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật hay Cự Cơ mà vẫn làm nghề võ; ngược lại, có lá số mang cách Sát Phá Liêm Tham mà lại theo nghề văn. Đó là chỗ mơ hồ của môn học này, cho thấy ở một vài mảng nó chưa thật cụ thể và chính xác. Đương nhiên, cả võ học lẫn võ nghiệp ở đây chỉ nói về phái nam; sách hoàn toàn không đề cập đến nữ võ tướng.
Văn học
Về mặt văn học, sách chỉ ghi nhận được các ngành văn khoa, luật khoa, sư phạm, dịch thuật, hành chính học, chính trị học và hùng biện, tất cả tạm gộp vào một nhóm. Văn Xương, Văn Khúc báo hiệu các môn văn chương, triết lý, hay rộng ra là việc học nói chung. Không nhất thiết phải đủ cả hai sao mới học được văn hay triết, nhưng có đủ đôi thì ngành học sáng rõ hơn hẳn. Chỉ cần một trong bốn sao Thái Tuế, Thiên Hình, Cự Môn, Quan Phù cũng đủ nói việc học luật; Lý số không tách riêng công pháp với tư pháp. Khi Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật tề tựu, đó là ngành dịch thuật: Tả Phù, Hữu Bật đứng cạnh Xương, Khúc gợi hình ảnh người biết nhiều thứ tiếng, nói và viết được nhiều ngoại ngữ, tức người làm nghề phiên dịch, dịch sách, tu thư, khảo cứu cổ ngữ.
Hóa Kỵ đại diện cho tài hùng biện và cách dùng lời nói, rất hợp với ngành sư phạm và khoa hùng biện; sao này có thể sánh đôi cùng Văn Xương, Văn Khúc. Vì cùng thiên về ăn nói, các sao ấy còn trỏ đến ngành chính trị học. Bộ Thiên Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương là bộ của người công chức; đưa vào việc học thì thành ngành hành chính, quản trị công sở, và nếu soi theo xã hội ngày nay thì cả quản trị tư sở, dù xưa kia chưa có khái niệm ấy nên bộ sao chỉ thuần nói công chức. Bộ sao này còn tả năng lực tổ chức, sắp đặt công việc, nên dính đến quản trị tài chính, kế toán, ngân sách, kho bạc, ngân hàng. Các ngành khoa học thực nghiệm thì Lý số gần như không nhắc tới, bởi thuở xưa khoa học chưa mở mang lại bị văn chương đạo lý che khuất; đời Tống chỉ khoa học nhân văn là thịnh, mà cũng nằm gọn trong đạo học, triết học, luân lý học, chưa có khoa học tự nhiên đúng nghĩa. Giả sử Hi Di sống lại hôm nay, hẳn ông sẽ cải tiến Lý số cho hợp với các ngành khoa học mới. Theo thiển ý riêng, có thể tạm suy diễn như sau: Thiên Tướng đi cùng Thiên Y nói về y học nói chung, vì Thiên Tướng mang nghĩa phù trợ, bao bọc, cứu vớt, đức độ vị tha, còn Thiên Y là thuốc men, vệ sinh, giải bệnh; nếu Thiên Y gặp Hóa Kỵ, vốn tượng trưng hóa chất nói chung, thì mang nghĩa bào chế thuốc, thuộc ngành y dược. Thiên Cơ chỉ điện nên có thể liên hệ tới điện học, điện tử, thậm chí nguyên tử học; xét về vật dụng, Thiên Cơ còn là máy móc, nên cũng gắn với cơ khí, kỹ thuật, là sao của kỹ sư hay chuyên viên kỹ thuật. Suy diễn tới mức này, tất nhiên khó tránh có chỗ sai lầm.
Kinh tế học
Xã hội Trung Hoa đời Tống có bốn nghề lớn là sĩ, nông, công, thương, nhưng chỉ riêng nghề sĩ được coi là phải học tập bài bản, có môn, có khoa trường, có chỗ dùng nơi công quyền. Ba nghề nông, công, thương bị xem là không thành môn học, khỏi cần học, nên bị đánh giá thấp hơn nghề sĩ; thế nhưng trên thực tế, kẻ sĩ xưa cũng chỉ học đạo lý và chữ nghĩa, chứ chẳng có trường lớp nào dạy canh nông, kỹ nghệ hay thương mại. Với quan niệm hẹp hòi đó, việc cố tìm ra các ngành kinh tế, tài chính trong Lý số là chuyện khá táo bạo, ít nhiều võ đoán. Dẫu vậy, vẫn nên ghi lại những bộ sao thuộc ngành kinh tế, tài chính dưới đây để người đọc tham khảo và suy ngẫm thêm.
Hãy bắt đầu với cặp Vũ Khúc và Tham Lang. Vũ Khúc tượng trưng cho tiền bạc, tài lộc; Tham Lang tượng trưng cho lòng ham lợi và thói tranh đua. Hai bản chất ấy gặp nhau tạo nên cách của người buôn bán, thuộc lĩnh vực thương mại, kinh doanh. Kế đó là Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn đứng cùng Thiên Mã: hai sao Lộc mang nghĩa của cải, còn Thiên Mã mang nghĩa tài năng, sự nhanh nhẹn và việc trao đổi qua lại. Hợp lại, chúng vẽ ra hình ảnh người rong ruổi đây đó để mua bán, đổi chác hàng hóa. Nếu cách hiểu này đúng, người có Thiên Mã đi với Hóa Lộc hay Lộc Tồn chính là con buôn hay người phân phối, gánh vai trò làm cho hàng hóa chảy thông. Còn Vũ Khúc gặp Thiên Phủ thì khác: Thiên Phủ là chiếc kho chứa, mở rộng ra là kho bạc, cho nên nghề gắn với Thiên Phủ có thể là ngân hàng, tín dụng, thuế khóa, trong khi Vũ Khúc có thể đại diện cho kinh tế học nói chung. Nhờ đó cặp Vũ Khúc, Thiên Phủ phô bày một cách trọn vẹn, rành mạch cả mảng kinh tế lẫn mảng tài chính. Cuối cùng, khi bốn sao Vũ Khúc, Tham Lang, Kình Dương, Thất Sát cùng sáng và cùng hội, đương số thường ngả về kỹ nghệ, mặc dù sách không đi sâu hơn để chỉ ra ngành kỹ nghệ cụ thể nào.
Nghệ thuật
Trong nếp nghĩ của người xưa, nghệ thuật không phải thứ để học, vì vậy chưa bao giờ có trường lớp chính quy dành cho nó. Ca, vũ, nhạc, kịch, họa còn không được kể vào hàng nghề chính; chúng bị xếp làm tạp nghệ, nghề thứ yếu, nghề mọn, không đáng kể, mặc cho người hành nghề tinh thục hay vinh hiển ra sao. Thế nhưng Lý số vẫn ghi lại một số cách cục có dính đến nghệ thuật. Xét bốn sao Phượng Các, Tấu Thư, Văn Xương, Văn Khúc: Phượng Các nghĩa là thính giác, tai nghe; Tấu Thư nghĩa là sự linh mẫn, dịu dàng, ngọt ngào; Xương, Khúc nghĩa là môn học nói chung. Bốn sao cùng đứng thì báo hiệu môn âm nhạc. Tiếp đến Tấu Thư gặp Hồng Loan, nhất là Hồng Loan, hàm nghĩa hoa tay; vì thế nó trỏ đến những ngành đòi hỏi bàn tay khéo như hội họa và điêu khắc, và đó chính là bộ sao của nghề họa, nghề tạc, nghề thủ công mỹ nghệ.
Bộ Đào Hoa, Tấu Thư, Thiên Hỷ, Vũ Khúc thuộc về ca sĩ và diễn viên, tức các nghề ca hát, đóng kịch, đóng phim, những nghề đem lại tiếng cười cho đời. Lý do là Đào Hoa mang nghĩa được công chúng yêu mến, Thiên Hỷ mang nghĩa mua vui, còn Vũ Khúc mang nghĩa danh giá và đồng tiền kiếm được từ nghề. Một bộ khác gồm Thiên Trù, Tấu Thư, Hóa Lộc ở thế hãm địa: Thiên Trù là chuyện ăn uống, Tấu Thư là khéo léo, Hồng Loan là xảo nghệ, cho nên bộ này nói về nghề bếp, nghề nấu rượu, nói rộng là nghề chế biến đồ ăn thức uống, hoặc chỉ là công việc nội trợ trong gia đình. Sau hết, Đào Hoa, Hồng Loan đứng với Mộc Dục hay Hoa Cái là những sao của thói chưng diện, chăm chút nhan sắc; áp vào ngành học thì đó là thẩm mỹ học, môn sửa sắc đẹp đang thịnh hành nay, gồm hóa trang, thể dục thẩm mỹ, cắt mí, làm tóc và đủ kiểu làm đẹp khác. Thường thì bộ sao này gặp Thiên Hình hay Kiếp Sát sẽ chỉ ngành phẫu thuật thẩm mỹ, bởi Thiên Hình và Kiếp Sát vốn là hình ảnh của lưỡi dao mổ, của việc cắt, may, vá da thịt, và cũng là vết sẹo còn sót lại sau cuộc mổ. Tất nhiên, thẩm mỹ mà để lại sẹo cho khách thì nghề khó lòng thịnh, nên ở đây nên hiểu về mặt tích cực: đó là công việc xóa sẹo, làm mất đi khiếm khuyết nơi làn da.
Chỗ đứng của văn tinh
Muốn văn tinh nói rõ ngành học của một người, chúng phải tọa thủ ở các cung cường của đương số như Mệnh, Thân, Quan. Văn tinh cũng có thể đóng ở cung Tài, nhưng giá trị học vấn khi đó thấp hơn, dù cung Tài vẫn được coi là cung cường của cả nam lẫn nữ. Ở Mệnh, Thân, Quan, năng khiếu học tập trực tiếp hơn nhiều so với ở cung Tài, nơi mà cái học chỉ như nghề tay trái, nghề phụ.
Cung Phúc Đức có văn tinh cũng không phải vô nghĩa: nó gợi sự thông minh mang tính gia truyền, thừa hưởng từ dòng họ. Song điều kiện đi kèm là Mệnh, Thân, Quan phải có văn tinh tương ứng thì mới đầy đủ; thiếu vậy, chỉ có thể nói rằng anh em, họ hàng có truyền thống học hành, còn bản thân đương số lại thua kém rõ rệt. Nguyên nhân nằm ở chỗ văn tinh là loại sao có giá trị ngay trong kiếp này, nên muốn phát huy trọn vẹn tác dụng thì phải đóng tại các cung nói về hiện kiếp: Mệnh, Thân, Quan, Tài. Văn tinh chỉ đậu ở cung Phúc thì cái học ấy như thuộc về kiếp trước, khó đem lại lợi ích thiết thực cho đời nay. Về phần các cung còn lại như Nô, Phu, Thê, Bào, Điền, Tật, văn tinh đóng ở đó hầu như chẳng giúp gì cho chính đương số, trừ khi vận hạn của đời người vừa lúc đi ngang qua những cung ấy thì học vấn mới có nghĩa.
Hơn nữa, văn tinh phải đi kèm những sao có tính quý cách thì cái học mới có chỗ dụng, cụ thể là học để ra làm quan, có nghề nghiệp vững chắc, ổn định dài lâu. Nếu chỉ có văn tinh xúm xít bên nhau mà thiếu quý tinh, thì đó có thể chỉ là người uyên bác, học rộng nhưng thiếu thực tế, chỉ hữu dụng trong phạm vi học đường hơn là ngoài đời. Tùy vị trí cụ thể của văn tinh, còn phải xét thêm yếu tố Ngũ Hành. Văn tinh càng tương sinh với cung tọa thủ và với hành của Bản Mệnh, đường học càng thuận, kết quả càng cao. Trái lại, nếu bị đối khắc, việc học sẽ nhọc nhằn hơn, thành tựu có thể thấp hơn mong đợi. Cũng cần lưu ý Ngũ Hành của văn tinh trong quan hệ với Ngũ Hành của các sao cản trở khoa bảng; hai bên khắc nhau gay gắt thì sự cản trở càng mạnh, càng khó hóa giải.
Tóm lại, việc lượng giá khoa bảng của một người phụ thuộc vào nhiều biến số cùng lúc, phải cân nhắc thật tinh vi mới thấu được mọi uẩn khúc sau lá số. Đến đây, toàn bộ hệ thống các sao liên quan đến học hành, thi cử, khoa bảng, trải dài suốt một chương sách, đã được trình bày trọn vẹn, từ quan niệm nền tảng đến từng chi tiết nhỏ về vị trí, sự phối hợp và cách lượng giá.
Nguồn: Dương Thành, "Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống"
