Bài tổng quan
Âm Dương Ngũ Hành các sao: công dụng và giới hạn trong lá số
Một cung mang cả âm dương tính lẫn ngũ hành tính cùng một lượt, một sao cũng vậy: Thiên Tướng là dương tinh thuộc Thủy, Liêm Trinh là âm tinh thuộc Hỏa. Nhưng khi ba sao khác hành cùng đóng chung một cung, sao nào trợ, sao nào khắc, sao Hỏa vừa được Mộc sinh vừa bị Thủy khắc...
Một cung mang cả âm dương tính lẫn ngũ hành tính cùng một lượt, một sao cũng vậy: Thiên Tướng là dương tinh thuộc Thủy, Liêm Trinh là âm tinh thuộc Hỏa. Nhưng khi ba sao khác hành cùng đóng chung một cung, sao nào trợ, sao nào khắc, sao Hỏa vừa được Mộc sinh vừa bị Thủy khắc thì cuối cùng mạnh lên hay yếu đi...
Nhận định về Âm Dương Ngũ Hành các sao
Khoa Tử-Vi xem con người là một vũ trụ nhỏ, được kết hợp bởi những yếu tố căn bản của vũ trụ lớn, được sống động nhờ sự tác hóa giữa các nguyên lý lớn của vũ trụ lớn và giữa các yếu tố về ngũ hành của vũ trụ lớn. Vì vậy, khoa Tử-Vi có chia các yếu tố của con người ra thành yếu tố Âm, Dương, yếu tố Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy.
Hai vấn đề được đặt ra là: công dụng của việc Âm Dương hóa và ngũ hành hóa các sao; và hậu quả thực tiễn của việc đó trong lá số Tử-Vi.
Công dụng của việc Âm Dương Ngũ Hành hóa
Quan niệm "thiên nhân tương dữ" của Trung Hoa cho rằng Trời và Người đồng nhất về bản chất và động lực cấu tạo (thiên hạ vạn vật đồng thể). Động lực cấu tạo của người và trời là 2 khí Âm, Dương. Trời cũng như người đã hấp thụ, ẩn chứa sẵn trong nội cơ 2 khí đối nghịch là Âm và Dương. Hai khí đó đối nghịch nhau, nhưng thu hút nhau để sống chung với nhau trong một vật thể. Nhưng, sự sống chung này không hoàn toàn hòa bình. Hai khí đó vẫn tác hóa lẫn nhau để phù sinh cho bản chất của sự vật. Bản chất của sự vật là ngũ hành. Vũ trụ và con người được cấu tạo bởi 5 hành chính: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. Hai khí âm dương tác động nhau làm sinh động ngũ hành.
Như vậy, công dụng trước tiên của việc âm dương ngũ hành hóa các sao cốt để nói lên thành phần cấu tạo và động lực thúc đẩy sự sinh hóa của một vật thể, thành phần là chất, động lực là khí. Khí phải tác động vào chất thì chất mới nảy sinh thêm những tổ hợp mới. Thiếu khí, chất không sinh được. Khoa Tử-Vi thấm nhuần tinh thần sinh của nho học cho nên xem động lực thúc đẩy sự sinh là động lực chính, thể hiện bằng 2 khí âm, dương. Như thế, có đến 2 động lực thúc đẩy sự sống chứ không phải một. Nhưng phải có 2 khí mới thành động lực. Vì vậy, người xưa quan niệm rằng 2 khí đó không thể tách rời nhau được, lúc nào cũng xong đôi và tác hóa lẫn nhau.
Thứ hai là việc âm dương ngũ hành hóa các sao cốt để diễn tả sự hợp chất của con người và của vũ trụ. Cả hai không đơn thuần trong sự cấu tạo, mà là một tổ hợp của nhiều chất, của 2 khí. Chất và khí đó cũng đi liền nhau rất khắng khít, không bao giờ tách rời. Cho nên mỗi cung mang cả âm dương tính và ngũ hành tính một lượt, ví dụ như cung Dần là dương cung thuộc Mộc, Hợi là âm cung thuộc Thủy. Các sao cũng vậy, như sao Thiên Tướng là dương tinh thuộc Thủy, Thất Sát là dương tinh thuộc Kim, Liêm Trinh là âm tinh thuộc Hỏa, Văn Xương dương tinh thuộc Kim…v.v… can chi cũng có âm dương ngũ hành tương tự.
Công dụng thứ ba của việc âm dương ngũ hành hóa là diễn tả tính cách động của vật thể. Con người và vũ trụ bao giờ cũng ở thế động, thế biến. Đã sinh thì phải động, sinh và động là hai ý niệm bất khả phân. Linh hồn của Kinh Dịch là thế động này. Con người động vì được cấu tạo bởi hợp chất, nói khác đi thì hợp chất tương hòa, tương sinh, khí thì tương khắc. Nói cụ thể thì con người bị nhiều xu hướng chi phối: khi thì ngả theo thể xác, khi thì thiên về lý trí, khi lại xiêu theo tình cảm, có lúc thức có lúc ngủ, có lúc giận, lúc vui, lúc buồn, lúc yêu, lúc ghét, lúc muốn, lúc quân bình… có khi mình chi phối người khác, có khi người ngoài chi phối lại mình.
Nhờ âm dương ngũ hành, khoa Tử-Vi mang lại cho các sao yếu tố linh hồn cần thiết, xem sao như vật có sinh, có tác dụng chi phối trên vật khác. Vật là một bản thể nội tại (être en soi) đồng thời là một bản thể hướng ngoại (être pour soi). Là bản thể nội tại, vật có âm dương ngũ hành cơ hữu. Là bản thể hướng ngoại, vật ảnh hưởng đến vật khác bằng âm dương ngũ hành của mình, cũng như chịu ảnh hưởng bởi âm dương ngũ hành của vật khác.
Hậu quả thực tiễn của Âm Dương Ngũ Hành các sao
Quan niệm âm dương ngũ hành kể trên tỏ ra khả chấp xét về 3 công dụng đó. Nhưng trên thực tế, hậu quả thực tiễn của quan niệm đó có hay, có dở.
Hay là nhờ quy luật sinh khắc của âm dương ngũ hành, các sao có thêm ý nghĩa tinh vi hơn, phong phú hơn, có thể cụ thể hơn. Nhờ đó, sự giải đoán được đầy đủ, khúc chiết, có thể chi tiết hơn.
Dở là vì quy luật sinh khắc của âm dương ngũ hành vừa tổng quát, vừa phức tạp, nhiều khi đưa đến tình trạng nan giải cho nhiều trường hợp.
Trước hết vì tính cách tổng quát của quy luật sinh khắc, có nhiều trường hợp đối chọi không giúp suy ra được quy luật nào chi phối cho thỏa đáng. Ví dụ như thuận âm dương ngũ hành giữa 2 sao. Thông thường thì quy luật tương thuận âm dương ưu thắng, nhưng ta cũng không bỏ hẳn được sự đối khắc ngũ hành. Nhưng, giữ lại yếu tố đối khắc để làm gì, để mang ra ứng dụng chỗ nào? Mặt khác, nếu nói rằng 2 sao, 1 âm, 1 dương đồng cung là hay cũng được, vì âm dương hòa hợp, nhưng nói là dở cũng ổn, vì âm dương đối chọi. Nếu cả 2 đồng âm dương tính lại khắc ngũ hành thì sự dở đến đâu, cái dở đến mức nào? Trong trường hợp nói hay, thì cái dở sẵn có sẽ bất lợi ở điểm gì, thể hiện cụ thể ra sao? Những nghi vấn đó cho thấy quy luật sinh khắc tổng quát không mấy thích dụng cho nhiều thực tế phức tạp.
Kế đến, quy luật đó lại thành phức tạp khi có nhiều sao khác hành can dự vào. Ví dụ như trong một cung có sao Mộc, Hỏa, Thủy thì riêng mỗi sao bị ảnh hưởng như thế nào trước sự chi phối của 2 hành của 2 sao kia? Vẫn biết rằng Thủy khắc Hỏa thì sao Hỏa bị thiệt, nhưng Hỏa được Mộc trợ lực thì Hỏa phải vượng. Rất khó quan niệm rằng một sao vừa dở lại vừa hay. Nếu nói rằng sao Hỏa hay thêm nhờ sao Mộc, nhưng bị suy yếu hẳn vì sao Thủy, như thế cơ năng của sao Hỏa sẽ mạnh thêm hay bị yếu đi? Nếu biện luận thêm rằng nguyên nhân tốt của Hỏa là Mộc, nguyên nhân xấu là Thủy, vậy có nên cân nhắc giữa 2 sao Mộc và sao Thủy để đoán xem có sao nào ưu thắng ngõ hầu quyết định hiệu lực cho sao Hỏa? Nếu nói rằng Thủy sinh Mộc, nhờ đó Mộc sinh Hỏa nên sao Hỏa nhờ đó không bị sao Thủy át khắc thì lối lý luận này chỉ đúng một chiều. Tại sao không thể nói rằng sao Thủy tuy có sinh Mộc, nhưng cũng phải khắc cả sao Hỏa, dù sao này được Mộc phù sinh, nhưng vẫn bị khắc như thường? Vì không có hành nào là chủ tể, trái lại 5 hành ngang ngửa nhau, cho nên quy luật sinh khắc về ngũ hành giữa 3 sao trở lên gặp phải bế tắc, trong sự suy luận và trong sự giải đoán.
Cái lý hay, dở của âm dương ngũ hành do đó mà có.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
