Bài tổng quan
Định lý ngũ cục và vòng Tràng Sinh trong Tử Vi, Dịch học, Phong thủy
Ba mươi năm đầu đời xem Mạnh, ba mươi năm sau xem Cục — một câu nói ngắn mà gói trọn triết lý về mối quan hệ giữa Mạnh và Cục trong một lá số. Rồi từ Cục, Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử dẫn người đọc đi xa hơn: vào tận Bát Quái, Tiên Thiên, để cắt nghĩa vì sao vòng Tràng Sinh lại quan trọng không chỉ trong Tử Vi…
Ba mươi năm đầu đời xem Mạnh, ba mươi năm sau xem Cục — một câu nói ngắn mà gói trọn triết lý về mối quan hệ giữa Mạnh và Cục trong một lá số. Rồi từ Cục, Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử dẫn người đọc đi xa hơn: vào tận Bát Quái, Tiên Thiên, để cắt nghĩa vì sao vòng Tràng Sinh lại quan trọng không chỉ trong Tử Vi, mà còn trong khoa Dịch Lý, Dương Trạch, và cả thuật phong thủy tìm đất đặt mộ phần…
Định lý về ngũ cục
Về Cục là một trong ba quy luật tốt cần thiết trong cung Thiên Bàn, vì tam thập niên tiền quan Mạnh, tam thập niên hậu khán Cục. Điều quan trọng là Mạnh và Cục nên tương đồng 1 hành, hoặc giả chính tinh cư cung Mạnh, nếu không đồng hành với hành của Mạnh, thì nên được một sao chính tinh khác đồng một hành với Cục — như thế sẽ được một nửa đời sau, vì nửa đời sau ăn theo Cục; nếu được sao chính tinh đồng hành với Cục cư trong tam hợp cục, thời cung nào cũng có sao chính tinh đồng hành với Cục, cung ấy sẽ được âm hợp hơn.
Thí dụ Cục là Mộc tam cục: Mạnh Tài Quan cư ở 3 cung tam hợp Dần Ngọ Tuất, cung Tài cư Tuất có sao Thiên Lương, như vậy cung Tài được sự âm hợp vì Cục là Cục Mộc, mà Tài cung được sao Thiên Lương cũng là Mộc, nên cung Tài sẽ được tốt duyên hơn hai cung kia.
Liên hệ ngũ hành Mạnh và ngũ hành Cục: nếu Mạnh và Cục không cùng một hành, nên căn cứ quy luật bất di bất dịch của lý học là sinh phải sinh nhập, và khắc phải khắc xuất, luôn luôn lấy Mạnh làm chủ, để luận sinh nhập và khắc xuất, vì Mạnh vi mẫu và Cục vi tử. Thí dụ Mạnh Hỏa, Cục Mộc là tốt, vì Mộc sinh Hỏa, là Cục nhập vào Mạnh. Mạnh Hỏa, Cục Kim thì kém hơn, nhưng không bị khắc chế gì cho Mạnh, vì Hỏa khắc Kim là khắc xuất. Nếu sinh xuất và khắc nhập thì xấu — thí dụ Mạnh Mộc và Cục Kim là Mộc bị Kim khắc, như vậy là Cục khắc Mạnh, tức là khắc nhập.
Sự hành tàng của vòng Tràng Sinh
Sở dĩ hành có ngũ hành, mà sự kết hợp Cục là gồm cả thiên can, địa chi, bát quái, lấy 12 cung địa chi sở tàng phân thành 4 tam hợp cục, nên Cục Thủy và Cục Thổ mới nhập chung lại làm một, và có lý thuận nghịch tùy theo Âm Dương. Thí dụ tam hợp cục Dương là Thân Tý Thìn, nhưng tam hợp cục Âm là Tý Thân Thìn, để định phân thành tứ Dương cục và tứ Âm cục.
| Tứ Dương cục | Địa chi hợp cục | Thiên can hợp cục | Sao thuộc hành | Tràng Sinh khởi tại |
|---|---|---|---|---|
| Mộc tam cục | Hợi Mão Mùi | Kiền Giáp Đinh | Tham Lang (Mộc) | Hợi |
| Hỏa lục cục | Dần Ngọ Tuất | Cấn Bính Tân | Liêm Trinh (Hỏa) | Dần |
| Kim tứ cục | Tỵ Dậu Sửu | Tốn Canh Quý | Vũ Khúc (Kim) | Tỵ |
| Thủy nhị cục & Thổ ngũ cục | Thân Tý Thìn | Khôn Nhâm Ất | Văn Khúc (Thủy) | Thân |
Từ Dương cục, Tràng Sinh khởi ở 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi, cho người sinh Dương nam Âm nữ, và khởi thuận.
Tứ Âm cục thuộc Tràng Sinh: thí dụ 1 tam hợp cục, khi là Dương cục thì Thân Tý Thìn, khi là Âm cục thì Tý Thân Thìn. Mộc tam cục Tràng Sinh khởi ở cung Mão; Hỏa lục cục Tràng Sinh khởi ở cung Ngọ; Kim tứ cục Tràng Sinh khởi ở cung Dậu; Thủy nhị cục và Thổ ngũ cục Tràng Sinh khởi tại cung Tý. Tứ Âm cục khởi nghịch Tràng Sinh tại 4 cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu, cho người Âm nam và Dương nữ.
Tràng Sinh áp dụng theo 10 hàng can
Tràng Sinh cũng theo hàng can của mỗi năm mà định vị trí, tùy theo can ấy thuộc Âm hay Dương mà an thuận hay nghịch, để khi lưu niên vận hạn, các sao thuộc vòng Tràng Sinh gặp các sao thiện ác ra sao mà luận đoán.
| Tứ Dương cục (thuận khởi) | Tràng Sinh tại | Tứ Âm cục (nghịch khởi) | Tràng Sinh tại |
|---|---|---|---|
| Can Giáp thuộc Mộc | Hợi | Can Ất thuộc Mộc | Mão |
| Can Bính thuộc Hỏa | Dần | Can Đinh thuộc Hỏa | Ngọ |
| Can Canh thuộc Kim | Tỵ | Can Tân thuộc Kim | Dậu |
| Can Nhâm (Thủy), can Mậu (Thổ) | Thân | Can Quý (Thủy), can Kỷ (Thổ) | Tý |
Quy định thập can ngũ hành
Đông phương Giáp Ất mộc
Nam phương Bính Đinh hỏa
Tây phương Nhâm Quý thủy
Trung cung Mậu Kỷ thổ
Định lý Tràng Sinh
Vòng Tràng Sinh được tính theo: Sinh, Vượng, Mộ, Dưỡng là tốt; và Suy, Bệnh, Tử, Tuyệt là xấu. Mà sao Mộ thuộc Thổ, phải cư mộ địa, không được thay đổi vị trí, mặc dù Tràng Sinh thuận khởi hay nghịch khởi, nên cứ một tam hợp cục có một cung Thổ đứng nơi chót, để làm mốc giới căn cứ, mà hai cung kia đổi thay vị trí, vì thế mà cứ mộ cung (Thìn Tuất Sửu Mùi) mới gọi là cung trung hay trung ương thì cũng vậy.
Thí dụ Mộc cục thuộc Dương: Tràng Sinh tại Hợi, thuận khởi; Đế Vượng tại Mão; sao Mộ ở Mùi. Hay là Mộc cục thuộc Âm, nghịch khởi: Tràng Sinh tại Mão cung; Đế Vượng tại Hợi; sao Mộ ở Mùi cung. Như vậy là Dương cục thuận khởi, sao Mộ ở Mùi cung; hay là Âm cục nghịch khởi, sao Mộ cũng ở cung Mùi. Như vậy Mộ địa phải coi như mốc giới, căn cứ bất di bất dịch cho vòng Tràng Sinh.
Vòng Tràng Sinh có 2 định luật áp dụng: một là áp dụng cho Cục để biết 12 cung của một người, cát hung ra sao theo tiêu trưởng; hai là áp dụng Tràng Sinh thuộc năm, để biết các sao xấu tốt của vòng Tràng Sinh nhập vào cung nào, luận đoán xấu tốt của các cung ấy, khi lưu niên vận hạn.
Tràng Sinh trong các môn học khác
Tràng Sinh tương quan Dịch học: về khoa Âm Dương học tức là khoa Dịch Lý, cũng phải dùng Tràng Sinh chưởng quyết (vòng sao Tràng Sinh), Lộc Mã Dương Nhận ca (Lộc Tồn, dịch mã, Kình Dương), Quý Nhân ca quyết (Thiên Khôi, Thiên Việt). Vòng Tràng Sinh ở Âm Dương học thì căn cứ sinh phi khắc phục và phi lai phục thần, ở 6 hào mà tính thế và ứng để luận cát hung.
Tràng Sinh tương quan Bát Trạch học: khoa Dương Trạch học, tức phép dạy về xây cất nhà cửa cũng thế. Bắt buộc phải tìm mạch đất (Dương trạch gọi là long) thuộc Cục gì (Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ); phải phân định mạch đất thuộc Âm Dương cục để khởi Tràng Sinh tại 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi hay là khởi tại Tý Ngọ Mão Dậu; phải xem năm xây cất nhà thuộc can nào, định âm dương của hàng can, để khởi Tràng Sinh thuận hay nghịch, mà tính các phương hướng xấu tốt của năm đó. An Tràng Sinh xong tất biết ngay hướng phạm và hướng tốt, định lý pháp ở khoa Dương Trạch là: đệ nhất sinh khí là Tràng Sinh, đệ nhị duyên niên là Đế Vượng, đệ tam tuyệt mạng là Tuyệt, đệ tứ ngũ quỷ là Tử. Rồi mới tiếp tục tìm phương vị Thiên Ất quý nhân (Thiên Khôi, Thiên Việt), Lộc Mã Dương Nhận (Lộc Tồn, Dịch Mã, Kình Dương).
Tràng Sinh tương quan địa lý (phong thủy)
Ở khoa Địa Lý, Tràng Sinh quan trọng bội phần hơn các môn Tử Vi hoặc Dịch Học, vì muốn an táng mộ phần, thời bắt buộc phải tính Tràng Sinh một cách cẩn thận. Nếu kiết huyệt mà phạm vào Tử, Tuyệt của vòng Tràng Sinh cũng không phát được; đất thường nhắm được Sinh, Vượng hướng của Tràng Sinh thì mộ phần yên ổn, tử tôn bình an. Nên các ca quyết của Tràng Sinh pháp đọc lên là minh bạch, không thể di dịch được.
Tứ thủy pháp Tràng Sinh (bốn phép Tràng Sinh theo dòng nước chảy) — nhà địa lý đến một nơi, nhìn hướng dòng nước chảy về đâu và chảy từ bên nào sang bên nào, để biết đất ấy thuộc Cục gì và thuộc Âm hay Dương cục:
| Cục | Ca quyết | Nước chảy về phương (Mộ) | Dương cục (thủy tả toàn thuận khởi): Tràng Sinh – Đế Vượng – Mộ | Âm cục (thủy hữu toàn nghịch khởi): Tràng Sinh – Đế Vượng – Mộ |
|---|---|---|---|---|
| Hỏa cục | Ất Bính giao nhi xu Tuất | Tuất | Dần – Ngọ – Tuất | Ngọ – Dần – Tuất |
| Thủy cục | Tân Nhâm hội nhi tụ Thìn | Thìn | Thân – Tý – Thìn | Tý – Thân – Thìn |
| Kim cục | Đẩu Ngưu nạp Đinh Canh chi khí | Sửu (Ngưu) | Tỵ – Dậu – Sửu | Dậu – Sửu – Thìn (nguyên văn) |
| Mộc cục | Kim Dương thu Quý Giáp chi hinh | Mùi | Hợi – Mão – Mùi | Mão – Hợi – Mùi |
Địa lý gia đứng đối diện với phương Mộ, nếu thấy dòng nước chảy từ trái qua tay mặt thì gọi là thủy tả toàn thuận khởi, tức là Dương cục; nếu thấy dòng nước chảy từ tay mặt sang tay trái thì gọi là thủy hữu toàn nghịch khởi, tức là Âm cục. Dù là Dương hay Âm cục, sao Mộ vẫn luôn cư mộ địa, không đổi.
Kiểm chứng Tràng Sinh, trong 4 phép về Tràng Sinh: Ất Bính giao nhi xu Tuất (Hỏa cục), tức là phương Ất giao sang phương Bính, hay là phương Bính giao sang phương Ất, nhưng phải thu về phương Tuất. Tân Nhâm hội nhi tụ Thìn (Thủy cục), tức là phương Tân hội với phương Nhâm, hay là phương Nhâm hội với phương Tân, mà tụ về, quy về phương Thìn. Đẩu Ngưu nạp Đinh Canh chi khí (Kim cục), tức là phương Đinh hội với phương Canh, hay là Canh hội với Đinh, mà nạp về phương Ngưu (Sửu). Kim Dương thu Quý Giáp chi hinh (Mộc cục), tức là phương Quý hội với Giáp, gồm với Quý mà thu về phương Mùi.
Như vậy thời Tràng Sinh pháp ở môn Phong Thủy đã minh chứng một cách rõ rệt, minh bạch là Tràng Sinh phải thay đổi, khởi thuận nghịch, nhưng sao Mộ thời không thay đổi, sao Mộ lúc nào cũng phải cư ở 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi, mà ý nghĩa tứ mộ là cung trung, là trung ương — đã là cung trung, hay trung ương thì tại sao lại thay đổi được, nên ở 4 tam hợp cục, mỗi tam hợp cục đều có một cung thuộc Thổ cả. Thí dụ: Hợi Mão Mùi hợp thành Mộc cục, vậy phải có một cung Mùi để làm cứ điểm, mới phân được âm dương. Hơn nữa nên tìm hiểu ở các chữ Hội, Tụ, Nạp, Thu ở bài ca quyết của tứ thủy pháp Tràng Sinh thuộc khoa Phong Thủy. Và định luật chung ta thấy ở Hà Đồ, Lạc Thư thì mỗi lần vãng phản, sinh thành, để sinh hóa thành các cá biệt ngũ hành, thì đường đi hầu như đều trở về cung trung thuộc Thổ, và sự hợp thành của Cục, lấy 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi là căn bản để phân âm dương, là lý ở đó vậy.
Tràng Sinh ở Tử Vi Đẩu Số
Nếu ta thấy các môn học: một là Dịch Lý; hai là Phong Thủy, Dương Trạch (nhà cửa); ba là Phong Thủy, Địa Lý (mồ mả); và ở Tử Vi Đẩu Số cũng phải sử dụng tới Tràng Sinh, mà khoa nào cũng Dương thì Tràng Sinh ở Dần Thân Tỵ Hợi, mà Âm là Tý Ngọ Mão Dậu. Như đã thấy ở bài kinh quyết của Địa Lý thì Tràng Sinh dù Dương hay Âm cục, chỉ đổi thay phương vị Tràng Sinh, mà mộ địa tượng trưng sao Mộ của vòng Tràng Sinh không thay đổi.
Sự hiện hành của vòng sao Tràng Sinh trong Tử Vi
Hiện nay sự thực hành vòng Tràng Sinh chia thành môn phái khác nhau. Cách an Tràng Sinh thứ nhất: hầu như toàn thể đã áp dụng an Tràng Sinh thuận nghịch, nguyên tại một cung — tức là chỉ khởi ở 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi, dù Âm hay Dương, chỉ có Đế Vượng và sao Mộ là đổi chỗ cho nhau.
| Cục | Tràng Sinh (chung cho cả Âm và Dương) | Dương nam/Âm nữ (thuận khởi): Đế Vượng – Mộ | Âm nam/Dương nữ (nghịch khởi): Đế Vượng – Mộ |
|---|---|---|---|
| Mộc cục | Hợi | Mão – Mùi | Mùi – Mão |
| Kim cục | Tỵ | Dậu – Sửu | Sửu – Dậu |
| Hỏa cục | Dần | Ngọ – Thìn | Tuất – Ngọ |
| Thủy cục & Thổ cục | Thân | Tý – Thìn | Thìn – Tý |
Ghi nhận cách an Tràng Sinh — thuận nghịch đồng khởi tại một cung: qua cách an sao Tràng Sinh như trên, dù Âm hay Dương nếu cùng khởi tại một cung, thời sinh Dương nam Âm nữ ta thấy sao Mộ cư tại Thìn Tuất Sửu Mùi; trái lại với người sinh Âm nam Dương nữ, thì sao Mộ ở 4 cung Tý Ngọ Mão Dần. Như thế là sao Mộ đã không cư mộ địa nữa, mà còn cư tại các cung thuộc tứ chính nữa.
Kiểm định sao Tuyệt thuộc vòng Tràng Sinh
Nếu Âm hay Dương cùng khởi Tràng Sinh ở 1 cung thì sao Tuyệt không đổi thay, chỉ cư tại 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi. Thí dụ Mộc cục vòng Tràng Sinh khởi thuận: an Tràng Sinh tại Hợi, Đế Vượng tại Mão, sao Mộ tại Mùi cung, và sao Tuyệt an tại cung Thân. Mộc cục vòng Tràng Sinh khởi nghịch: an Tràng Sinh tại Hợi cung, Đế Vượng tại Mùi, sao Mộ tại Mão, và sao Tuyệt an tại Dần cung.
| Cục | Sao Tuyệt khi Tràng Sinh khởi thuận | Sao Tuyệt khi Tràng Sinh khởi nghịch |
|---|---|---|
| Mộc cục | Thân | Dần |
| Hỏa cục | Hợi | Tỵ |
| Kim cục | Dần | Thân |
| Thủy cục & Thổ cục | Tỵ | Hợi |
Nhận xét vị trí của sao Mộ và sao Tuyệt: sao Mộ — Dương nam Âm nữ thì sao Mộ cư tại 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi; Âm nam Dương nữ thì sao Mộ cư tại 4 cung Tý Ngọ Mão Dần. Sao Tuyệt — Dương nam Âm nữ hay Âm nam Dương nữ, sao Tuyệt cũng chỉ cư tại 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi. Mà ở Tử Vi Đẩu Số: Thìn Tuất Sửu Mùi là tứ mộ hay tứ khố; Tý Ngọ Mão Dần là tứ bại hay tứ tuyệt; Dần Thân Tỵ Hợi là tứ sinh. (Nguyên văn câu kết đoạn này bị đứt do bản in mờ, không thuật tiếp được.)
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
