Bài tổng quan
Bốn chữ Không trên mệnh bàn: Tuần, Tiệt, Thiên, Địa Không
Mỗi tuần mười ngày của lịch xưa đều dư ra hai địa chi không có thiên can nào đi kèm, và chỗ trống ấy thành Tuần Không. Sao nào rơi vào đó cũng nhạt đi, có sao Không lại dứt khoát chặn ngang cả cát lẫn hung. Nếu cả bốn chữ Không cùng vây quanh cung mệnh, cổ nhân bảo đó là mệnh người tu…
Chữ "Tuần" và sáu tuần của lục thập hoa giáp
Người Trung Quốc xưa không có khái niệm "tuần" theo nghĩa bảy ngày; chữ "tuần" của họ là đơn vị mười ngày dùng để tính thời gian. Theo sách cũ ghi lại, lối tính tuần bảy ngày trong "Diễn cầm pháp" là từ Tây Vực truyền sang. Diễn cầm pháp không dựa vào can chi và ngũ hành, hoàn toàn không dính dáng gì tới Tử Vi Đẩu Số.
Lịch pháp Trung Quốc đại để lấy 60 làm một vòng: mười thiên can phối với mười hai địa chi, âm dương giao nhau, được tất cả 60 tổ hợp từ Giáp Tí tới Quý Hợi; trong đó cứ mười cặp thành một tổ, gọi là một "tuần":
Tuần Giáp Tí: Giáp Tí, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỉ Tị, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu.
Tuần Giáp Tuất: Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tí, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỉ Mão, Canh Thìn, Tân Tị, Nhâm Ngọ, Quý Mùi.
Tuần Giáp Thân: Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tí, Kỉ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tị.
Tuần Giáp Ngọ: Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỉ Hợi, Canh Tí, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão.
Tuần Giáp Thìn: Giáp Thìn, Ất Tị, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỉ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tí, Quý Sửu.
Tuần Giáp Dần: Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, Mậu Ngọ, Kỉ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi.
Từ "lục Giáp lục Đinh" tới Không Vong
Tổ nào cũng có Giáp đứng đầu, Quý đứng cuối; câu "lục Giáp lục Đinh" người ta vẫn nói là từ đây mà ra. Cổ nhân đem sáu Giáp giấu vào Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, phối với chín cung để đoán việc người và mệnh trời; môn này gọi là "Kì Môn Độn Giáp". Trong đó có thể thấy mỗi tuần đều dư ra hai địa chi không phối được với thiên can nào. Chẳng hạn "Tuất, Hợi" trong tuần Giáp Tí; "Thân, Dậu" trong tuần Giáp Tuất; "Ngọ, Mùi" trong tuần Giáp Thân; "Thìn, Tị" trong tuần Giáp Ngọ; "Dần, Mão" trong tuần Giáp Thìn; "Tí, Sửu" trong tuần Giáp Dần. Vì trong tuần ấy không còn thiên can tương ứng, nên thuật số gọi hiện tượng này là Không Vong, hay Tuần Không. Khái niệm Tuần Không được dùng trong nhiều môn thuật số.
| Tuần | Mười chi được phối can (từ Giáp tới Quý) | Không Vong |
|---|---|---|
| Giáp Tí | Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu | Tuất, Hợi |
| Giáp Tuất | Tuất, Hợi, Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi | Thân, Dậu |
| Giáp Thân | Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị | Ngọ, Mùi |
| Giáp Ngọ | Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tí, Sửu, Dần, Mão | Thìn, Tị |
| Giáp Thìn | Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tí, Sửu | Dần, Mão |
| Giáp Dần | Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi | Tí, Sửu |
Trong Tử Vi Đẩu Số có nhiều thứ "sao Không" khác nhau, như Tuần Không (Chính Tuần Không, Bàng Tuần Không), Tiệt Không (Chính Tiệt Không, Bàng Tiệt Không), Thiên Không, Địa Không; mỗi loại mang tính chất riêng.
Tuần Không
Hai chi bị bỏ trống cuối mỗi tuần giống như khoảng lặng giữa hai nhịp; sao đứng vào khoảng lặng ấy tự nhiên cũng nhạt đi.
Tuần Không còn gọi là Tuần Trung Không Vong, thuộc Trung Thiên Sát; ở cung dương thì là "Không" (không có gì), ở cung âm thì là "Vong" (mất).
Tuần Không đóng ở vị trí trống trong một tuần như đã nói ở trên. Có điều Tuần Không căn cứ vào địa chi của năm sinh để tìm cung vị tương ứng trên mệnh bàn. Cần nhớ: can dương mà dùng chi dương, hoặc can âm mà dùng chi âm, thì gọi là "Chính Không"; can dương dùng chi âm, hoặc can âm dùng chi dương, thì gọi là "Bàng Không". "Chính Không" tác dụng mạnh mà lộ ra rõ ràng; "Bàng Không" thì tác dụng yếu mà ẩn kín, lúc cần thiết mới lộ ra.
Tuần Không đứng ở vị trí cuối cùng của một tuần trong Lục thập Giáp Tí, là chỗ chuẩn bị cho một tuần mới nối theo. Cổ nhân cho rằng Tuần Không ở góc chết, là lĩnh vực thần bí khó lường. Có thuyết cho rằng Tuần Không đủ sức làm đảo ngược tính chất vốn có của các sao khác trong cung (thuyết này từng phổ biến ở Việt Nam trước đây); nguyên do có thuyết ấy có lẽ dính tới bản chất của Tuần Không, như sau.
Về tính cách, khi Tuần Không phát huy mặt tích cực thì chủ về tâm tính khoáng đạt, rộng lượng, việc gì cũng thích thuận theo hoàn cảnh, thiên về hưởng thụ tinh thần, có tuệ căn và dễ nảy sinh hứng thú với thuật số, huyền học, tôn giáo. Nếu đồng cung với Văn Khúc thì trực giác càng mạnh. Khi Tuần Không mang mặt tiêu cực thì chủ về xa rời hiện thực, không hợp thực tế, ảo tưởng, mơ mộng, trôi theo gió mây, lan man không mục đích, phiêu diêu mịt mờ; có lúc rất đa nghi, hay lo lắng, ưa làm phức tạp hóa vấn đề, tư tưởng lộn xộn, mông lung, không rõ ràng, không có ý chí phấn đấu, thiếu tinh thần cạnh tranh. Tóm lại là một đời người thiếu tích cực, yếu mềm, không thực tế, thất bại, huyền bí, tiêu cực, không theo đuổi những thứ có thực chất.
Gom các tính chất trên của Tuần Không lại thì thấy: ngoài ý thức theo đuổi sự hưởng thụ tinh thần ra, những chuyện khác Tuần Không đều không chủ động tìm kiếm. Vì vậy với một số chính tinh, nó có tác dụng làm tiêu mất, triệt tiêu, kết thúc. Khi nó đồng cung với những chính tinh không hợp khí cơ thì tính chất của chính tinh khó phát huy trọn vẹn; vì tính chất của tinh diệu bị giảm yếu nên nhiều người lầm tưởng Tuần Không đảo ngược được tính chất vốn có của các sao khác trong cung.
Trong đời sống thực, phần lớn trường hợp khi Tuần Không gặp ba "ám diệu" Liêm Trinh, Cự Môn, Thái Âm thì đa số đều cho thấy sự tình đi theo chiều tiêu cực; nhất là khi cung phúc đức hay cung tật ách không tốt, "ám diệu" chao đảo, trôi nổi, gặp sát, kị, lại có Tuần Không xung chiếu, thì phần nhiều dễ có ý coi thường mạng sống, có hành vi chạy trốn hiện thực.
Tiệt Không
Tuần Không lặng lẽ làm nhạt đi; có một sao Không khác thì dứt khoát chặn ngang đường.
Tiệt Không còn gọi là Tiệt Lộ Không Vong, thuộc hỏa, chủ về "không vong", việc gì cũng thành "không". Năm dương là Tiệt Không dương, năm âm là Tiệt Không âm; đó là Chính Tiệt Không. Uy lực của nó trong nhiều trường hợp không phải tầm thường: có thể làm giảm sự tôn quý của Tử Vi, giảm tài khí của Thiên Phủ, giảm vận đào hoa của Tham Lang, giảm sự dao động của Liêm Trinh, giảm sự xung kích của Phá Quân. Nó không phân biệt trắng đen, tốt xấu gì cũng "chặn đường quét sạch". Nếu trong cung có nhiều sát tinh mà có Tiệt Không ở đó thì đúng là đáng giá ngàn vàng. Sát tinh gặp Tiệt Không thì uy lực giảm đi nhiều; cát tinh gặp Tiệt Không cũng suy yếu. Trong mười hai cung, Tiệt Không chỉ ưa ở cung tật ách; kị ở các cung mệnh, tài bạch, điền trạch, thiên di.
Tiệt Không đồng cung với Đại Hao ở cung mệnh thì chủ về tính hồ đồ, làm việc không theo lẽ thường.
Tiệt Không đồng cung với Thiên Mã ở cung mệnh, còn gọi là Tiệt Không Mã, chủ về một đời bôn tẩu, không thuận lợi, khó phát huy.
Tiệt Không đồng cung với Lộc Tồn gọi là "lộc đảo", dễ bị các yếu tố bên ngoài làm cho phá tài.
Lưu niên gặp Tiệt Không thì việc gì cũng dễ gặp trở ngại, có chí mà khó thực hiện, trí nhớ không tốt, hay quên, tinh thần không tập trung, phán đoán thường sai lầm, bất lợi cho thi cử.
Mỗi người đều có một sao Tiệt Không; nó ở cung nào thì các sao trong cung ấy khó phát huy tác dụng. Hễ đại vận tới cung này thì tốt xấu lập tức thấy rõ; nghĩa là hung tinh gặp nó thì tốt, cát tinh gặp nó thì chẳng lành! Cung mệnh của lưu niên mà gặp Tiệt Không thì chủ về ý chí sa sút, mọi việc nên giữ thế bảo thủ, lấy lui làm tiến, lấy tĩnh làm quý.
Thiên Không
Hai sao Không vừa nói là chỗ trống sinh ra từ lịch pháp; còn có một chữ Không nhẹ như mây trắng.
Trong Tử Vi Đẩu Số toàn thư không có Địa Không, chỉ có Thiên Không. Có thuyết cho rằng Thiên Không chính là Địa Không. Nhưng hiện nay phần lớn các nhà Đẩu Số cho rằng đây là một sao khác, cách an cũng khác với cặp sao đôi Địa Không, Địa Kiếp. Thiên Không lấy địa chi của năm sinh để định cung vị, rồi đi thuận một cung mà an Thiên Không.
Thiên Không thuộc âm hỏa; tuy mang tính "không", nhưng giống như đám mây trắng bồng bềnh trên trời, tính chất rất ôn hòa, so với cái "không" của Địa Không thì Thiên Không hiền hòa hơn nhiều. Địa Không vốn là có, rồi làm cho không còn gì. Còn Thiên Không là do bản thân tu học mà sinh ra tư tưởng triết học, đây là một kiểu độ lượng, tâm hồn rộng lớn, tư tưởng độc đáo, bình dị, dễ gần gũi.
Nhưng nếu Thiên Không hội hợp với các sao Không khác thì sẽ tăng thêm tính "không" tiêu cực của sao Không kia; nếu sao Không ấy lại đồng cung với các sao có tính biến động như Thiên Cơ, Cự Môn, hoặc gặp sát tinh, thì người này sẽ biến thành không thực tế. Nếu bốn sao Địa Không, Thiên Không, Tiệt Không và Tuần Không chia ra ở tam phương của cung mệnh, cổ nhân cho rằng đây là mệnh tăng nhân hay đạo sĩ. Sách cổ viết:
Sinh phùng Thiên Không, do như bán không chiết sí.
Nghĩa là mệnh gặp Thiên Không, giống như chim đang giữa trời mà gãy cánh.
Tính chất cơ bản của Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không là chống lại truyền thống, chống lại trào lưu. Người mà cung mệnh hay cung thân có Địa Không, Thiên Không thì phần nhiều có tổn thất về tinh thần. Khi hành hạn tới cung có Thiên Không thì đầu óc đặc biệt tỉnh táo, thông minh, có sáng tạo, trực giác nhạy bén.
Người có Thiên Không ở cung mệnh thì cá tính khác người thường, tính cách hay thay đổi, trầm mặc ít nói. Nếu nó đồng cung với các sao sát, kị khác thì chủ về làm việc táo bạo, có dũng mà không có mưu. Bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, đại vận đầu tiên khá gập ghềnh, vất vả.
Thiên Không ở cung mệnh hay cung phúc đức thì đều thích nghiên cứu tôn giáo, thuật số, triết học, thường sống trong thế giới của riêng mình, không thiết thực tế; vì thế trong quản lí tài chính và đầu tư hay sai lầm mà phá tài, cũng hay phiền não vì tiền bạc. Ngoài ra họ thường là người có chí hướng cao xa nhưng sức hành động không đủ.
Thiên Không ở cung phúc đức thì có tổn thương về mặt tinh thần; gặp các sao sát, kị thì tâm hồn càng rối như tơ vò. Cho nên bình thường hay tìm đến tôn giáo, tín ngưỡng, hoặc đọc nhiều sách triết học.
Một số kết cấu của Thiên Không
Thiên Không gặp Tả Phụ, Hữu Bật: chủ về có năng lực quản lí, được người khác xem trọng.
Thiên Không gặp Văn Xương, Văn Khúc: chủ về tình cảm phong phú, có tài hoa; sùng tín tôn giáo, tín ngưỡng, thích những vấn đề thần bí, ưa nghiên cứu huyền học.
Thiên Không gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh: chủ về dám làm ra tiền và dám xài tiền.
Thiên Không gặp Kình Dương, Đà La: chủ về mua không bán không.
Thiên Không gặp Thiên Khôi, Thiên Việt: chủ về cơ trí nhạy bén, được người khác tán thưởng.
Địa Không
Mây trắng trên trời hiền hòa, còn chữ Không dưới đất thì nặng nề hơn nhiều.
Địa Không và Địa Kiếp là một cặp "sao đôi", gọi tắt là "Không Kiếp", còn gọi là Đoạn Kiều Sát (ý nói đời người tới nửa đường thì cầu gãy). Có vài sách gọi sao Địa Không là Thiên Không; thực ra Thiên Không là một sao khác, "tính hung" của nó kém xa Địa Không. Sở dĩ người ta gọi Địa Không là Thiên Không có lẽ vì thấy đây là "sao đôi": một sao đã gọi là "Địa" thì sao kia phải gọi là "Thiên" mới xứng cặp.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
