Bài tổng quan
Thực thần, Quốc ấn, Tam nương sát, Ngũ quỷ và Vong thần theo Phan Tử Ngư
Một ông họ Diệp có năm Mậu Tuất, giờ Canh Tuất, ăn Thực thần lại mang Khôi tinh nên đoạt khôi thiên hạ. Còn người phạm Vong thần thì Phan Tử Ngư khuyên đúng một điều: đừng tranh cãi, nhường họ một bước, chịu thiệt chính là phúc...
Chư thần: phúc tinh, quý nhân cô quả, Thiên quan và Thiên trù
Phúc tinh quý nhân
Hạn gặp phúc tinh thì thăng chức phát tài, gặp hung hóa cát; hợp xông pha, hợp phấn đấu, hợp lập nghiệp, chỉ cần không gặp hình xung không phá. Các năm sinh và chi mang phúc tinh: Giáp Tý, Bính Dần, Ất Sửu, Quý Sửu, Đinh Dậu, Mậu Thân, Kỷ Mùi, Canh Ngọ, Tân Tỵ, Nhâm Thìn. Vốn dĩ đời người sáu mươi mốt tuổi có một cửa ải; nếu là người sinh các năm trên thì ải ấy sẽ vượt qua yên ổn. Chọn ngày giờ tốt cũng lấy ngày này làm cát, chỉ không hợp phạm hình xung phá với năm tháng giờ.
Quý nhân cô quả
Quý nhân gặp cô quả thì nữ mệnh không hợp: hình chồng hại con, chỉ hợp làm ni cô. Một cô họ Vương có năm Bính Thân, giờ Hợi: quý của Bính ở Hợi, người tuổi Thân có Hợi là cô thần, mệnh này chồng chết trước, con mất trước, chỉ hợp làm ni cô.
Quý rơi Không Vong: năm Canh Dần, ngày Ngọ (giờ cũng Ngọ). Quý của Canh ở Ngọ, Không Vong của Canh Dần cũng ở Ngọ: mệnh này không gặp được quý nhân thưởng thức nâng đỡ, cả đời cô độc nghèo túng; nếu là nữ mệnh thì sa vào phong trần.
Thiên quan quý nhân
Theo năm sinh Giáp đến Quý, chi giờ lần lượt là Mùi, Thìn, Tỵ, Dậu, Tuất, Mão, Hợi, Thân, Dần, Ngọ. Trụ giờ ngồi Thiên quan là tốt nhất. Người được nó gặp hung hóa cát, chủ phúc, lại chủ sự nghiệp thành tựu, con cái cát tường.
Thiên trù thần
Theo can năm sinh Giáp đến Quý, cung vị lần lượt là Tỵ, Ngọ, Tý, Tỵ, Ngọ, Thân, Dần, Ngọ, Dậu, Hợi. Ngồi Mệnh, ngồi cung Quan thì cả đời làm công chức. Cùng Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Khoa, Vũ Khúc, Thiên Phủ, Tham Lang đồng cung thì hợp ngành ăn uống, có thể thành đầu bếp nổi tiếng; hợp quản lý bếp ăn; trong quân là đội trưởng bếp. Hoặc là “Phó Bồi Mai”.
Thiên phúc thần
Theo năm sinh Tý đến Hợi, chi trong năm chi lần lượt là Thân, Dậu, Tuất, Tỵ, Ngọ, Mùi, Dần, Mão, Thìn, Hợi, Tý, Sửu. Thiên phúc thần nếu phạm hình, xung, khắc, phá thì hợp võ chức. Nếu gặp quý nhân thì có thể phong hầu, hoặc là người văn võ song toàn, hoặc danh vang thiên hạ. Phan Tử Ngư có cách này: năm Canh Ngọ, giờ Dần. Người tuổi Ngọ có Dần là được Thiên phúc, quý của người Canh lại ở Dần, nên mệnh này danh vang thiên hạ.
Quốc ấn thần
Phía trước Lộc tám vị. Ví dụ người sinh năm Giáp, Lộc Giáp ở Dần, tám vị phía trước Dần là Dậu. Người có nó giàu sang đáng trông đợi, có thể tham gia tranh cử công chức. Theo can năm sinh Giáp đến Quý, năm chi cần có lần lượt Dậu, Tuất, Tý, Sửu, Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi.
Kiến tiết thần
Năm chi có Kiến tiết thì giàu sang đáng trông đợi; đó là vị thứ sáu phía trước Lộc, chớ gặp hình, xung, sát. Ví dụ người sinh năm Giáp, Lộc ở Dần, năm chi có Mùi. Theo can năm sinh Giáp đến Quý, năm chi cần có lần lượt Mùi, Thân, Tuất, Hợi, Tuất, Dần, Sửu, Dần, Thìn, Tỵ.
Thực thần
Theo can năm sinh Giáp đến Quý, can cần có lần lượt Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Giáp, Ất. Ba can có Thực thần thì chủ giàu. Một Giáp ăn hai Bính, ăn thừa, càng giàu. Hai Giáp một Bính, ăn không đủ, nghèo.
Thực thần chủ giàu
Một ông họ Ngụy có năm Mậu, giờ Canh: giàu sang đáng trông đợi. Phan Tử Ngư xác nhận ba điều: năm ăn giờ là tốt nhất; năm ăn ngày thì thứ nhì; năm ăn tháng lại thứ nhì sau.
Can tháng ăn thực thần
Theo năm sinh Giáp đến Quý, can tháng cần có lần lượt Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Giáp, Ất. Một cô họ Ngô có năm Giáp Tuất, tháng Bính Dần: mệnh này không chỉ thành ca sĩ nổi tiếng mà còn là ca sĩ có tiền; làm kinh thương cũng phát tài; cũng có thể gả cho người chồng giàu có.
Thực thần Khôi tinh
Năm và giờ cùng ăn Thực thần, lại mang Khôi tinh, ắt đỗ Trạng nguyên. Một ông họ Diệp có năm Mậu Tuất, giờ Canh Tuất: Mậu ăn Canh, giờ mang Khôi tinh, đoạt khôi thiên hạ.
Vận gặp Thực thần
Vận gặp Thực thần thì thăng chức phát tài. Theo năm sinh Giáp đến Quý, Thái Tuế cần có lần lượt Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Giáp, Ất.
Mệnh phạm đảo thực: người nông cạn
Mệnh phạm đảo thực thì phúc nông thọ mỏng, làm việc có đầu không có cuối, tiến thoái lười biếng, tiền đến tiền đi, dung mạo không nổi bật, phẩm hạnh kém, nhút nhát hoảng hốt, không kham gửi gắm, sao gánh nổi việc nặng. Thuật Đăng hạ nhấn mạnh: vợ chồng chớ phối với người nông cạn.
Theo năm sinh Giáp đến Quý, can khác cần tránh lần lượt là Nhâm, Quý, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân. Ví dụ năm Giáp, giờ Nhâm (ngày cũng Nhâm):
- Mọi việc bị người cản trở.
- Một con mất trước (ai có can giờ đảo ăn can năm).
- Ngày giờ đều đảo thực: phá tướng; khắc mẹ; lúc chết không có con tiễn đưa.
Mệnh được thực lộc
Theo năm sinh Giáp, Ất, Bính, Canh, Tân, thập tự cần có lần lượt Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Tỵ, Nhâm Thân, Quý Dậu. Một ông họ Trương có năm Giáp, tháng Bính Dần, ngày Sửu, giờ Bính Dần:
- Giáp ăn Bính, một Giáp ăn hai Bính, cả đời giàu có.
- Người Giáp có Dần là ngồi Lộc, càng mừng Bính Dần, được thực lộc, trong nhà chất vàng chồng ngọc; nói theo ngày nay là tiền gửi ngân hàng nhiều.
Thực thần lộc
Thực thần lộc còn gọi là Thiên trù. Ví dụ người sinh năm Giáp, năm chi có Tỵ, mệnh được nó ắt giàu, vì Giáp ăn Bính, Lộc của Bính ở Tỵ. Lại như người sinh năm Ất, năm chi có Ngọ, tức được Thiên trù lộc, vì Ất ăn Đinh, Lộc của Đinh ở Ngọ. Theo can năm sinh Giáp đến Quý, năm chi cần có lần lượt Tỵ, Ngọ, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý, Dần, Mão.
Bài ca nói:
Thực thần lộc hề thiểu nhân tri,
Thức thời tu thị tiết thiên cơ.
Nhược tại Mệnh cung vi phúc khẩn,
Phúc Đức, Thiên Di hựu thứ chi.
Nam nhân ngộ thử đa tài vượng,
Giao nhập trung niên hảo tước lộc.
Nữ mệnh phùng chi chủ phong hiệu,
Thử thị thiên thượng kỳ lân nhi.
Bát cung cung chủ hiệu Thực Lộc,
Cung chủ tinh cao cường tối thù.
Cánh đắc cát tinh đồng tại Mệnh,
Doanh thủ đàm đàm phủ trung cư.
Thử tinh hãm liễu nhân vô thọ,
Nhược tại cao cường ý tự như.
Nam nhi tọa Mệnh tao phùng thử,
Chân thị nhân gian đại trượng phu.
Ý của bài ca: Thực thần lộc ít người biết, nhận ra thời cơ thì phải biết tiết lộ thiên cơ. Ở Mệnh cung là phúc chặt chẽ, ở Phúc Đức, Thiên Di thì thứ nhì. Đàn ông gặp thì tiền tài vượng, vào trung niên được chức tước bổng lộc; nữ mệnh gặp thì chủ được phong hiệu, là con kỳ lân trên trời. Cung chủ của tám cung gọi là Thực Lộc, sao chủ cung càng cao càng mạnh càng đẹp; lại được cát tinh đồng cung với Mệnh thì ở trong phủ đệ rộng lớn. Sao này mà hãm thì người không thọ; ở chỗ cao mạnh thì ý như ý. Nam nhi tọa Mệnh gặp nó, thật là bậc đại trượng phu của nhân gian.
Thực thần lộc theo từng can năm sinh
Thực thần lộc được ghi theo từng can năm sinh, mỗi can có một cung Mệnh đúng thế: người sinh năm Giáp và Bính có Mệnh ở Tỵ; năm Ất và Đinh có Mệnh ở Ngọ; năm Mậu có Mệnh ở Thân; năm Kỷ có Mệnh ở Dậu; năm Canh có Mệnh ở Hợi; năm Tân có Mệnh ở Tý; năm Nhâm có Mệnh ở Dần; năm Quý có Mệnh ở Mão. Các thế ấy đều ghi chung một câu: người sinh năm ấy có giàu sang.
Chư sát: những ngày giờ và thế sát cần biết
Tam công sát
Phạm thì chết yểu vì hung. Theo năm sinh Tý đến Hợi, thập tự cần tránh lần lượt Ất Mão, Bính Ngọ, Nhâm Tý, Tân Dậu, Ất Mão, Bính Ngọ, Nhâm Tý, Tân Dậu, Ất Mão, Bính Ngọ, Nhâm Tý, Tân Dậu.
Tam nương sát
Các ngày mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22, 27 trong tháng. Có bài vè:
Thượng thuật lục nhật Tam nương sát,
Tác sự mưu cầu định bất thành.
Hôn giá nhược phùng Tam nương sát,
Nhược phi tử phu tất táng thê.
Thượng lương nhược phùng Tam nương sát,
Giá ốc vị hoàn tiên giá tang.
Hành thuyền khởi hàng phùng thử sát,
Thận phòng thuyền phá nhân trầm nịch.
Thượng quan phó nhậm phùng thử sát,
Tất nhiên tử tại nhậm kỳ nội.
Phàm sự ninh khả tín kỳ hữu,
Thiết vật vọng tự ngộ phạm chi.
Ý của bài vè: sáu ngày ấy mưu việc gì cũng không thành; cưới gả gặp nó thì nếu không chồng mất thì vợ chết; dựng nóc nhà gặp nó thì nhà chưa xong đã thành tang; xuống thuyền khởi hành gặp nó thì phòng thuyền vỡ người chìm; nhậm chức gặp nó thì ắt chết trong nhiệm kỳ. Việc gì thà tin là có, chớ tự mình phạm.
Ngũ quỷ
Ngũ quỷ là sao mà Tử Vi Đẩu Số xưa bỏ sót, còn Thất chính Tứ dư rất coi trọng.
- Ngũ quỷ tọa Mệnh: cả đời khốn khổ; có thể phá tướng; gặp sấm sét đánh hoặc thú dữ làm bị thương.
- Đại tiểu hạn gặp Ngũ quỷ: không gió mà nổi sóng.
Theo năm sinh Tý đến Hợi, giờ sinh cần tránh lần lượt Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão. Ví dụ năm Tỵ, giờ Dậu: mệnh này thuở nhỏ khốn khổ, có thể bị sấm đánh hoặc thú dữ làm bị thương.
Ngũ quỷ rơi Không Vong: ông họ Chu có năm Mậu Ngọ, ngày Sửu. Mệnh phạm Ngũ quỷ Không Vong, ông Chu nhiều năm sa cơ, lang thang giữa ngã tư đường, không biết đi đâu về đâu, rốt cuộc lạc đường, mất hút giữa biển người mênh mông. Hạn gặp Ngũ quỷ thì không gió nổi sóng, bị tiểu nhân liên lụy.
Thiên lôi sát
Ông họ Trình có năm Ngọ, ngày Ngọ. Nếu ông không bất hòa với cha thì cũng có khúc mắc với con trai. Theo năm sinh Tý đến Hợi, năm chi cần có lần lượt Tý, Dậu, Ngọ, Mão, Tý, Dậu, Ngọ, Mão, Tý, Dậu, Ngọ, Mão. Thuật Đăng hạ nói: cốt nhục bất hòa, phải đề phòng sét đánh.
Cách bổ mệnh: một, với cha mẹ phải hiếu thuận; hai, với con cái phải từ ái.
Vong thần
Phan Tử Ngư từng chỉ ra trong một tác phẩm khác của ông rằng Tử Vi Đẩu Số “loạn thất bát tao”: có chỗ thiếu sót, như Thiên Cẩu; có chỗ sai lầm, như Thiên Mã, Văn Xương. Ở đây ông đề ra thêm một sao: Vong thần, mà Tử Vi Đẩu Số không ghi, rất không phải.
Vì cổ thư nhấn mạnh: mệnh phạm Vong thần thì — phạm một lần: phá tướng; phạm nặng: bị đày ra đảo xa (xưa gọi là “đồ lưu”, tức bị biếm trích, đày ra biên cương); phạm ba lần: chịu hình phạt tử hình theo luật xưa (lúc chết còn được toàn thây).
Vong thần còn tên là “quan phù sát”, “thiên quan sát”. Theo năm sinh Tý đến Hợi, ngày (hoặc giờ) cần tránh lần lượt Hợi, Thân, Tỵ, Dần, Hợi, Thân, Tỵ, Dần, Hợi, Thân, Tỵ, Dần. Người phạm phần nhiều vì tranh cãi với người, không chịu nhường, rồi hối hận.
Lưu niên gặp nó thì mất chức bãi quan, thân bại danh liệt, thậm chí vì uất ức bất bình mà sinh bệnh.
Cách bổ mệnh:
- Đừng tranh cãi với người. Ngày nay nhiều việc không dựa vào tranh biện; người xưa nói “có lý đi khắp thiên hạ”, đến nay phải đổi thành “có súng đi khắp thiên hạ”, hoặc “nắm đấm ai lớn thì người ấy có lý”. Cho nên không cần tranh biện với người. Nhường họ một bước, chịu thiệt chính là phúc.
- Nhạt danh lợi. Mọi việc ôm lấy tinh thần “Tái ông thất mã, sao biết không phải phúc”.
Thế Vong thần trên lá số Tử Vi: Vong thần tọa Thân cung hoặc Mệnh cung thì tính nóng, ngực hẹp, hoặc nhiều bệnh.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Bổ Mệnh Thư, quyển 2.
