Bài tổng quan
Vũ Khúc Thiên Phủ ở Tí Ngọ và Thái Âm Thái Dương ở Sửu Mùi
Vũ Khúc biết kiếm tiền, Thiên Phủ biết giữ tiền, ngồi chung một cung mà chưa chắc đã có cả hai. Thái Âm Thái Dương cũng vậy: cùng một cặp sao, người thì rực rỡ ra ngoài, người thì âm thầm trong lòng. Chỗ rẽ nằm ở vài sao rất nhỏ.
MỘT NGƯỜI GIỎI KIẾM TIỀN CHƯA CHẮC ĐÃ GIỮ ĐƯỢC TIỀN, VÀ MỘT LÁ SỐ SÁNG SỦA BỀ NGOÀI CHƯA CHẮC ĐÃ SÁNG TRONG LÒNG. Hai tinh hệ kế tiếp nhau trong mục Tử Vi ở Thìn Tuất đều được phái Trung Châu chẻ đôi như thế: "Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở Tí Ngọ chia thành giỏi kiếm tiền và giỏi quản lí tài chính, còn "Thái Âm, Thái Dương" ở Sửu Mùi chia thành cởi mở và trầm uất. Ranh giới ấy quyết định toàn bộ cách xem các cung hạn về sau.
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở hai cung Tí hoặc Ngọ
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là Thất Sát, cung tam hợp là Liêm Trinh độc tọa và "Tử Vi, Thiên Tướng". Vũ Khúc và Thiên Phủ đều là sao tiền tài, nhưng Vũ Khúc chủ về hành động, còn Thiên Phủ là "kho phú"; cho nên Vũ Khúc giỏi kiếm tiền, còn Thiên Phủ thì chỉ có năng lực giữ tiền mà không giỏi kiếm tiền, hai tính chất khác nhau.
Muốn luận đoán đặc tính của "Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở hai cung này, cần phải phân biệt chúng thiên về tính chất "giỏi kiếm tiền" hay "giỏi quản lí tài chính", tức bao gồm cả năng lực kiếm tiền và giữ tiền. Thiên về "giỏi kiếm tiền" thì có năng lực hành động mạnh mẽ; thiên về "giỏi quản lí tài chính" thì năng lực hành động và tài lãnh đạo đều mạnh.
Sao lộc, sát tinh và tạp diệu định ra tính tốt xấu
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" cần phải gặp sao lộc, ưa nhất là Vũ Khúc Hóa Lộc, chủ về có năng lực kiếm tiền. Nhưng tuy đồng độ với Thiên Phủ, cũng chưa chắc chủ về giỏi giữ tiền, mà còn không được gặp sát tinh, nhất là không gặp Địa Không, Địa Kiếp, mới là người quản lí tài chính toàn diện. Đây là kết cấu "Vũ Khúc, Thiên Phủ" rất lí tưởng, có thể nói là bao quát toàn diện.
Nếu "Vũ Khúc, Thiên Phủ" không gặp sao lộc, bất kể Hóa Lộc hay Lộc Tồn, dù không gặp sát tinh, cũng chỉ chủ về có năng lực giữ tiền, nhưng chưa chắc có năng lực kiếm tiền, vì vậy tính chất bị thiên lệch. Nếu đồng độ với Lộc Tồn, vẫn chủ về năng lực giữ tiền hơn là năng lực kiếm tiền, vì Lộc Tồn có đặc tính bảo thủ; tuy thiếu năng lực bao quát toàn diện, nhưng cũng không phải là nóng nảy, bốp chốp.
Liêm Trinh Hóa Lộc hội hợp, hoặc Lộc Tồn đồng độ với Thất Sát, là tinh hệ "Vũ Khúc, Thiên Phủ" ưa gặp; nhất là có Thất Sát và Lộc Tồn vây chiếu, làm tăng năng lực kiếm tiền của Vũ Khúc. Vũ Khúc chủ về hành động, được lực trợ giúp của Thất Sát và Lộc Tồn, ắt có thể nhờ tính quyết đoán của nó mà hành động kiếm tiền, đây là thiên về tính tốt.
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" hội các sao phụ, tá cát, nhưng các tạp diệu hội hợp cũng quan trọng: nếu có Thiên Diêu, Thiên Hư, Phá Toái, Âm Sát, Đại Hao, Vong Thần, Tức Thần đồng độ, thì năng lực giữ tiền cũng sẽ giảm nhiều, đây là thiên về tính xấu. Không nên có Kình Dương, Đà La hội hợp, sẽ có ý vị tranh đoạt và chướng ngại, như vậy năng lực kiếm tiền và năng lực giữ tiền đều giảm nhiều. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, hoặc "Tử Vi, Thiên Tướng" bị "Hình kị giáp ấn", thì năng lực kiếm tiền và giữ tiền đều thiếu, là thiên về tính xấu. Nếu "Tử Vi, Thiên Tướng" được "Tài ấm giáp ấn", thì năng lực quản lí tài chính tăng nhiều, tính chất thuộc loại bao quát toàn diện.
Các cung hạn của "Vũ Khúc, Thiên Phủ"
Cung hạn "Thái Âm, Thái Dương" đồng độ, Thái Âm nhập miếu rất hợp với khí chất của "Vũ Khúc, Thiên Phủ". Nếu Thái Âm Hóa Lộc thì thích hợp với "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất bao quát toàn diện. Nếu Thái Âm lạc hãm, đây là cung hạn thiên về tính chất hợp với "Vũ Khúc, Thiên Phủ" giỏi giữ tiền, yếu kém năng lực kiếm tiền, mà không thích hợp với loại bao quát toàn diện.
Thái Dương Hóa Lộc không bằng Thái Âm Hóa Lộc, vì khí chất không hợp nhau. "Vũ Khúc, Thiên Phủ" mà gặp Thái Dương Hóa Quyền, là thiên về tính chất "giỏi kiếm tiền", nhưng có thể chỉ là hư danh; nếu gặp Thái Dương lạc hãm mà Hóa Lộc thì càng trộm hư danh. Đây cũng là cung đại vận hoặc lưu niên không thích hợp với "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất thiên lệch. Nếu "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thuộc loại tính xấu gặp Thái Dương Hóa Kị, thì đây là vận hạn phá tài, hoặc vì kiện tụng, thị phi mà hao tài. Thái Âm cần phải nhập miếu, được cát hóa, có sao cát hội hợp, thì bất kể "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thiên về tính tốt thuộc loại nào, cũng đều là vận tốt, thuộc vận thế mang tính sáng tạo.
Cung hạn Tham Lang độc tọa, dù Hóa Kị, cũng được "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có năng lực quản lí tài chính ưa đến. Nếu Tham Lang Hóa Lộc, tuy vất vả, nhưng là người giỏi, làm nhiều, nên đây là năm cát lợi; cung hạn này cũng lợi cho "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất bao quát toàn diện. Nếu "Vũ Khúc, Thiên Phủ" chỉ có năng lực hành động mà gặp Tham Lang Hóa Lộc, dù có sao cát tụ tập, vẫn cần chú ý duy trì thành tựu đã đạt được, để đề phòng ảnh hưởng đến hậu vận. Nếu "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thuộc loại thiên về tính xấu đến cung hạn Tham Lang, nhất là Tham Lang Hóa Lộc có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, cần phải đề phòng hoạnh phát rồi hoạnh phá, phát đạt rất nhanh mà suy sụp cũng rất nhanh.
Cung hạn "Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ, ưa gặp Cự Môn Hóa Lộc, đây là đại vận hoặc lưu niên mà "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thuộc tính chất nào cũng ưa đến, nhưng mức độ lâu dài khác nhau; nếu thuộc loại thiên về tính xấu thì trong vận hạn ắt sẽ gặp nhiều sóng gió, trắc trở, nhưng vẫn có thu hoạch. Kết cấu không thích hợp nhất là Thái Dương Hóa Kị xung hội Cự Môn Hóa Kị, sẽ chủ về điều tiếng thị phi liên tục; dù "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thuộc loại bao quát toàn diện đến cung hạn này cũng phải đề phòng thất bại. Thiên Cơ Hóa Lộc lại không bằng Cự Môn Hóa Lộc, vì Thiên Cơ có tính quá hiếu động, trôi nổi, trừ phi "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thiên về tính bảo thủ, nếu không thì hưng phát cũng không được lâu dài. Nếu Thiên Cơ Hóa Kị, đối với "Vũ Khúc, Thiên Phủ" mang tính chất hành động thì cần phải đề phòng sai lầm về kế hoạch.
Cung hạn "Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ, "Vũ Khúc, Thiên Phủ" phải có tính chất bao quát toàn diện mới nên đến, chủ về hưng phát, có thể ở địa vị lãnh đạo, nhưng lại không nên cố ý xuất đầu lộ diện, nếu không ắt sẽ gặp nhiều trắc trở. Nếu "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thiên về tính xấu đến vận "Tử Vi, Thiên Tướng", thì chén nhỏ khó đựng đầy, e rằng vận tốt khó giữ được lâu. Nếu có các sao sát, kị, hình tụ hội, nhất là Vũ Khúc Hóa Kị, ắt sẽ là vận trình điên đảo; nếu Liêm Trinh Hóa Kị, sẽ chủ về xảy ra tình huống rắc rối khó xử về tình cảm.
Cung hạn Thiên Lương độc tọa chỉ thích hợp với "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất bao quát toàn diện; bất kể đại hạn hay lưu niên, chỉ cần hơi gặp cát tinh và cát hóa, là vận thế hoài bão thành hiện thực. Nếu "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thiên về một tính chất, thì thiên về bảo thủ sẽ tốt hơn, thiên về hành động dễ chuốc thị phi, oán trách. Nhất là lúc Thiên Lương Hóa Khoa mà Thái Dương hay Thái Âm Hóa Kị xung hợp, thường dễ phạm sai lầm, chuốc điều tiếng thị phi, hay phạm pháp, hoặc chủ về bị người ta bài xích, chèn ép. Nếu Thiên Lương có tính chất hiếu động, trôi nổi, như gặp Hỏa Tinh và Thiên Mã đồng độ, hay Đà La và Thiên Mã đồng độ, thì "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thiên về tính xấu sẽ dễ phạm sai lầm, càng tích cực càng gây ra phá tán, thất bại; nên nương theo thời thế, tùy thời cơ mà hành động.
Cung hạn Thất Sát độc tọa thông thường không thích hợp với "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thiên về tính xấu, thường vì nóng nảy, hấp tấp mà sinh ra trắc trở, còn chủ về bị rắc rối về tình cảm; dù ở lưu niên, cũng thường thường vì bị hoàn cảnh kích thích mà thay đổi nhân sinh quan. Nếu Thất Sát là tổ hợp có các sao phụ, tá cát, "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất bao quát toàn diện đến cung hạn này, thì đời người sẽ qua một khúc quanh quan trọng, thường thường trong năm có thể thay đổi hoàn cảnh khách quan. Thông thường, cung hạn Thất Sát gặp Hóa Lộc thì lợi cho "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất hành động; gặp các sao sát, kị thì lợi cho "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất bảo thủ. Trường hợp trước dễ khiến mất cơ hội, trường hợp sau dễ khiến vọng động mà gây tổn thất.
Cung hạn Liêm Trinh độc tọa mà Hóa Lộc thì lợi cho "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất hành động, là vận thế có tính xây dựng. Nếu Tham Lang Hóa Lộc đến hội, mà "Vũ Khúc, Thiên Phủ" không có tính chất bao quát toàn diện, thì không thể khiến cho vận thế tốt lâu dài. Liêm Trinh Hóa Kị sẽ khiến cho "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất bảo thủ thành thờ ơ, tiêu cực; còn "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất hành động thì dễ bị cạnh tranh, cản trở. Nhưng "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất bao quát toàn diện thì có thể tiệm tiến trong tình hình sát tinh không nặng. Tham Lang Hóa Kị xung chiếu, đây là vận thế khó khăn của "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất hành động, chủ về có cạnh tranh không lành mạnh.
Cung hạn Phá Quân độc tọa, sát tinh không nặng, cũng bất lợi cho "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất hành động; nếu lúc này nóng lòng tiến thủ thì dễ bị áp lực hoàn cảnh. Chỉ thích hợp với "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất bao quát toàn diện, trong vận hạn có thể nương theo thời thế mà hành sự. Phá Quân Hóa Lộc lại được sao cát hội hợp, là cung hạn mà "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất bao quát toàn diện rất ưa đến, có cơ hội bỏ cũ lập mới. Nếu có các sao sát, kị, hình tụ tập, nhất là có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, thì là đại vận hoặc lưu niên xấu đối với "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thiên về tính xấu, chủ về nạn tai, bệnh tật.
Cung hạn Thiên Đồng độc tọa, đối với "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thông thường là vận thế phá sạch tổ nghiệp; trừ phi Thiên Đồng được cát hóa, còn gặp cát tinh, mới chủ về tuổi trẻ được hưởng thụ. Ở lưu niên, cung hạn Thiên Đồng chỉ lợi cho "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có tính chất bảo thủ, mà không lợi cho loại có tính chất hành động. Thiên Đồng gặp các sao sát, kị nặng, không những chuốc thị phi, mà còn bất lợi về sức khỏe. Nữ mệnh "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thiên về tính xấu, đến lưu niên hoặc đại vận Thiên Đồng Hóa Kị, thường thường dễ sinh rắc rối về tình cảm, mà còn dễ sa chân lỡ bước.
Một lá số "Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở cung tử nữ
Có một lá số "Thiên Cơ, Cự Môn" tọa mệnh ở cung Mão, người sinh năm Tân nên Cự Môn Hóa Lộc, nhưng cung tử nữ là "Vũ Khúc, Thiên Phủ" hội Liêm Trinh, Đà La, và "Tử Vi, Thiên Tướng" được "Tài ấm giáp ấn", lại có Linh Tinh đồng độ. "Vũ Khúc, Thiên Phủ" gặp Linh Tinh, Đà La mà không gặp sao lộc, là thiên về tính xấu. Tuy "Tài ấm giáp ấn" là được cha mẹ dưỡng dục không thiếu sót, nhưng bản thân con cái của mệnh tạo lại dễ có phản ứng sai lầm.
Cung tử nữ gặp tổ hợp sao này, cần phải nuôi dưỡng, dạy dỗ nghiêm hơn, nên cho chúng học nghề chuyên môn để tương lai có thể mưu sinh. Nhưng không có cách nào khác, mệnh tạo tuy được cách cục "Cơ Cự Đồng lâm", lại bị Hỏa Tinh phá, nên thuộc loại hiếu động, trôi nổi, vì vậy hời hợt trong việc giáo dục con cái.
Đến đại vận Mậu Tuất, cung tử nữ của đại vận vô chính diệu, mượn "Thái Dương, Thái Âm" của đối cung để an sao. Tuy Thái Dương Hóa Quyền ở nguyên cục, đại vận thì Thái Âm Hóa Quyền và Thái Dương Hóa Khoa, đáng tiếc Thiên Cơ của đại vận lại Hóa Kị. Hễ Cự Môn Hóa Lộc bị Hóa Kị của đại vận xung khởi, thì chủ về tán tài, vì vậy trong vận hạn này đứa con trai độc nhất của họ đã phá sạch gia sản. Nếu Thái Dương nhập miếu thì tình huống đã khác, hiện chỉ là biểu trưng cho hào nhoáng bề ngoài mà thôi, không chủ về có tiền. Điều này cũng liên quan đến cung tử nữ của nguyên cục là "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thiên về tính xấu.
"Thái Âm, Thái Dương" ở hai cung Sửu hoặc Mùi
Sang cặp cung Sửu Mùi, hai vầng sáng của trời đất ngồi chung một cung, nhưng chỗ đứng của người xem lại ở cung đối diện, và đó mới là điều cổ nhân lưu ý trước tiên.
"Thái Âm, Thái Dương" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, đối cung vô chính diệu, cung tam hợp là Thiên Lương độc tọa và mượn "Thiên Cơ, Cự Môn" để nhập cung. Tinh hệ này tọa không bằng hướng: ví như "Thái Âm, Thái Dương" đồng độ ở cung Mùi, mà an mệnh ở cung Sửu vô chính diệu, phải mượn "Thái Âm, Thái Dương" của cung Mùi để nhập cung. Cổ nhân nói:
"Nhật Nguyệt đồng Mùi, mệnh an Sửu, hầu bá chi tài; Nhật Nguyệt đồng Sửu, mệnh an Mùi, hầu bá chi tài."
Là nói ý này. Lúc mượn "Thái Âm, Thái Dương" của đối cung, vẫn được hội "Thiên Cơ, Cự Môn", nhưng hợp cung khác hội Thiên Đồng chứ không phải Thiên Lương. Thiên Lương mang tính chất "cô độc và hình khắc", Thiên Đồng thì không như vậy, cho nên mượn sao an cung có lợi hơn so với thủ bản cung. Cũng do hội hợp Thiên Lương, nên "Thái Âm, Thái Dương" ở cung Mùi ưu hơn ở cung Sửu, bởi vì ở cung Mùi Thái Dương đắc địa, còn ở cung Sửu thì lạc hãm; Thái Dương ở cung Mùi có thể giải tính chất "cô kị" của Thiên Lương, còn ở cung Sửu thì không thể.
Cởi mở hay trầm uất
Muốn luận đoán tính chất của "Thái Âm, Thái Dương" ở hai cung này, cần phải phân biệt chúng thuộc loại "cởi mở" hay "trầm uất". Ánh sáng và nhiệt của Thái Dương đủ để giải tính "cô kị" của Thiên Lương, thì cách cục thuộc loại "cởi mở"; nếu ngược lại, ánh sáng và nhiệt của Thái Dương không đủ sức giải tính "cô kị" của Thiên Lương, thì thuộc loại "trầm uất". Ở giữa hai trạng thái này sẽ có biểu hiện chợt âm chợt dương.
Thái Âm Hóa Lộc, Hóa Quyền hay Hóa Khoa đều không bằng Thái Dương Hóa Lộc, Hóa Quyền hay Hóa Khoa. Lúc Thái Âm hóa cát, vẫn không đủ sức giải tính "cô kị" của Thiên Lương, nhưng có thể nói là sẽ giảm bớt tính chất "trầm uất" hướng nội của bản thân Thái Âm; còn nếu Thái Dương cát hóa, sẽ làm tăng rực rỡ, mới hình thành tính chất "cởi mở". Do đó, Thái Dương Hóa Kị thì khuyết điểm sẽ nghiêm trọng hơn Thái Âm Hóa Kị: lúc Thái Dương làm sao kị, sẽ hợp với khí chất của Thiên Lương, vì vậy làm mạnh thêm tính "cô kị", biến thành người có vẻ bề ngoài khó dò đoán, mà đau khổ nội tâm cũng không đủ để thành "trầm uất".
"Thái Âm, Thái Dương" có các sao cát hội hợp hay vây chiếu, như có Thiên Khôi, Thiên Việt vây chiếu, Văn Xương, Văn Khúc giáp mệnh, có Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung, thì có thể làm tăng tính chất "cởi mở"; ngược lại, nếu có các sao sát, kị, hình, hao cùng xâm phạm, sẽ khiến tính chất của chúng thành "trầm uất". Thiên Lương hội hợp mà có cát hóa cũng có thể giảm bớt tính chất "trầm uất", dù Thiên Lương Hóa Lộc cũng tốt hơn so với không có sao lộc; lúc đồng độ với Đà La, tính "cô kị" của Thiên Lương rất nặng, sẽ làm tăng tính "trầm uất" của "Thái Âm, Thái Dương".
Hai sao "Thiên Cơ, Cự Môn" thì Thiên Cơ Hóa Kị không gây ảnh hưởng thành "trầm uất", nhưng Cự Môn Hóa Kị thì ảnh hưởng rất lớn. Lúc Thiên Cơ cát hóa sẽ không bằng Cự Môn cát hóa, bởi vì sau khi Cự Môn cát hóa, lực che lấp hào quang của người khác sẽ biến thành nhu hòa, có thể giảm bớt tính "trầm uất" của "Thái Âm, Thái Dương".
Các cung hạn của "Thái Âm, Thái Dương"
Cung hạn Tham Lang độc tọa thông thường chỉ có lợi đối với "Thái Âm, Thái Dương" có tính "cởi mở". Nếu là loại "trầm uất" đến cung hạn này, thì không nên gặp Tham Lang Hóa Kị, cũng không nên gặp Liêm Trinh Hóa Kị của đối cung, nếu không sẽ chủ về cảnh ngộ của đời người khốn khó, rời xa người thân, lưu lạc, càng dễ xảy ra đau khổ nội tâm. Lúc Tham Lang cát hóa, lại không thích hợp với "Thái Âm, Thái Dương" có tính "cởi mở" quá đáng; nếu Thái Âm của nguyên cục cát hóa, có tính hướng nội vừa phải, đến cung hạn Tham Lang cát hóa mới không biến thành tính chất hào nhoáng bề ngoài. Trong các tình hình thông thường, Tham Lang khá có lợi đối với loại "cởi mở" mà bất lợi đối với loại "trầm uất": loại "trầm uất" dễ đánh mất cơ hội, còn dễ vì phương diện u ám của nội tâm mà tạo thành những biến động, thay đổi không cần thiết, đời người cũng nhiều sóng gió, trắc trở hơn. Lúc Tham Lang đồng độ với Đà La, "Thái Âm, Thái Dương" đến cung hạn này chỉ chủ về trong lòng tình cảm thất thường, chứ không chủ về có hành vi lãng mạn.
Cung hạn "Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ, hễ có các sao sát, kị, hình, thì bất kể "Thái Âm, Thái Dương" có tính chất nào cũng đều bất lợi. Về đại thể, loại "trầm uất" ghét Cự Môn Hóa Kị hơn, loại "cởi mở" thì ghét Thiên Cơ Hóa Kị hơn; trường hợp trước sẽ gặp nhiều buồn phiền, rối rắm khó xử, trường hợp sau sẽ gặp nhiều bất an. Cung hạn Thiên Cơ được cát hóa, đối với loại "trầm uất" chỉ chủ về bề ngoài thuận lợi toại ý, nhưng không thể giảm bớt lo nghĩ nội tâm; Cự Môn cát hóa, đối với loại "cởi mở" cũng chỉ chủ về bề ngoài vẻ vang, trên thực tế sự nghiệp vẫn chưa đứng vững. Cho nên cần phải đồng thời cát hóa cả hai sao, một ở nguyên cục và một ở vận hạn, hoặc một ở vận hạn và một ở lưu niên, mới là rất có lợi.
Cung hạn "Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ, nếu bị "Hình kị giáp ấn" mà tính "trầm uất" của "Thái Âm, Thái Dương" lại nặng, sẽ chủ về nạn tai liên tục, còn có thể bị bệnh tật ảnh hưởng suốt cuộc đời. Nếu là "Tài ấm giáp ấn", thì "Thái Âm, Thái Dương" có tính "cởi mở" dễ được người ta ủng hộ, nâng đỡ, còn đối với loại "trầm uất" thì chỉ là vận thế thuận lợi toại ý mà thôi. "Tử Vi, Thiên Tướng" hội Liêm Trinh Hóa Kị, "Thái Âm, Thái Dương" có tính "trầm uất" mà đến cung hạn này, thường thường đang ở trong hoàn cảnh thuận lợi bỗng xảy ra tình huống bị đả kích; còn loại "cởi mở" thì dễ phát triển thái quá mà thành vất vả. Nên xem xét các lưu niên để biết tiến thoái hợp thời cơ, đó là đạo "xu cát tị hung".
Cung hạn Thiên Lương độc tọa, nếu ở nguyên cục Thiên Lương có tính "cô kị" quá nặng, "Thái Âm, Thái Dương" có tính "trầm uất" mà đến đại vận hoặc lưu niên này, sẽ gặp nhiều trắc trở, bản thân cũng nhiều nạn tai, bệnh tật; còn loại "cởi mở" đến thì chỉ là dịp tôi luyện bản thân, không gây tổn hại thực tế. Cho nên Thiên Lương Hóa Quyền hay Hóa Khoa sẽ tốt hơn Hóa Lộc, vì Hóa Lộc vẫn không thể tiêu trừ được tính "cô kị" của nó; Hóa Khoa lại tốt hơn Hóa Quyền, tính "cô kị" sẽ mất hoàn toàn. Lúc Thiên Lương Hóa Khoa, lại được cát tinh hội hợp hay vây chiếu, nếu là "Thái Âm, Thái Dương" có tính "cởi mở" đến, thường thường là vận thế cực thịnh.
Cung hạn Thất Sát độc tọa cũng chỉ lợi cho "Thái Âm, Thái Dương" có tính "cởi mở", có thể nhờ lợi thế mà có thế lực, khiến hoàn cảnh khách quan chuyển biến theo hướng tốt; nếu là loại "trầm uất" đến thì trái lại sẽ chủ về nhiều bất an. Lúc này nếu lại gặp các sao sát, kị, hình tụ hợp, thường thường sẽ xảy ra thất bại rất lớn; nếu là loại "trầm uất" đến cung hạn này thì càng tệ hơn, còn phải đề phòng bệnh ung thư hoặc bệnh nan y khác. Ở lưu niên, nếu Vũ Khúc cát hóa mà Tham Lang cũng cát hóa, thì dù "Thái Âm, Thái Dương" có tính "trầm uất" đến, cũng là năm có thể phát vượt lên, sẽ dẫn đến một thời kì tốt lành, vận thế hưng phát.
Cung hạn Liêm Trinh độc tọa, dù Liêm Trinh Hóa Lộc, đối với "Thái Âm, Thái Dương" có tính "trầm uất" cũng không có lợi nhiều; lúc nguyên cục có Đà La đồng độ thì lại bất lợi, vẫn chủ về nội tâm bất an. Liêm Trinh Hóa Kị đương nhiên càng xấu; nếu Hóa Kị mà còn bị Kình Dương và Đà La giáp cung, đối với "Thái Âm, Thái Dương" có tính quá "trầm uất", thường thường là năm thất bại lớn. "Thái Âm, Thái Dương" có tính "cởi mở" ưa Liêm Trinh Hóa Lộc, nhưng cũng không ưa Liêm Trinh Hóa Kị.
Cung hạn Phá Quân độc tọa, bất kể "Thái Âm, Thái Dương" thuộc tính chất nào đến cũng đều có khuyết điểm, chỉ có loại "cởi mở" là bị bất lợi ở mức độ rất nhỏ. Phái Trung Châu có một khẩu quyết:
"Nhật Nguyệt đến cung hạn Phá Quân, vận không toàn mĩ."
Phải xem xét kĩ mười hai cung để định tính chất bất lợi: ở các cung như cung tử nữ, cung phu thê, cung phụ mẫu, hoặc cung tật ách, nhất định sẽ lộ ra khuyết điểm; không được chỉ chuyên chú cung tài bạch và cung sự nghiệp mà luận đoán. Nếu Phá Quân cát hóa, gặp các sao phụ, tá, thường thường lại là thời kì khai vận; điều này không mâu thuẫn với điều vừa thuật ở trên, bởi vì vận thế có khuyết điểm không phải là không thể khai vận.
Cung hạn Thiên Đồng độc tọa, nếu Thiên Đồng có sắc thái ổn định thì thích hợp cho "Thái Âm, Thái Dương" đến, thuộc loại "cởi mở" càng cát lợi. "Thái Âm, Thái Dương" có tính "trầm uất" mà đến cung hạn Thiên Đồng có tính chất không ổn định, thì phải trải qua gian nan, trắc trở hoặc phá tán, thất bại, mới được ổn định. "Thái Âm, Thái Dương" có tính "trầm uất" đến cung hạn Thiên Đồng Hóa Kị, nhất là nữ mệnh, cần phải đề phòng sa chân lỡ bước; sao hóa ở lưu niên thì càng nặng, ở nguyên cục thì nhẹ hơn.
Thông thường, cung hạn "Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ thì "Thái Âm, Thái Dương" thuộc tính chất nào đến cũng có lợi. Nếu có tính "trầm uất" thì sẽ ưa "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có năng lực hành động; nếu có tính "cởi mở" thì sẽ ưa "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có năng lực bảo thủ, cả hai đều có thể bù đắp những khiếm khuyết đáng tiếc của bản thân. Nếu "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thiên về tính xấu mà "Thái Âm, Thái Dương" có tính "trầm uất" đến cung hạn này, thường thường chủ về lục thân lạnh nhạt, bản thân cũng khốn khổ, rời xa người thân, lưu lạc.
Một lá số "Thái Âm, Thái Dương" ở cung phu thê
Có một lá số cung mệnh là "Thiên Cơ, Cự Môn" ở cung Mão, người sinh năm Đinh nên Cự Môn Hóa Kị; cung phu thê là "Thái Âm, Thái Dương" mà Thái Âm Hóa Lộc, nhưng bị Kình Dương, Đà La cùng chiếu xạ, nên tính chất thuộc loại "trầm uất". Do Thái Âm được cát hóa nên tính "trầm uất" không quá tệ, người này chọn vợ như vậy.
Đến đại vận Tân Hợi, cung phu thê của đại vận vô chính diệu, mượn "Thiên Cơ, Cự Môn" của đối cung để an sao, có Lưu Lộc đồng độ, "Thiên Cơ, Cự Môn" lại bị Kình Dương và Đà La giáp cung. Cự Môn Hóa Kị ở nguyên cục mà đến đại vận thì Hóa Lộc, thế là vợ không chịu ở yên trong nhà, yêu cầu li dị. Nếu "Thái Âm, Thái Dương" của nguyên cục có tính "cởi mở", đến vận hạn này sẽ không có sự kiện như vậy xảy ra. Điều xấu nhất là "Thái Âm, Thái Dương" ở nguyên cục bị Kình Dương, Đà La chiếu xạ, đến đại vận thì bị Kình Dương và Đà La giáp Hóa Kị, lại còn là Cự Môn Hóa Lộc khơi dậy tính chất xung đột của các sao, nên khó tránh xảy ra sự cố.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
