Bài tổng quan
Nền Tảng Tử Vi Trung Châu: Thuật Ngữ, Tam Bàn, Tinh Hệ Và Miếu Hãm
Mọi phép luận đoán của phái Trung Châu đều dựng trên một hệ khái niệm chặt chẽ. Các thuật ngữ bản cung, đối cung, hợp cung, tọa thủ, chính diệu, sát diệu được định nghĩa rõ để gọi tên thống nhất. Phái này dùng ba bản đồ: thiên bàn định cách cục, địa bàn xét căn nguyên tiên thiên, nhân bàn theo dõi biến động theo thời gian. Toàn bộ 145 sao được xếp vào ba tinh hệ Bắc Đẩu, Nam Đẩu và Trung Thiên, rồi chia chức năng thành bảy nhóm: chính diệu, phụ diệu, tá diệu, sát tinh, hóa diệu, tạp diệu và lưu diệu. Năm mức miếu, vượng, bình, nhàn, hãm biểu thị hoàn cảnh cung độ của sao, với ba bảng riêng cho 14 chính diệu, cho sao an theo thiên can và cho sao an theo địa chi.
Thuật Ngữ Cơ Bản
Trước khi vào nội dung chính, sách liệt kê thuật ngữ cơ bản dùng xuyên suốt, giúp người đọc nắm được các quy ước gọi tên khi luận đoán lá số.
Bản cung (cung gốc): tức cung chủ về việc đang xem. Như xem tiền tài là cung tài bạch, cung tài bạch tức là bản cung.
Bình nhàn: sao ở vào cung thuộc loại trung tính.
Củng chiếu (vây chiếu): sao gặp ở đối cung. Như Thất Sát tọa thủ, đối cung là "Tử Vi, Thiên Phủ"; gọi là "Tử Vi, Thiên Phủ" củng chiếu Thất Sát. Còn gọi là "triều củng" (chầu về).
Chính diệu: là chỉ 14 sao Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Đào hoa chư tinh (các sao đào hoa): là chỉ 6 sao Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì (còn gọi là Đào Hoa Sát), Đại Hao, Thiên Diêu, Mộc Dục. Liêm Trinh và Tham Lang cũng có tính chất đào hoa, nhưng đã xếp vào chính diệu.
Đối cung (cung đối diện): là cung đối nhau với bản cung, có quan hệ "lục xung". Như Tí Ngọ xung nhau, cung Tí và cung Ngọ là đối cung của nhau.
Đồng độ (cùng đến một cung): các sao cùng bay vào một cung. Như ngoài Thất Sát tọa thủ, trong cung còn gặp Lộc Tồn, gọi là "Thất Sát có Lộc Tồn đồng độ", hay gọi là "Thất Sát đồng độ với Lộc Tồn".
Giáp cung: hai sao ở lân cung của bản cung, gọi là giáp cung. Như cung Dần có Vũ Khúc Hóa Kị, Kình Dương ở cung Mão, Đà La ở cung Sửu, tức là Kình Dương và Đà La giáp Hóa Kị.
Hao diệu (sao hao): là chỉ Đại Hao, Tiểu Hao.
Hình diệu (sao hình): là chỉ Kình Dương, Thiên Hình, Quan Phù, Bạch Hổ, là các sao mang lại điều không may từ chính diện, công khai.
Hóa diệu (sao hóa): là chỉ bốn sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị.
Hội chiếu (hội hợp): các sao gặp ở cung tam hợp, như Thất Sát tọa thủ cung Thân, Tham Lang tọa cung Thìn, Phá Quân tọa cung Tí, vì vậy gọi là "có Tham Lang và Phá Quân hội chiếu".
Hợp cung (cung hội hợp): là cung có quan hệ thành tam hợp với bản cung. Như bản cung là Tí, vì Thân Tí Thìn là tam hợp, nên hai cung Thân, Thìn là hợp cung của cung Tí.
Kị diệu (sao kị): là chỉ Hóa Kị và Đà La, là hai sao mang lại điều không may một cách âm thầm, không rõ nguyên nhân.
Kiến (gặp): các sao hội hợp ở tam phương tứ chính, gọi chung là "kiến".
Khoa danh chư diệu (các sao khoa danh): ngoại trừ các văn diệu đã kể ở trên, thêm tám sao Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quang, Thiên Quý, Đài Phụ, Phong Cáo, Thiên Quan, Thiên Phúc.
Không diệu (sao không): là chỉ Địa Không và Thiên Không. Tiệt Không và Tuần Không cũng có thể tính là "sao không", nhưng có tác động yếu hơn.
Không Kiếp: là chỉ 2 sao Địa Không, Địa Kiếp.
Lạc hãm: sao ở vào hoàn cảnh rất xấu, dẫn đến sao cát thì vô lực, sao hung thì tăng hung.
Lân cung (cung kế cận): hai cung giáp bản cung. Như bản cung ở cung Tí, thì hai cung Hợi và Sửu là lân cung.
Lộc diệu (sao lộc): là chỉ Lộc Tồn, Hóa Lộc.
Nhập miếu: là sao ở vào cung có trạng thái tốt nhất, giống như được cung phụng, vì vậy gọi là "nhập miếu".
Nhật Nguyệt: là chỉ 2 chính diệu Thái Dương, Thái Âm.
Phụ diệu: là chỉ 4 sao Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt.
Sát diệu (sát tinh): là chỉ 4 sao Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La; còn gọi là "tứ sát". Có lúc cũng bao gồm cả Địa Không, Địa Kiếp, gọi là "lục sát".
Sát Phá Lang: là chỉ 3 sao Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang. Ba sao này luôn tương hội ở cung tam hợp (tức tam phương), trở thành then chốt của sự chuyển biến mệnh vận, vì vậy lúc chúng tụ hợp gọi chung là "Sát Phá Lang".
Tạp diệu: tức các sao Địa Không, Địa Kiếp, Tam Thai, Bát Tọa, Thiên Hình, Thiên Diêu, Cô Thần, Quả Tú, Hồng Loan, Thiên Hỉ, v.v.
Tá diệu: là chỉ 4 sao Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã.
Tá tinh (mượn sao): bản cung vô chính diệu, mượn sao ở đối cung cho vào bản cung để luận đoán, gọi là tá tinh. Bất kể luận đoán 12 cung mệnh bàn, hay 12 cung đại hạn, cho đến lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật, lưu thời, đều dùng phép tá tinh.
Tam phương (ba phương): bản cung và hợp cung (hai cung hội hợp), gọi chung là "tam phương".
Tọa thủ (ngồi giữ): chính diệu nhập bản cung, gọi là tọa thủ. Như cung mệnh có chính diệu Thất Sát, gọi là Thất Sát tọa thủ cung mệnh, hoặc gọi tắt là Thất Sát thủ mệnh.
Tọa vượng (thừa vượng): lúc sao ở vào trạng thái tốt, tuy không bằng nhập miếu, nhưng tọa cung vượng, sao vẫn hữu lực.
Tứ chính (bốn mối quan hệ chính): tam phương cộng thêm đối cung, gọi là "tứ chính".
Văn diệu (sao văn): là chỉ 6 sao Hóa Khoa, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Tài, Long Trì, Phượng Các.
Xung: có lúc cũng gọi là xung phá. Các sao sát, kị gặp ở tam phương tứ chính, gọi là xung, xung trong Đẩu Số khác với lục xung của "Tử Bình".
Thiên Bàn, Địa Bàn Và Nhân Bàn
Về vấn đề "Tam bàn", Lục Bân Triệu phát biểu như sau: Tử Vi Đẩu Số căn cứ Tử Vi viên, Bắc Đẩu, Nam Đẩu và các nhóm sao khác bay vào các cung độ để luận đoán cát hung họa phúc, đương nhiên chúng ta cần phải có một "bàn đồ" (tinh bàn) để ghi chép động thái của các sao, "bàn đồ" này gọi là "mệnh bàn". Mệnh bàn này chia làm 12 cung, lấy 12 địa chi để cố định vị trí, sau đó chiếu theo nguyên tắc để điền các sao vào từng cung trong mệnh bàn. Một mệnh bàn lại chia thành ba "bàn đồ": một là "thiên bàn", hai là "địa bàn", ba là "nhân bàn". Ba bàn đồ này có công dụng khác nhau, như sau:
Thiên bàn
Trong Tử Vi Đẩu Số, thiên bàn là bản đồ chính, dùng để định ra cách cục cao thấp về tính cách, ý chí, danh lợi và sự nghiệp của mệnh tạo. Còn có thể luận đoán về sự hình khắc và thành bại của cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái; là khái quát về các trạng thái biểu hiện của đời người. Giống như kiến trúc của một tòa nhà, thiên bàn chính là phác thảo về ngôi nhà này, qua đó chúng ta có thể biết được tòa nhà này to lớn hay nhỏ bé, theo kiểu cổ điển hay là hiện đại, v.v...
Địa bàn
Địa bàn dùng để luận đoán về căn nguyên tiên thiên. Giống như kiến trúc của một tòa nhà, địa bàn chuyên nghiên cứu nền móng của tòa nhà xem nó sâu hay cạn, chất liệu kiến trúc là xi măng cốt sắt, hay là cát đất gỗ ván. Nhưng từ thời cận đại trở lại đây, nhiều nhà Đẩu Số không còn chú trọng "địa bàn". Theo Lục Bân Triệu, vào đời Minh, khi luận đoán Đẩu Số người ta đều phải tra xét "địa bàn" để tìm ra căn cơ tiên thiên của mệnh tạo, xem nó có vững vàng hay không.
Nhân bàn
Các sao ở các cung lúc người ta sinh ra được ghi hết vào "thiên bàn", nhưng một người sau khi sinh ra nhất định không thể dừng lại lúc đó, thời gian sẽ không dừng trôi qua, hoàn cảnh và nhân sự cũng không ngừng biến động trong từng giây, cho nên nếu chỉ căn cứ vào "thiên bàn" thì không đủ để luận đoán sự thiên biến vạn hóa của đời người. Vì vậy cần phải có một "bản đồ" biến động giống như thời gian, nhằm biểu hiện sự biến thiên của nhân sự theo thời gian, "bản đồ" này gọi là "nhân bàn".
Liên quan đến "địa bàn" và "nhân bàn", thảy đều biến hóa từ "thiên bàn" mà ra. Do đó, bước đầu tiên là cần phải có tư liệu về giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, và năm sinh của mệnh tạo để trình bày "thiên bàn" cho thật chính xác.
Chú giải của Vương Đình Chi
Trên là thuyết minh của Lục Bân Triệu về "tam bàn" của Đẩu Số. Trong sách Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa bổ chú, Vương Đình Chi chú giải như sau: liên quan đến "thiên bàn", "địa bàn", và "nhân bàn", có nhiều ý kiến khác nhau. Hiện nay các phái Đẩu Số thông thường chỉ luận "thiên bàn", không có "địa bàn", còn "nhân bàn" thì gọi là "lưu bàn" (Bắc phái lại có thuyết khác, xin xem trong Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa phái cùng tác giả Nguyễn Anh Vũ). Riêng phái Trung Châu là có "tam bàn".
Lục Bân Triệu tiên sinh luận về "địa bàn" ví như nền móng của một ngôi nhà, dùng để luận đoán về "căn nguyên tiên thiên"; còn "nhân bàn" là "một bản đồ biến động giống như thời gian, nhằm biểu hiện sự biến thiên của nhân sự theo thời gian", đây cũng là "lưu bàn" như tục vẫn thường gọi. Đây là một thuyết.
Có thuyết khác cho rằng, dùng "địa bàn" và "nhân bàn" là để luận đoán các trường hợp "giao thế thời" (giờ giao thoa, giờ chuyển tiếp). Tức 15 phút đầu của một giờ thời xưa (bằng 2 tiếng đồng hồ ngày nay) dùng để tính "địa bàn", 15 phút cuối của một giờ thời xưa dùng để tính "nhân bàn".
Ví dụ như, 5 giờ đến 7 giờ sáng là giờ Mão, nên người sinh vào khoảng từ 5 giờ đến 5 giờ 15 phút (hoặc 5 giờ 30 phút) thì dùng "địa bàn"; sau 5 giờ 15 phút (hoặc 5 giờ 30 phút) đến 6 giờ 30 phút (hoặc 6 giờ 45 phút) thì dùng "thiên bàn"; từ sau 6 giờ 30 phút (hoặc 6 giờ 45 phút) đến 7 giờ thì dùng "nhân bàn".
Tam Đại Tinh Hệ
Tử Vi Đẩu Số có ba tinh hệ lớn, gồm tinh hệ Bắc Đẩu, tinh hệ Nam Đẩu và tinh hệ Trung Thiên.
Chủ tinh của tinh hệ Bắc Đẩu là Tử Vi; các chính diệu là Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân; các trợ diệu là Tả Phụ, Hữu Bật, Kình Dương, Đà La.
Chủ tinh của tinh hệ Nam Đẩu là Thiên Phủ; các chính diệu là Thiên Cơ, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thiên Đồng, Thất Sát, Văn Xương; các trợ diệu là Thiên Khôi, Thiên Việt, Hỏa Tinh, Linh Tinh.
Chủ tinh của tinh hệ Trung Thiên là Thái Âm, Thái Dương; các chính diệu là tứ hóa diệu: Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị, kiêm quản các tá diệu và tạp diệu khác.
Trong phái Trung Châu, ba tinh hệ sao này tổng cộng là 145 sao, thường dùng là 115 sao, và 30 sao thuộc các sao quan trọng trong "Tùng Thần gia", nhưng lúc luận đoán Đẩu Số, chỉ khi nào cần thiết mới tìm vị trí của nó. Như khi gặp nguy cơ mất tiền, mới tìm vị trí của sao Phi Tài, để xem có xảy ra tình hình bị cướp của hay không; hoặc khi gặp nguy cơ bị tai nạn chảy máu, mới tìm sao Huyết Nhận và Sát Nhận để xác định tính chất của sự kiện, v.v...
Chức Năng Của Các Nhóm Sao
Theo lưu truyền của phái Trung Châu Vương Đình Chi, các sao của Tử Vi Đẩu Số được phân loại như sau:
Chính diệu: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Phụ diệu: Tả Phụ, Hữu Bật; Thiên Khôi, Thiên Việt.
Tá diệu: Văn Xương, Văn Khúc; Lộc Tồn, Thiên Mã.
Sát tinh: Kình Dương, Đà La; Hỏa Tinh, Linh Tinh.
Hóa diệu: hóa khí dựa theo thập can, hóa thành 4 loại: Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị; mỗi can có 4 sao, tổng cộng 40 sao.
Tạp diệu: tức các sao Địa Không, Địa Kiếp, Tam Thai, Bát Tọa, Thiên Hình, Thiên Diêu, Cô Thần, Quả Tú, Hồng Loan, Thiên Hỉ, v.v...
Lưu diệu: Lưu Lộc, Lưu Mã; Lưu Dương (Lưu Kình Dương), Lưu Đà; Lưu Xương, Lưu Khúc (Lưu Văn Khúc); Lưu Khôi, Lưu Việt; Lưu tứ hóa; và 36 sao trong ba nhóm "Tướng tiền chư tinh", "Tuế tiền chư tinh", "Bác Sĩ tiền chư tinh".
Các Sao Miếu Hãm
Đối với 12 cung độ, các sao của Đẩu Số có sự ưa ghét khác nhau, vì mỗi cung đều có hoàn cảnh khác nhau. Khi các sao bay đến, hoàn cảnh của cung độ có thích hợp hay không, sẽ ảnh hưởng đến sự phát huy sức mạnh của nó.
Về hoàn cảnh của các cung, phái Trung Châu Vương Đình Chi thường dùng "miếu", "vượng", "bình", "nhàn", "hãm" để đại biểu.
Nói "nhập miếu", tức các sao ở vào cung độ thích hợp nhất đối với nó. Nhờ đó cát tinh có thể phát huy sức mạnh một cách lớn nhất, còn hung sát tinh cũng sẽ giảm bớt tính hung bạo. Điều này cũng giống như quân tử ở miếu điện thì có thể thi thố tài năng ở đời; còn tiểu nhân thì được rượu thịt, cũng không rảnh rỗi để gây chuyện thị phi.
Nói "lạc hãm", tức các sao ở vào cung độ cực kì không thích hợp. Vì vậy cát tinh không thể phát huy sức mạnh của nó, còn sao hung thì lại phát huy tính hung bạo của nó. Điều này cũng giống như quân tử ở chốn hoang dã, bị tiểu nhân ức hiếp, làm nhục, không thể phát huy thông minh tài trí của mình; còn tiểu nhân thì khốn cùng, đương nhiên sẽ xông vào chốn hung hiểm, gây ra chuyện thị phi.
"Thừa vượng" chỉ kém hơn "nhập miếu" một bậc. "Bình cung" và "nhàn địa" có ảnh hưởng không lớn đối với các sao, nhưng "bình" tốt hơn "nhàn".
Dưới đây là các bảng liệt kê cung "miếu, hãm" của các sao.
Bảng tra miếu hãm của 14 chính diệu
| Tí | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tị | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tử Vi | bình | miếu | miếu | vượng | bình | vượng | miếu | miếu | vượng | bình | nhàn | vượng |
| Thiên Cơ | miếu | hãm | vượng | vượng | miếu | bình | miếu | hãm | bình | vượng | miếu | bình |
| Thái Dương | hãm | hãm | vượng | miếu | vượng | vượng | miếu | bình | nhàn | nhàn | hãm | hãm |
| Vũ Khúc | vượng | miếu | nhàn | hãm | miếu | bình | vượng | miếu | bình | vượng | miếu | bình |
| Thiên Đồng | vượng | hãm | nhàn | miếu | bình | miếu | hãm | hãm | vượng | bình | bình | miếu |
| Liêm Trinh | bình | vượng | miếu | nhàn | vượng | hãm | bình | miếu | miếu | bình | vượng | hãm |
| Thiên Phủ | miếu | miếu | miếu | bình | miếu | bình | vượng | miếu | bình | bình | miếu | vượng |
| Thái Âm | miếu | miếu | nhàn | hãm | nhàn | hãm | hãm | bình | bình | vượng | vượng | miếu |
| Tham Lang | vượng | miếu | bình | bình | miếu | hãm | vượng | miếu | bình | bình | miếu | hãm |
| Cự Môn | vượng | hãm | miếu | miếu | bình | bình | vượng | hãm | miếu | miếu | hãm | vượng |
| Thiên Tướng | miếu | miếu | miếu | hãm | vượng | bình | vượng | nhàn | miếu | hãm | nhàn | bình |
| Thiên Lương | miếu | vượng | miếu | miếu | vượng | hãm | miếu | vượng | hãm | bình | vượng | hãm |
| Thất Sát | vượng | miếu | miếu | hãm | vượng | bình | vượng | vượng | miếu | nhàn | miếu | bình |
| Phá Quân | miếu | vượng | hãm | vượng | vượng | nhàn | miếu | miếu | hãm | hãm | vượng | bình |
Bảng tra miếu hãm của các sao an theo thiên can
| Tí | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tị | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Thiên Khôi | vượng | vượng | miếu | miếu | vượng | |||||||
| Thiên Việt | vượng | vượng | vượng | miếu | miếu | |||||||
| Lộc Tồn | vượng | miếu | vượng | miếu | vượng | miếu | vượng | miếu | ||||
| Kình Dương | hãm | miếu | hãm | miếu | bình | miếu | hãm | miếu | ||||
| Đà La | miếu | hãm | miếu | hãm | miếu | hãm | miếu | hãm | ||||
| Thiên Quan | bình | vượng | vượng | vượng | miếu | miếu | bình | bình | vượng | |||
| Thiên Phúc | bình | vượng | bình | vượng | bình | miếu | miếu | miếu | ||||
| Hóa Lộc | bình | miếu | bình | nhàn | miếu | bình | bình | miếu | miếu | bình | miếu | miếu |
| Hóa Quyền | nhàn | miếu | vượng | vượng | bình | bình | miếu | vượng | vượng | bình | miếu | vượng |
| Hóa Khoa | vượng | vượng | vượng | miếu | miếu | nhàn | miếu | vượng | miếu | bình | vượng | vượng |
| Hóa Kị | vượng | miếu | hãm | vượng | nhàn | hãm | hãm | vượng | hãm | hãm | hãm | hãm |
| Tiệt Không | hãm | nhàn | hãm | bình | hãm | miếu | miếu | miếu | miếu | miếu |
Bảng tra miếu hãm của các sao an theo địa chi
| Tí | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tị | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hồng Loan | miếu | hãm | vượng | miếu | hãm | vượng | vượng | hãm | miếu | vượng | hãm | miếu |
| Thiên Hỉ | vượng | hãm | miếu | vượng | hãm | miếu | miếu | hãm | vượng | miếu | hãm | vượng |
| Long Trì | vượng | bình | bình | miếu | miếu | hãm | nhàn | miếu | bình | miếu | hãm | vượng |
| Phượng Các | miếu | bình | miếu | vượng | hãm | miếu | bình | hãm | nhàn | miếu | miếu | vượng |
| Thiên Đức | miếu | miếu | bình | bình | miếu | vượng | vượng | miếu | bình | nhàn | miếu | bình |
| Giải Thần | miếu | bình | miếu | miếu | miếu | vượng | miếu | bình | nhàn | vượng | miếu | nhàn |
| Thiên Khốc | bình | miếu | bình | miếu | bình | bình | hãm | bình | miếu | miếu | bình | bình |
| Thiên Hư | hãm | miếu | vượng | miếu | hãm | vượng | bình | hãm | miếu | miếu | hãm | bình |
| Cô Thần | bình | hãm | bình | hãm | ||||||||
| Quả Tú | bình | hãm | nhàn | hãm | ||||||||
| Hoa Cái | hãm | miếu | hãm | bình | ||||||||
| Kiếp Sát | bình | hãm | bình | hãm | ||||||||
| Hàm Trì | hãm | bình | hãm | bình | ||||||||
| Thiên Mã | vượng | bình | vượng | bình | ||||||||
| Thiên Không | hãm | bình | hãm | bình | miếu | miếu | miếu | hãm | vượng | vượng | hãm | bình |
| Đại Hao | vượng | bình | hãm | nhàn | bình | hãm | vượng | bình | hãm | nhàn | bình | hãm |
| Phá Toái | hãm | hãm | bình | |||||||||
| Hỏa Tinh | bình | vượng | miếu | bình | nhàn | vượng | miếu | nhàn | hãm | hãm | miếu | bình |
| Linh Tinh | hãm | hãm | miếu | miếu | vượng | vượng | miếu | vượng | vượng | hãm | miếu | miếu |
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
