Bài tổng quan
Thất Sát độc tọa ở Tí Ngọ và Liêm Trinh độc tọa ở Dần Thân
Cùng một sao Thất Sát, người thì tuổi trẻ gian nan rồi dựng nên cơ nghiệp, người lại vất vả đến tận tuổi xế chiều - cổ nhân từng nặng lời gọi đó là số phải nhảy sông trầm mình. Bên cạnh nó, Liêm Trinh giữ cung Dần Thân cũng chia làm hai ngả, một bên sống vì cảm xúc, một bên bám chặt vào cái ăn cái ở. Cái quyết định lại nằm ở chỗ ít ai ngờ…
Thất Sát Độc Tọa Ở Hai Cung Tí Hoặc Ngọ
THẤT SÁT ĐỘC TỌA Ở HAI CUNG TÍ HOẶC NGỌ, ĐỐI CUNG LÀ "VŨ KHÚC, THIÊN PHỦ" ĐỒNG ĐỘ, TAM HỢP LÀ PHÁ QUÂN ĐỘC TỌA VÀ THAM LANG ĐỘC TỌA. Thất Sát ở hai cung Tí và Ngọ đối nhau, phải nói là cách cục mạnh. Nhất là Thất Sát ở cung Ngọ, gặp cát tinh thì thành cách "Hùng tú kiền nguyên", chủ về tuổi trẻ trải qua gian khổ rồi sau đó hưng phát. Còn Thất Sát ở cung Tí mà gặp sát tinh trùng hội, chủ về trung niên hoặc vãn niên rất vất vả, khổ sở, khiến cổ nhân có thuyết "nhảy sông trầm mình"; nhưng nếu không gặp sát tinh trùng trùng, vẫn chủ về người này có thành tựu.
Muốn luận đoán tính chất của Thất Sát ở hai cung này, cần phân biệt nó thuộc loại "quyền uy" hay thuộc loại "khắc kị".
Sao lộc, sát tinh và hai khuôn mặt của Thất Sát
Hễ Thất Sát có sao lộc thì không phải là "khắc kị". Nó rất ưa Tham Lang Hóa Lộc: chẳng những tính của Thất Sát được điều hòa, mà Liêm Trinh của cung phúc đức cũng được điều hòa, rất đúng cách "Hùng tú kiền nguyên". Vũ Khúc Hóa Lộc cũng tốt, khiến Thiên Phủ cũng có sao lộc, hội hợp và vây chiếu Thất Sát và Liêm Trinh, cũng là thượng cách có tính chất "quyền uy". Riêng Phá Quân Hóa Lộc thì Liêm Trinh ắt sẽ đối nhau với Tham Lang Hóa Kị, ảnh hưởng đến tính chất của Liêm Trinh, do đó Thất Sát cũng biến thành nhiều lo lắng; tuy không ảnh hưởng đến tính chất "quyền uy", nhưng đời người gian khổ hơn.
Rất ngại Vũ Khúc Hóa Kị, hoặc Liêm Trinh ở cung phúc đức Hóa Kị, khiến Thất Sát mang tính "khắc kị". Nếu lại gặp các sao sát, hình thì nội tâm nhiều lo lắng, nhất là nữ mệnh chủ về tình cảm "trống không". Thất Sát cũng rất ngại đồng độ với Kình Dương, sẽ làm cho tính chất "khắc kị" rất nặng; cũng không ưa Hỏa Tinh. Nếu Hỏa Tinh và Kình Dương đồng thời bay đến, thì tính "khắc kị" của nó có thể làm cho đời người gặp nhiều nạn tai, sức khỏe cũng có vấn đề. Ngược lại, nó rất ưa Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, không gặp sát tinh thì dù không có cát hóa cũng chủ về "quyền uy".
Tính chất các cung hạn
Cung hạn "Thái Âm, Thái Dương" đồng độ, Thất Sát thuộc loại "khắc kị" ưa Thái Dương nhập miếu Hóa Lộc hay Hóa Quyền; Thất Sát thuộc loại "quyền uy" thì ưa Thái Âm nhập miếu Hóa Lộc hay Hóa Quyền. Thái Dương nhập miếu cát hóa có thể giảm nhẹ tính "khắc kị"; Thái Âm nhập miếu cát hóa thì làm hòa hoãn khí "quyền uy". Nếu Thái Âm hay Thái Dương Hóa Kị thì Thất Sát thuộc loại "khắc kị" rất ngại, ắt sẽ xảy ra phá tán, thất bại, thậm chí bị người ta gây lụy. Nếu cung hạn mượn "Thái Âm, Thái Dương" an cung, thì ngoài những tính chất kể trên, do lúc Thái Âm Hóa Lộc thì Cự Môn ở cung tài bạch ắt cũng Hóa Kị, vì vậy có chỗ không thích hợp với Thất Sát, chủ về vận lúc trẻ gặp nghịch cảnh.
Cung hạn Liêm Trinh độc tọa mà có sao lộc, đây là vận thế hưng phát của Thất Sát. Nếu gặp thêm các sao phụ, tá cát tụ tập, mà nguyên cục là Thất Sát thuộc loại "quyền uy", thì trong vận có thể tự sáng lập sự nghiệp. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, lại gặp các sao sát, hình, hao, thì người theo võ nghiệp phải đề phòng xảy ra bất trắc; nếu nguyên cục là Thất Sát thuộc loại "khắc kị" thì càng nặng, dù không theo võ nghiệp cũng phải đề phòng xảy ra nạn tai chảy máu, Vũ Khúc của nguyên cục Hóa Kị thì càng bất lợi. Đạo "xu cát tị hung" ở đây là làm những nghề nghiệp có liên quan đến máu, như nha sĩ, bác sĩ ngoại khoa, khoa phụ sản, hoặc nghề dịch vụ tang lễ, hỏa thiêu, đồ tể, cũng có thể giảm nhẹ tính "khắc kị".
Thông thường Thất Sát "quyền uy" ưa đến cung hạn Phá Quân độc tọa, thêm cát hóa, có sao cát, ắt sẽ có chuyện chuyển biến theo hướng tốt lành. Thất Sát "khắc kị" thì không ưa cung hạn Phá Quân, dù có các sao cát hội hợp cũng phải trải qua thất bại trước rồi mới chuyển biến thành tốt; nếu có sao sát, hình thì thất bại rất nặng, nguyên cục "khắc kị" quá nặng mà đến cung hạn này là vận hung hiểm.
Cung hạn Thiên Đồng độc tọa, Thất Sát "khắc kị" cũng không ưa đến, chủ về tâm trạng không ổn định, các sao hình, kị mà nặng sẽ chủ về nạn tai, bệnh tật. Nếu Thất Sát "quyền uy" đến thì Thiên Đồng là vận tốt, còn là vận hạn thu hoạch, gặp cát hóa càng tốt. Ở lưu niên, Thất Sát thuộc loại "khắc kị" phần nhiều đều bất an; nhưng đối với "quyền uy" thì đây là năm định hình sự nghiệp.
Cung hạn "Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ, bất kể lưu niên hay đại hạn, Thất Sát "quyền uy" đều ưa đến, chủ về tài lộc dồi dào hoặc lập được công nghiệp. Đối với Thất Sát "khắc kị" thì cung hạn này phải có lưu diệu cát tường hội hợp mới tốt; nếu lại gặp sát tinh hoặc hung hóa thì dễ gặp nạn tai rất lớn. Ở cung hạn này, Thất Sát rất ưa gặp Lưu Lộc hoặc Hóa Lộc, tính "khắc kị" của nó mới được điều hòa.
Tham Lang độc tọa thông thường là cung hạn Thất Sát ưa đến, dù có tính "khắc kị" cũng chủ về đời người khá thuận lợi toại ý; nếu được cát hóa và có sao cát, còn là thời kì tài lộc dồi dào, bất kể lưu niên hay đại vận đều đúng. Thất Sát "quyền uy" cũng ưa đến vận hạn hoặc niên hạn Tham Lang, phần nhiều là vận hạn thu hoạch. Dù Tham Lang Hóa Kị thì Phá Quân cũng sẽ đồng thời Hóa Lộc, nên chỉ làm tăng gian khổ mà thôi. Chỉ khi nào có các sao sát, kị, hình, hao cùng đến, thì đây là vận hạn không như ý, nhưng cũng không chủ về nạn tai.
Cung hạn "Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ chỉ sợ Cự Môn Hóa Kị, dù ở đại vận hay lưu niên; sao hội chiếu là mượn Thái Dương Hóa Kị để an cung, lại gặp sát tinh, mà nguyên cục là Thất Sát thuộc loại "khắc kị", sẽ chủ về bị người ta gây lụy hay tranh đoạt, nữ mệnh cần đề phòng suốt đời ôm hận, hối tiếc. Nếu Thiên Cơ Hóa Kị, hội chiếu Thái Âm Hóa Kị, Thất Sát "khắc kị" đến cung hạn này chủ về bị người ta ngấm ngầm gây tổn hại, ám toán. Nguyên cục là Thất Sát "quyền uy" gặp tình hình thuật ở trên cũng bất lợi, chủ về gây ra điều tiếng thị phi, kiện tụng, hoặc do kế hoạch sai lầm mà bị tổn thất. Nếu cung hạn được cát hóa, lại hội sao cát, Thất Sát "khắc kị" đến thì sự nghiệp tuy thuận nhưng vẫn phải đề phòng vì tửu sắc mà chuốc họa; còn Thất Sát "quyền uy" đến cung hạn này thì đây là thời kì ổn định.
Cung hạn "Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ thông thường là đại vận hay lưu niên mà Thất Sát "quyền uy" ưa đến. Nhưng chỉ hơi gặp sát tinh thì không nên tự sáng lập sự nghiệp, cũng không được hành động mù quáng, nếu không sẽ bị người ta công kích hoặc bị cạnh tranh không lành mạnh. Nếu Thất Sát "khắc kị" đến cung hạn này, lại gặp các sao sát, kị, hình, hao, là điềm tượng phá tán, thất bại; nếu ở đại hạn, thường thường trong lúc đang thành công thì đột nhiên xảy ra trắc trở.
Cung hạn Thiên Lương độc tọa thường thường là vận trình Thất Sát phải rời xa quê hương, nếu không cũng chủ về nội tâm bất an. Cung hạn Thiên Lương rất kị hội Thiên Đồng Hóa Kị, lại có Đà La đồng độ, đây là vận hạn Thất Sát "khắc kị" bị lục thân lạnh nhạt; nhất là nữ mệnh, dễ xảy ra rắc rối về tình cảm, yêu người đã có gia đình. Nếu Thiên Lương có cát hóa và sao cát, thì Thất Sát "khắc kị" cũng có thể tự lập trong niên hạn hoặc vận hạn này; đối với Thất Sát "quyền uy" thì đây là niên vận đặt nền tảng cho sự nghiệp, nhưng vẫn không tránh được tình hình bất ổn.
Một lá số thực tế
Cung mệnh là "Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở cung Tị, người sinh năm Đinh; cung thiên di là Thất Sát đồng độ với Lộc Tồn, hội Tham Lang độc tọa có Hỏa Tinh đồng cung. Cung thiên di là Thất Sát có sao lộc, tính chất chuyển thành "quyền uy", lại còn thuộc cách cục "Hùng tú kiền nguyên", cho nên người này vì thời cuộc đã rời khỏi quê hương, sau đó phát đạt.
Đến đại hạn Mậu Thân, cung mệnh của đại hạn là Liêm Trinh, nhưng cung thiên di của đại hạn là Tham Lang Hóa Lộc, thành cách cục "Hỏa Tham" có sao lộc. Vào năm Giáp Dần, cung thiên di của lưu niên là Liêm Trinh Hóa Lộc, hội hợp Tham Lang Hóa Lộc và Lưu Lộc, thế là có cơ hội làm đại lí kinh doanh cho công ti nước ngoài, phát lên đột ngột. Cục này đắc lực hoàn toàn nhờ cung thiên di. Xã hội hiện đại dễ liên lạc với nước ngoài, cho nên đây là ví dụ quan trọng.
Liêm Trinh Độc Tọa Ở Hai Cung Dần Hoặc Thân
Sao thứ đào hoa một mình giữ cung, bên kia là Tham Lang nhìn sang, một bên nặng về tinh thần, một bên nặng về vật chất, kéo con người về hai phía khác nhau.
Liêm Trinh độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân, đối cung ắt là Tham Lang, tam hợp là "Tử Vi, Thiên Tướng" và "Vũ Khúc, Thiên Phủ". Liêm Trinh hay Tham Lang độc tọa ở cung Thân, không có các sao sát, kị, hình, hao, mà có cát hóa và sao cát, gọi là cách "Hùng tú kiền nguyên", đến cung hạn Thất Sát độc tọa thì phát, đến cung hạn Phá Quân độc tọa cũng vậy - đây là cách cục đặc biệt.
Thông thường, muốn luận đoán đặc tính của Liêm Trinh ở hai cung này, cần phải xem nó thuộc loại "mẫn cảm" hay thuộc loại "thiết thực".
Ranh giới giữa "mẫn cảm" và "thiết thực"
Liêm Trinh thuộc loại "mẫn cảm" thông thường có khí chất nghệ thuật, xem trọng sinh hoạt tinh thần. Có Tham Lang Hóa Kị vây chiếu, hoặc Liêm Trinh Hóa Kị, thì sắc thái này càng nặng. Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Tài, Long Trì, Phượng Các, Hoa Cái và các sao đào hoa khác đều làm mạnh thêm tính chất ấy.
Liêm Trinh thuộc loại "thiết thực" tuy cũng xem trọng sinh hoạt tinh thần, nhưng lấy hưởng thụ vật chất làm cơ sở. Liêm Trinh Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Lộc, Hóa Quyền đều có tính chất này; gặp các sao phụ, tá sẽ làm tính chất này mạnh thêm, nhất là Tả Phụ và Hữu Bật.
Liêm Trinh đồng độ với Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, chẳng những làm hỏng cách cục "Hùng tú kiền nguyên", mà còn khiến tính chất "mẫn cảm" của nó biến thành không lành, như trở thành người yêu của người nào đó, hoặc có trăng quên đèn; là kết cấu sao rất xấu, có thể biến thành tính xu phụ quyền thế, cơ hội. Liêm Trinh "thiết thực" thì không nên gặp Địa Không, Địa Kiếp đồng độ hoặc vây chiếu; nếu một sao ở cung mệnh và một sao ở cung thiên di, thì đời người ít nhất cũng bị trắc trở nghiêm trọng một lần; nếu Liêm Trinh "mẫn cảm" gặp tình hình này thì tinh thần lẫn vật chất đều rối rắm.
Liêm Trinh cũng ưa hội Lộc Tồn, rất ưa Lộc Tồn đồng độ với Tham Lang, chủ về cuộc đời gặp nhiều cảnh ngộ thuận lợi toại ý, và thường gặp may mắn bất ngờ trong những lúc khó khăn. "Hỏa Tham" và sao lộc cùng ở cung thiên di thì bất kể Liêm Trinh có tính chất nào cũng đều ưa.
Tính chất các cung hạn
Cung hạn Phá Quân độc tọa, thông thường Liêm Trinh không ưa đến. Trừ phi cung hạn được cát hóa, Phá Quân lại được Thiên Khôi, Thiên Việt giáp cung hoặc tương hội, đây là vận trình có tính sáng tạo: đối với Liêm Trinh "thiết thực" thì là thời gian tạo ra thành tích, đối với Liêm Trinh "mẫn cảm" thì trong thời này cũng có thể phát huy tài trí của mình. Lúc này cần phải kiểm tra hậu vận, hoặc các lưu niên sau đó; nếu hậu vận không tiếp tục tốt thì nên chọn phương kế bảo thủ hơn là tiến thủ. Còn cần phải xem xét tinh bàn một cách toàn cục: nếu vận hạn có Thái Dương Hóa Kị hội Cự Môn Hóa Kị, hay Thái Âm Hóa Kị hội Thiên Cơ Hóa Kị, thì bất kể Liêm Trinh có tính chất nào cũng đều không thích hợp làm việc trong chính giới, nếu không e rằng có tai hại nghiêm trọng. Do vận hạn Phá Quân thường thường là cơ hội lớn để lập thân, vì vậy phải khéo vận dụng đạo "xu cát tị hung".
Liêm Trinh "mẫn cảm" ưa đến cung hạn Thiên Đồng độc tọa, nhưng phải không gặp sát, kị, hình, hao trùng trùng đến hội hợp, thông thường là vận hạn đặt nền tảng cho sự nghiệp. Nếu gặp "Thiên Cơ, Cự Môn" và "Thái Dương, Thái Âm" Hóa Kị hội hợp, lại có sát tinh, thì đây là vận hạn hay niên hạn thị phi kiện tụng, hoặc có thủ đoạn âm mưu, đối với Liêm Trinh "mẫn cảm" khá bất lợi; Liêm Trinh "thiết thực" có thể cẩn thận ứng phó, không chọn phương kế tích cực phản công thì có thể giảm nhẹ mức độ tổn hại. Thiên Đồng cần phải được cát hóa và có sao cát mới là cung hạn Liêm Trinh "thiết thực" ưa đến, chủ về hôn nhân và sự nghiệp đều toại ý.
Cung hạn "Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ, có sao lộc thì Liêm Trinh ưa đến; nếu không có sao lộc thì chỉ thích hợp với Liêm Trinh "thiết thực". Nếu có các sao sát, kị, hao tụ tập, Liêm Trinh "mẫn cảm" sẽ dễ có phản ứng sai lầm, hễ có ý muốn thay đổi là lập tức bị gây khó khăn, khiến tinh thần hao tổn, làm việc điên đảo. Cung hạn này rất kị Vũ Khúc Hóa Kị, đối với Liêm Trinh "mẫn cảm" thường thường là vận thế chủ về nạn tai, bệnh tật. Nữ mệnh Liêm Trinh có tính chất "mẫn cảm", hễ "Vũ Khúc, Thiên Phủ" là cung mệnh hay cung phu thê của lưu niên, thường chủ về bị đàn ông đã có vợ theo đuổi.
Cung hạn "Thái Dương, Thái Âm" đồng độ, trước tiên cần phải xem có cát hóa hay không; nếu Hóa Kị, hoặc Hóa Kị trùng điệp xung hội, thì chủ về nhiều thị phi, rối rắm. Nói một cách cụ thể, Liêm Trinh "mẫn cảm" không ưa Thái Âm Hóa Kị xung hội Thiên Cơ Hóa Kị, đây là năm chủ về bị âm mưu hãm hại; Liêm Trinh "thiết thực" thì không ưa Thái Dương Hóa Kị xung hội Cự Môn Hóa Kị, đây là năm xảy ra điều tiếng thị phi. Nữ mệnh gặp hai tình hình này còn chủ về hôn nhân bất lợi.
Cung hạn Tham Lang độc tọa, chỉ cần gặp Hóa Lộc thì Liêm Trinh "thiết thực" ưa đến, chủ về tiền tài và chuyện vui đến liên tiếp, nhất là "Hỏa Tham", "Linh Tham" thì càng tốt, Tham Lang Hóa Quyền cũng cát. Nhưng Liêm Trinh "mẫn cảm" mà gặp cung hạn Tham Lang cát hóa, thì sau khi phát lên phải đề phòng bị suy sụp một cách nhanh chóng, gặp cách cục "Hỏa Tham", "Linh Tham" thì càng nặng. Nếu Tham Lang Hóa Kị, còn gặp thêm sát tinh, là vận thế không như ý của Liêm Trinh "mẫn cảm"; nhưng tình hình không như ý ấy thường thường lại do bản thân mệnh tạo gây ra.
Cung hạn "Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ, hễ cát hóa thì lợi cho Liêm Trinh "mẫn cảm", hễ Hóa Kị thì bất lợi cho Liêm Trinh "mẫn cảm"; đối với Liêm Trinh "thiết thực", cả hai trường hợp đều không bị ảnh hưởng mạnh bằng. Nếu Hóa Kị, không có sao lộc tương hội, mà còn gặp các sao sát, hình, thì đối với Liêm Trinh "mẫn cảm", đây là vận hạn hoặc niên hạn chủ về xảy ra tai ách nghiêm trọng; đối với Liêm Trinh "thiết thực" chỉ chủ về gặp trắc trở.
Cung hạn "Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ, nếu là "Hình kị giáp ấn", lại còn là "tại dã cô quân", thì rất bất lợi đối với Liêm Trinh "thiết thực", là vận trình bị trắc trở nghiêm trọng; còn đối với Liêm Trinh "mẫn cảm" thì chủ về tinh thần bị áp lực. Nếu là "Tài ấm giáp ấn", đối với Liêm Trinh "thiết thực" là vận trình được người ta nâng đỡ lên vị trí cao hơn, rất có lợi đối với người làm việc trong chính giới; đối với Liêm Trinh "mẫn cảm" thì chỉ chủ về tâm cảnh vui vẻ. Nếu có các sao sát, kị, hình tụ tập, lại còn là "Hình kị giáp ấn", thì thường thường là vận thế điên đảo, thất bại.
Cung hạn Thiên Lương độc tọa cũng không nên hội Hóa Kị của Thái Dương, Thái Âm, Thiên Cơ hay Cự Môn, ý nghĩa cụ thể như đã thuật ở trên. Cung hạn Thiên Lương rất ưa Thiên Lương Hóa Khoa, đây là vận trình thích hợp với Liêm Trinh: thuộc loại "mẫn cảm" thì phần nhiều đều thành công ở phương diện kế hoạch, thuộc loại "thiết thực" thì có thể thu được lợi ích và danh vọng. Nếu Thiên Lương Hóa Lộc thì loại "mẫn cảm" phải đề phòng sức khỏe không tốt, loại "thiết thực" thì nên đề phòng sự nghiệp bị gây khó khăn, tuy có thể hóa giải nhưng cũng không phải là vận thế cát lợi. Thiên Lương Hóa Lộc ở cung Dậu, nếu ở đại vận thì phải đề phòng hai năm Dậu và Sửu có tai biến nghiêm trọng, nên xem xét lưu hóa và lưu diệu của hai năm này để vận dụng đạo "xu cát tị hung".
Thất Sát độc tọa là vận hạn quan trọng của Liêm Trinh. Có cát hóa và sao cát đến hội thì đây là vận thế có tính khai sáng. Nếu Vũ Khúc Hóa Kị, mà còn có các sao sát, hình, hao tụ tập, thì rất bất lợi đối với Liêm Trinh "mẫn cảm", đặc biệt không nên rời xa quê hương hoặc nơi sinh sống đã lâu, đi xa e rằng sẽ xảy ra bất trắc; đối với loại "thiết thực" thì phải chọn thái độ bảo thủ, không được đùng đùng muốn thay đổi hiện trạng.
Một lá số thực tế
Thất Sát thủ mệnh ở cung Ngọ, người sinh năm Đinh, Thất Sát đồng độ với Lộc Tồn; cung phúc đức là Liêm Trinh độc tọa, hội hợp các sao Hàm Trì, Đại Hao, Thiên Hình, Địa Không, Kiếp Sát, Âm Sát; xấu nhất là có Hỏa Tinh đồng độ, do đó khiến Liêm Trinh có đặc tính "mẫn cảm".
Đến đại hạn Quý Mão, cung phúc đức của đại hạn là Thiên Lương độc tọa, nguyên cục có Đà La, Thiên Mã đồng độ, lại hội Linh Tinh, và mượn "Thiên Cơ, Cự Môn" nhập cung, mà ở nguyên cục là Thiên Cơ Hóa Khoa, Cự Môn Hóa Kị. Ở vận Quý, Lưu Đà ở cung Hợi, thế là thành song Đà La trùng điệp hội cung phúc đức. Ở vận này cung phúc đức tuy được Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu, lại gặp Thiên Cơ Hóa Khoa và Thiên Tài, chỉ chủ về thành danh trong giới nghệ thuật, chẳng thể tiêu trừ được tính chất Thiên Lương gặp Đà La trùng điệp. Cho nên mệnh tạo thường nằm mơ thấy đánh nhau với quỷ, rất ảnh hưởng đến sự hưởng thụ tinh thần. Liêm Trinh của nguyên cục thuộc loại "mẫn cảm" đến cung hạn Thiên Lương thủ mệnh thì xảy ra sự cố - đây là một ví dụ.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
