Bài tổng quan
Thái Âm Độc Tọa Thìn, Tuất Và Liêm Trinh, Tham Lang Ở Tị, Hợi
La Võng và đào hoa là hai bối cảnh riêng của Thái Âm ở Thìn, Tuất và Liêm Trinh, Tham Lang ở Tị, Hợi. Thái Âm ở Thìn, Tuất đối Thái Dương nên cơ bản tốt lành, cổ nhân gọi là Nhật Nguyệt cùng chiếu; nhưng Thái Dương ở Tuất lạc hãm nên Thái Âm ở Thìn u ám hơn. Vì ở La Võng, động hướng của Thái Âm rất quan trọng: có mục tiêu thì thoát ra như cá khỏi lưới, hành động mù quáng thì càng gắng càng bị trói. Liêm Trinh, Tham Lang ở Tị, Hợi đối cung vô chính diệu, phải phân biệt thiên hướng tình cảm của Liêm Trinh với ham muốn vật chất của Tham Lang. Liêm Trinh Hóa Lộc hay gặp Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì thì nghiêng về tình cảm. Tinh hệ này không ưa Cự Môn.
Thái Âm Độc Tọa Ở Hai Cung Thìn Hoặc Tuất
Thái Âm độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối cung là Thái Dương, cung tam hợp là Thiên Cơ và "Thiên Đồng, Thiên Lương".
Do có quan hệ đối nhau với Thái Dương, Thái Âm độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất về cơ bản có tính chất tốt lành, cổ nhân gọi là "Nhật Nguyệt cùng chiếu". Nhưng Thái Dương ở cung Tuất là lạc hãm, vì vậy Thái Âm ở cung Thìn u ám hơn Thái Âm ở cung Tuất. Đây là một phân biệt cơ bản rất quan trọng.
Ngoài ra, muốn luận đoán bản chất của Thái Âm ở hai cung này, cần phải chú ý động hướng của nó, thuộc loại "hành động mù quáng" hay có mục tiêu. Hai cung này là "Thiên La, Địa Võng", do đó động hướng của Thái Âm là rất quan trọng. Loại có mục đích thì có thể phá "Thiên La, Địa Võng" để ra, giống như cá thoát khỏi lưới; còn loại "hành động mù quáng" thì càng gắng gượng càng bị trói buộc.
Theo bí truyền của phái Trung Châu Vương Đình Chi, Thái Âm ở hai cung Thìn hoặc Tuất ưa hành kim mà ghét hành hỏa. Nếu trong cung có các sao thuộc hành kim (ưa nhất là âm kim) thì đời người có mục tiêu; nếu có nhiều sao thuộc hỏa (không ưa nhất là âm hỏa), thì sẽ biến thành "hành động mù quáng". (Vương Đình Chi giải thích, đây là chứng nghiệm của nhiều đời và cũng là khẩu quyết của sư phụ truyền cho ông. Nhưng theo kinh nghiệm riêng của Vương Đình Chi, Thái Âm có "hành động mù quáng" hay không, còn liên quan tới Cự Môn ở cung phúc đức.)
Các sao thuộc kim: Văn Xương, Kình Dương, Đà La, Thiên Khốc.
Các sao thuộc hỏa: Thiên Khôi, Thiên Việt, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Mã, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Cô Thần, Quả Tú, Phi Liêm, Phá Toái.
Nhưng trong cung, bất kể có nhiều sao thuộc kim, hay có nhiều sao thuộc hỏa, lúc còn nhỏ ắt bất lợi, bất lợi nhất là cha mẹ.
Thiên Cơ của cung tam hợp dù Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa, nếu đồng thời có nhiều sao sát, hình, Địa Không, Địa Kiếp, cũng có thể khiến Thái Âm biến thành "hành động mù quáng"; không có sao hung, nhưng được cát hóa, mới thuộc loại có mục tiêu. Nếu Thiên Cơ hóa làm sao kị, sẽ khiến Thái Âm có bề ngoài vững vàng, nhưng trong nội tâm thực ra phần nhiều có lối suy nghĩ vô ích, vô nghĩa (xin lưu ý Thiên Cơ ở đây còn chịu ảnh hưởng của Cự Môn ở cung phúc đức), thế là cũng thuộc loại "hành động mù quáng".
"Thiên Đồng, Thiên Lương" ở cung tam hợp, rất kị có Thiên Mã cùng bay đến, nếu không, sẽ biến thành "hành động mù quáng", trừ phi đồng thời có Lộc Tồn đồng độ, thì Thái Âm mới có mục tiêu cho đời người.
Thiên Đồng Hóa Lộc hay Hóa Quyền; Thiên Lương Hóa Lộc, đều khiến Thái Âm có mục tiêu cho đời người. Nếu Thiên Đồng hóa làm sao kị, thì lại thuộc loại "hành động mù quáng". Nhưng nếu Thiên Đồng Hóa Kị mà trong cung gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, thì chỉ chủ về vận lúc nhỏ bất lợi, phải rời xa quê hương để lập nghiệp, không thể xem là "hành động mù quáng".
Thái Âm tọa mệnh ở hai cung Thìn hoặc Tuất, bất kể thuộc tính chất nào, đều không ưa đến cung hạn "Vũ Khúc, Thất Sát"; được hóa cát, cát tinh phò trợ thì còn được, chủ về trong vận hạn có sóng gió, trắc trở; nếu các sao sát, kị, hình tụ hợp, thì đây là năm có tai biến trọng đại (lúc này người Thái Âm tọa mệnh ở cung Tuất lại ưu hơn ở cung Thìn). Điểm này cũng là bí truyền của phái Trung Châu.
Lúc đến cung hạn Thái Dương, Thái Âm ở cung Thìn cũng sẽ bất lợi hơn. Do Thái Dương là dương hóa, hơn nữa Thái Dương ở cung Tuất là lạc hãm, chủ về người dưới quyền không đắc lực, hoặc có tranh chấp với người hợp tác mà gây nên phá tài (cổ nhân cho rằng đây là vận anh em tranh giành tiền bạc).
Thái Âm ở cung Tuất đến cung hạn Thái Dương, Thái Âm của nguyên cục Hóa Lộc, ắt sẽ gặp Thái Dương Hóa Kị, chủ về dễ gây thù chuốc oán, hơn nữa còn dễ bị người ta gây lụy. Nếu lại gặp các sao sát, hình, sẽ chủ về kiện tụng.
Tóm lại, Thái Âm tọa mệnh ở hai cung Thìn hoặc Tuất, không nên đến cung hạn Thái Dương. Thái Âm chủ về tàng chứa, Thái Dương chủ về phân tán, khí chất không hợp nhau. Điểm này cũng là theo bí truyền của phái Trung Châu.
"Tử Vi, Phá Quân" gặp cát tinh, Thái Âm thuộc loại "có mục đích" thích hợp đến cung hạn này hơn, vì đây là vận hạn có tính khai sáng. Nếu Thái Âm thuộc loại "hành động mù quáng" đến, dù gặp cát tinh cũng sẽ sinh trở ngại, hoặc sự nghiệp cũ thất bại rồi mới gây dựng lại. Nếu lại gặp các sao sát kị, thì chẳng thành việc gì, chỉ vất vả bôn ba.
Thái Âm thuộc loại "hành động mù quáng" đến cung hạn Thiên Phủ, bất quá chỉ là hỗn độn vô tri. Thái Âm thuộc loại "có mục tiêu đời người" đến cung hạn này, thì trái lại, sẽ bất lợi về cha mẹ, cũng chủ về điều tiếng thị phi, hoặc có khoảng cách giữa hai đời.
Cung hạn "Liêm Trinh, Tham Lang", bất kể Hóa Lộc hay Hóa Kị, Thái Âm thuộc loại "hành động mù quáng" mà đến hạn này, phần nhiều đều xảy ra rắc rối về tình cảm, ảnh hưởng đến việc học hành hay sự nghiệp. Đối với Thái Âm thuộc loại "có mục tiêu đời người" thì đây vận trình sáng lập nền tảng. Chỉ trong trường hợp có các sao sát, hình trùng trùng, mới là điểm phá tán sản nghiệp của cha. Nếu gặp cả sát tinh lẫn cát tinh, chỉ chủ về rời xa quê hương. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, chủ về đi du học, nhưng học thành xong sẽ không hồi hương.
Thái Âm độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, ưa đến cung hạn Cự Môn ở cung Tí hay Ngọ. Thái Âm độc tọa ở cung Thìn thì ưa cung hạn Cự Môn ở cung Ngọ; Thái Âm độc tọa ở cung Tuất thì ưa cung hạn Cự Môn ở cung Tí. Có điều Thái Âm thuộc loại "hành động mù quáng" mà đến hai cung hạn này (nhất là Thái Âm của cung Thìn đến cung Ngọ; Thái Âm của cung Tuất đến cung Tí), sẽ chủ về vì "hành động mù quáng" mà khuynh gia phá sản, nhẹ thì có sự cạnh tranh không lành mạnh.
Thái Âm ưa đến cung hạn có Thiên Tướng đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc; Thái Âm thuộc loại "có mục tiêu đời người" cũng ưa Thiên Tướng gặp Tả Phụ, Hữu Bật, hoặc có Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung mà không gặp sát tinh thì càng đẹp. Nếu Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật cùng bay đến một cung, có cát hóa, thì trong đại hạn 10 năm có thể sáng lập sự nghiệp, trở nên giàu có. Nhưng Thái Âm thuộc loại "hành động mù quáng" mà đến cung hạn Thiên Tướng, dù có gặp cát tinh cũng chỉ là hư danh hư lợi; gặp tứ sát tinh, Thiên Hình, Đại Hao, thì không tốt lành, nhiều cơ hội mà ít thành tựu, hoặc có chuyện phiền muộn trong lòng.
Vận hạn hoặc lưu niên "Thiên Đồng, Thiên Lương", Thái Âm thuộc loại "hành động mù quáng" chẳng ưa đến. Nếu không, dù gặp cát tinh tụ tập, bất quá chỉ là bề ngoài nhàn nhã, nhưng trong lòng thì buồn bực bất an, bị áp lực, hoặc bị người ta gây lụy; nếu lại gặp các sao sát, kị, sẽ chủ về bị người ta kềm chế.
Vận hạn Thiên Cơ, nên Hóa Lộc hay Hóa Quyền, Hóa Kị thì không tốt. Nếu Thiên Cơ Hóa Lộc của nguyên cục vào lưu niên lại hóa làm sao kị, thì Thái Âm của cung Tuất rất ngại đến. Nếu Thiên Cơ Hóa Kị lại hóa làm sao lộc, đối với Thái Âm của cung Thìn cũng rất ngại đến. Điểm này không có liên quan tới "miếu vượng lợi hãm", mà do khí chất có hợp nhau hay không.
Đến đây xin cử một ví dụ thuyết minh tình huống Thái Âm thủ cung phúc đức ở hai cung Thìn hoặc Tuất.
Người sinh năm Giáp, an mệnh ở cung Thân, mượn "Thiên Đồng, Thiên Lương" của cung Dần để an sao, có Lộc Tồn đồng độ, Thái Âm của cung phúc đức ở Tuất, đối nhau với Thái Dương Hóa Kị (chú ý: Thái Dương Hóa Kị của cung tài bạch còn đồng thời chiếu xạ hai cung, cung mệnh và cung phúc đức).
Đi ngược đến đại vận Tân Mùi, "Tử Vi, Phá Quân" là cung mệnh của đại vận, Thiên Phủ ở cung phúc đức của đại vận bị Lưu Dương và Lưu Đà giáp cung, lại bị Kình Dương và Đà La của nguyên cục chiếu xạ, cung Tị hội hợp với Thiên Phủ thì vô chính diệu, mượn "Liêm Trinh" để an sao, Liêm Trinh Hóa Lộc của nguyên cục lại gặp đào hoa, thế là thất thân với người đã có vợ. (Lưu ý hiệu ứng của Thiên Phủ và Vũ Khúc.)
Nếu Thái Âm ở cung phúc đức của nguyên cục không vây chiếu Thái Dương Hóa Kị, thì không dẫn đến tao ngộ này.
(Trên đây chỉ lấy cung phúc đức làm ví dụ, bạn đọc có thể thử tự luận đoán cung phu thê.)
"Liêm Trinh, Tham Lang" Ở Hai Cung Tị Hoặc Hợi
"Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, đối cung vô chính diệu, cung tam hợp là "Vũ Khúc, Thất Sát" và "Tử Vi, Phá Quân".
Muốn luận đoán đặc tính của hai sao "Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ, cần chú ý phân biệt khuynh hướng "tình cảm" và khuynh hướng "ham muốn vật chất". Liêm Trinh chủ về tình cảm, Tham Lang chủ về ham muốn vật chất.
Nếu Liêm Trinh mạnh (như Liêm Trinh Hóa Lộc; hoặc gặp các sao Văn Xương, Văn Khúc, Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Đại Hao, Mộc Dục, Thiên Diêu, Tam Thai, Bát Tọa, Đài Phụ, Phong Cáo), thì tinh hệ này mang tính tình cảm; nếu Tham Lang mạnh (như Tham Lang Hóa Lộc, Hóa Quyền; hoặc gặp các sao Tả Phụ, Hữu Bật, Ân Quang, Thiên Quý, Long Trì, Phượng Các, Thiên Quan, Thiên Phúc), thì tinh hệ này mang tính ham muốn vật chất.
Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, hoặc gặp Âm Sát, Kiếp Sát, Cô Thần, Quả Tú, thì sẽ làm yếu đi tính tình cảm của tinh hệ này; nếu Tham Lang Hóa Kị, gặp Thiên Hư, Thiên Khốc, Tức Thần, Hoa Cái, thì sẽ làm yếu đi tính tình cảm của tinh hệ này.
Nếu Tham Lang Hóa Kị, gặp Địa Không, Địa Kiếp, Phá Toái, Vong Thần, thì sẽ làm yếu đi tính ham muốn vật chất của tinh hệ này.
"Vũ Khúc, Thất Sát" ở cung tam hợp thì tính ham muốn vật chất rất mạnh. Vũ Khúc là sao tiền tài, có Thất Sát đồng độ thì chủ về quyền tài chính. Nếu Vũ Khúc Hóa Lộc hay Hóa Quyền, thì có thể làm mạnh thêm tính ham muốn vật chất của Liêm Trinh. Nhưng nếu có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, thì "Vũ Khúc, Thất Sát" lại mang sắc thái tình cảm.
"Tử Vi, Phá Quân" ở cung tam hợp chẳng mang tính tình cảm, nhưng lúc chúng thuộc tính phản kháng thì cũng có thể coi là tinh hệ mang tính tình cảm, xin xem lại luận thuật đã trình bày ở trên, xem "Tử Vi, Phá Quân" ở trong tình hình nào thì có thể ảnh hưởng đến tính tình cảm của hệ "Vũ Khúc, Thất Sát".
Tinh hệ "Liêm Trinh, Tham Lang" hội hợp với tam phương tứ chính, khiến chúng nặng tính chất tình cảm, tính ham muốn vật chất cũng nặng, còn mang nặng sắc thái theo đuổi nhục dục, do đó thành tinh hệ đào hoa. Lúc này, cung phúc đức nên kiên cường, hữu lực, thì có thể có chủ trương, không đến nỗi bị cuốn theo dòng nước.
Cung phúc đức ắt là Thiên Tướng độc tọa. Lúc này không nên bị "Hình kị giáp ấn", nếu không sẽ chủ về dễ thất chí, hoặc bị người ta uy hiếp tinh thần, thành hiếu dâm bừa bãi; cũng không nên bị "Tài ấm giáp ấn", nếu không sẽ chủ về là người mềm yếu, hay ỷ lại người khác, cũng dễ bị người ta lợi dụng sai bảo; rất ưa gặp "Tử Vi, Phá Quân" ở đối cung, được "bách quan triều củng", hoặc có kèm Thiên Hình vây chiếu, có thể khiến "Liêm Trinh, Tham Lang" nặng tính chất đào hoa quy về chính đạo.
"Liêm Trinh, Tham Lang" đồng cung với sao không, chỉ ở trường hợp tính tình cảm nặng hơn tính ham muốn vật chất, mới có hóa đào hoa thành nghệ thuật, hoặc thành nghề nghiệp có tính chất giải trí, vui chơi, tiêu dùng. Nếu tính ham muốn vật chất nặng hơn tình cảm, có sao không đồng cung, thì trái lại, dễ có khuynh hướng đuổi cảm giác mạnh, kích thích, không nhất định sẽ có khí chất nghệ thuật.
"Liêm Trinh, Tham Lang" đến các vận hạn Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, cần chú ý xem có thay đổi tính chất của "Liêm Trinh, Tham Lang" ở nguyên cục hay không.
Ví dụ như hệ "Tử Vi, Phá Quân", nguyên cục Tử Vi Hóa Khoa, do đó có thể khiến tính chất không lành của "Liêm Trinh, Tham Lang" sẽ vì danh dự mà kềm chế lại, nhuyễn hóa thành sức mạnh theo đuổi sự nghiệp giải trí, vui chơi, tiêu dùng. Nhưng nếu "Liêm Trinh, Tham Lang" đến cung hạn "Tử Vi, Phá Quân", có Kình Dương, Đà La hội chiếu, lại gặp Văn Khúc Hóa Kị và "Tử Vi, Phá Quân" cùng bay đến, lúc này khuynh hướng tình cảm và khuynh hướng ham muốn vật chất sẽ nảy sinh xung đột, vì tâm trạng mất quân bình, rất có thể sẽ theo đuổi cảm giác kích thích, dẫn đến danh dự bị tổn hại.
Lại như hệ "Vũ Khúc, Thất Sát", nguyên cục Vũ Khúc Hóa Kị, đã bất lợi cho tính ham muốn vật chất; nay lại đến cung hạn "Vũ Khúc, Thất Sát" cung, có Tham Lang Hóa Kị đến hội hợp, ham muốn vật chất càng khó thỏa mãn. Lúc này đối với "Liêm Trinh, Tham Lang" vốn nặng sắc thái tình cảm dễ vì tâm trạng mất quân bình mà xảy ra sự cố, hoặc lãng phí tình cảm để theo đuổi ham muốn vật chất.
Cần phải luận đoán như vậy, xem tính chất của nguyên cục sau khi cộng thêm vào tính chất của lưu diệu sẽ diễn biến ra sao. Xem có phải từ quân bình biến thành mất quân bình, hay từ mất quân bình biến thành quân bình; lại xem phương diện tình cảm xảy ra thay đổi thế nào, hoặc phương diện ham muốn vật chất xảy ra thay đổi thế nào, khuynh hướng thay đổi là tốt hay xấu, mới có thể xác định đúng tính chất của "Liêm Trinh, Tham Lang" khi đến ba cung đại hạn hoặc lưu niên "Liêm Trinh, Tham Lang", "Vũ Khúc, Thất Sát", và "Tử Vi, Phá Quân".
Cung Thiên Phủ tọa thủ nếu là "kho trống", "kho lộ", sẽ khiến "Liêm Trinh, Tham Lang" đau khổ vì sự theo đuổi ham muốn vật chất không được toại nguyện; nếu "Liêm Trinh, Tham Lang" của nguyên cục nặng tình cảm, thì nên đề phòng thất chí, sa chân lỡ bước.
Nếu Thiên Phủ là "kho đầy", thì "Liêm Trinh, Tham Lang" nặng tính ham muốn vật chất sẽ là vận hạn đắc ý, ít nhất thì sinh hoạt vật chất cũng dồi dào. Có điều, người nặng tình cảm mà đến vận hạn này, sẽ cảm thấy tinh thần trống rỗng; nếu "Liêm Trinh" vốn nặng tình đào hoa thì sẽ dễ vì tinh thần trống rỗng mà yêu người đã có gia đình.
"Liêm Trinh, Tham Lang" đến cung hạn Thái Âm độc tọa, nếu bản chất của Thái Âm là "hành động mù quáng", hay "Liêm Trinh, Tham Lang" thuộc loại "khuynh hướng ham muốn vật chất nặng hơn khuynh hướng tình cảm", đều không nên. Trường hợp trước thì sự nghiệp dễ bị trở ngại, trường hợp sau thì tình cảm dễ bị trở ngại. Chỉ nên là tinh hệ quân bình tình cảm và ham muốn vật chất, hai khuynh hướng khắc chế lẫn nhau, thì sẽ không dẫn đến thất bại.
Nếu đến cung hạn Thái Âm có lí tưởng, có mục tiêu, thì "Liêm Trinh, Tham Lang" thuộc loại tình cảm quá phong phú có thể vì chuyên chú vào chuyện tình cảm mà phương hại đến sự nghiệp; "Liêm Trinh, Tham Lang" thuộc loại ham muốn vật chất quá mạnh thì có thể vì chuyên chú chuyện học hành, sự nghiệp, mà dẫn đến hi sinh tình cảm. Cho nên chỉ có lợi đối với "Liêm Trinh, Tham Lang" thuộc loại tính chất quân bình.
Cung hạn có Cự Môn sẽ bất lợi đối với "Liêm Trinh, Tham Lang". Dù hội sao cát, cũng phải bôn ba vất vả, cảm thấy có phúc mà không hưởng được, hoặc vì tình cảm xảy ra sóng gió, trắc trở, khiến tinh thần bị khốn khổ. Nếu lại gặp các sao sát, kị, chủ về thị phi rối rắm, hoặc tinh thần đau khổ.
Nếu nguyên cục Liêm Trinh Hóa Kị, đến vận hạn Cự Môn, nữ mệnh rất cần đề phòng sa chân lỡ bước, bị tình cảm gây khổ lụy.
Nếu nguyên cục Tham Lang Hóa Kị, đến vận hạn Cự Môn, nam mệnh rất cần đề phòng phạm pháp, bị ham muốn vật chất gây khổ lụy.
Thiên Tướng thuộc "Hình kị giáp ấn" bất lợi đối với "Liêm Trinh, Tham Lang" nặng sắc thái ham muốn vật chất; Thiên Tướng thuộc "Tài ấm giáp ấn", thì bất lợi đối với "Liêm Trinh, Tham Lang" nặng sắc thái tình cảm.
Nếu "Liêm Trinh, Tham Lang" có bản chất trung hòa, quân bình, đến vận hạn Thiên Tướng, gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, là điểm khai vận, là cơ hội để sáng lập sự nghiệp.
Trong vận hạn "Thiên Đồng, Thiên Lương", "Liêm Trinh, Tham Lang" nặng sắc thái tình cảm sẽ ưa Thiên Đồng Hóa Lộc, mà không ưa Hóa Kị; "Liêm Trinh, Tham Lang" nặng sắc thái ham muốn vật chất ở cung này mà gặp cát tinh, tình huống rối rắm sẽ giảm bớt.
"Liêm Trinh, Tham Lang" rất kị đại hạn hoặc lưu niên Thái Dương lạc hãm, hoặc hóa làm sao kị. Nếu Thái Dương nhập miếu, hoặc hóa làm sao quyền hay sao lộc, là điểm danh thành công toại của "Liêm Trinh, Tham Lang" có bản chất quân bình; dù ở lưu niên, cũng chủ về được người đề bạt, giới thiệu.
Thái Dương chủ về hướng ngoại, "Liêm Trinh, Tham Lang" vốn cũng không có tính hướng nội. Cho nên lúc Thái Dương hội hợp với các sao cát tường, thông thường là lưu niên đắc ý. Lúc Thái Dương hội hợp với các sao không cát tường, thì đây là lưu niên vì tình cảm bộc lộ, hoặc vì ham muốn vật chất mà phạm sai lầm; lúc hội hợp với các sao sát, kị, hình thì lại chủ về hung họa.
Cung hạn Thiên Cơ độc tọa, sau khi thêm các lưu diệu, xét xem Thiên Cơ mang tính nguyên tắc hay bị tâm trạng hóa, mới có thể biết rõ cát hung khi "Liêm Trinh, Tham Lang" đến cung hạn này. Đại khái là, "Liêm Trinh, Tham Lang" nặng ham muốn vật chất sẽ ưa Thiên Cơ có tính nguyên tắc, trong lưu niên này rất nên vạch kế hoạch; "Liêm Trinh, Tham Lang" nặng tình cảm cũng ưa Thiên Cơ có tính nguyên tắc, trong lưu niên này có thể quyết định nên giữ hay bỏ về chuyện tình cảm. Nếu đến lưu niên Thiên Cơ bị tâm trạng hóa, cả hai loại người "Liêm Trinh, Tham Lang" đều dễ ra quyết định sai lầm.
Đến đây xin cử một ví dụ thực tế "Liêm Trinh, Tham Lang" ở cung mệnh.
"Liêm Trinh, Tham Lang" tọa mệnh ở cung Tị, người sinh năm Quý, Tham Lang Hóa Kị, nhưng không có các sao đào hoa đồng cung; hội hợp với "Tử Vi, Phá Quân" Hóa Lộc, cũng không có sắc thái rắc rối về tình cảm.
Đến đại hạn Bính Thìn là Thái Âm độc tọa, đồng độ với Đà La của đại vận; cung phúc đức của đại vận gặp Cự Môn độc tọa, nguyên cục Hóa Quyền, đồng độ với lưu niên, đối cung là Thiên Cơ Hóa Quyền, hơn nữa cung phụ mẫu của nguyên cục (tức cung phúc đức của đại vận) có các sao đào hoa tụ tập, sắc thái tình cảm đột nhiên nặng thêm, đây là điểm rối rắm tình cảm.
Đến năm Kỉ Mùi, Thiên Tướng thủ cung mệnh của lưu niên, đồng độ với Kình Dương của lưu niên (chú ý: cung mệnh của vận hạn và cung mệnh của lưu niên đều có Lưu Dương hoặc Lưu Đà); nguyên cục Tham Lang Hóa Kị, ở lưu niên thì Hóa Quyền, lại gặp Đà La; hơn nữa, cung phu thê của lưu niên có Văn Khúc Hóa Kị, ảnh hưởng đến "Liêm Trinh, Tham Lang" ở cung phu thê của lưu niên. Cho nên trong lưu niên này, đột nhiên nảy tình yêu không bình thường với chị dâu của vị hôn thê. Mệnh tạo lúc này chỉ 17 tuổi! (Chú ý: cung phu thê của lưu niên, và cung phu thê của nguyên cục đều gặp Vũ Khúc và Thiên Phủ, xin xem lại tư liệu về cung phu thê ở phần 1.)
Nếu cung mệnh của nguyên cục Tham Lang không Hóa Kị, hơn nữa không đến cung hạn Cự Môn thủ cung phúc đức của đại vận, thì không đến nỗi xảy ra sự cố này. Do đó có thể thấy "Liêm Trinh, Tham Lang" không ưa Cự Môn. Nếu trong cung viên Cự Môn không có các sao đào hoa tụ tập đủ, thì cũng không đến nỗi xuất hiện vấn đề tình cảm.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
