Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Mượn sao an cung, tinh diệu hỗ thiệp và bí pháp kiến tinh tầm ngẫu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202610 phút đọc4 lượt đọc
Mượn sao an cung, tinh diệu hỗ thiệp và bí pháp kiến tinh tầm ngẫu

Cung Phu Thê không có chính diệu, người mới học chỉ việc mượn sao đối cung là xong, nhưng nếu một cung trong tam phương cũng trống thì phải làm sao, và mượn cả nhóm sao hay chỉ mượn chính diệu? Một nữ sinh trung học có cách "Lộc văn củng mệnh", lộc tinh văn tinh tụ đủ, theo phép thường thì kì thi năm Giáp Tí không thể trượt. Vậy mà cô vẫn trượt, chỉ vì hai tạp diệu nhỏ Hàm Trì, Đại Hao đứng chung một chỗ ở cung Mệnh lưu niên. Đó là ba kĩ thuật phái Trung Châu từng giữ kín, đến Lục Bân Triệu soạn sách cũng không chịu nói ra. Trong đó, sức mạnh của các cặp sao đôi được xếp hạng từ mạnh đến yếu ra sao?


Dựa vào các bước quan sát đã thuật ở trên, thông qua một ví dụ thực tế, tin rằng bạn đọc đã có cái nhìn sơ lược về phép tắc luận đoán tinh bàn, nhưng còn cần phải thành thục một số kĩ thuật.

Dưới đây chúng tôi xin trình bày các kĩ thuật quan sát để bạn đọc tham khảo.

Mượn sao an cung

Khi một cung vị không có chính diệu, cần phải mượn sao của đối cung nhập vào bản cung, gọi là "mượn sao an cung". Về điểm này, thông thường các sách Đẩu Số chỉ đề cập sơ qua, nhưng có hai then chốt mà lâu nay không ai bàn tới.

Khi "mượn sao an cung", ắt cần phải mượn toàn bộ tinh hệ của đối cung để đưa vào, chứ không chỉ mượn chính diệu để an cung mà thôi, đây là then chốt thứ nhất.

Ví dụ, tinh bàn dưới đây là của một nam mệnh, cung phu thê ở Thìn, vì vô chính diệu, nên phải mượn tinh hệ của đối cung, sau khi "mượn sao an cung", kết cấu của cung phu thê biến thành là Thiên Lương, Thiên Cơ Hóa Kị, Hỏa Tinh, Đà La, Tả Phụ, Hữu Bật.

Tinh bàn nam mệnh, cung phu thê ở Thìn vô chính diệu, đối cung Tuất có Thiên Cơ Hóa Kị, Thiên Lương

Nhưng điểm này có quan hệ không lớn, bởi vì tính chất tinh hệ của đối cung vốn đã đủ gây ảnh hưởng đến bản cung. Tức dù không "mượn sao an cung", tính chất tinh hệ của bản cung và đối cung hợp đại khái cũng giống tính chất sau khi "mượn sao an cung". Nhưng có một then chốt khác, đó là khiến toàn bộ cung phu thê phát sinh biến hóa.

Khi tìm "tam phương tứ chính" của một cung vị, nếu cung vị nào đó không có chính diệu tọa thủ, thì cung vị này vẫn phải "mượn sao an cung", sau đó mới hội hợp với bản cung. Đây là then chốt thứ hai. Nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số, vẫn không cách nào luận đoán chuẩn xác, là do không biết then chốt này.

Vẫn lấy tinh bàn trên làm ví dụ. Cung phu thê ở cung Thìn, hội hợp với hai cung Thân, Tí; lại xung hợp với đối cung (Tuất), cấu tạo thành "tam phương tứ chính". Hai cung Thân, Tuất đều có chính diệu, không xảy ra vấn đề gì. Nhưng cung Tí chỉ có một sao Văn Khúc, không thuộc nhóm chính diệu, do đó cần phải nhắm đối cung (Ngọ) để "mượn sao an cung", mượn Thiên Đồng, Thái Âm, Linh Tinh, Kình Dương.

Tới đây, toàn bộ tinh hệ của cung phu thê biến thành cục "tứ sát kèm sát" là Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, lại có thêm tổ hợp chính diệu Thiên Cơ (Hóa Kị), Thiên Lương; Thiên Đồng, Thái Âm; Thái Dương (Hóa Khoa), Cự Môn. Có thể luận đoán sinh hoạt hôn nhân không được tốt đẹp, tuy không nhất định là phải li hôn, nhưng có khả năng dị mộng đồng sàng. Thái Dương Hóa Khoa còn có thêm Cự Môn, chủ về vợ chồng giữ gìn thể diện, cho nên dù oán trách chồng, nhất định cũng không nói lời chia tay.

Từ ví dụ trên có thể thấy, "mượn sao an cung" là một đại pháp môn trong phép luận đoán Đẩu Số. Nhất là hai then chốt kể trên, điều mà xưa nay cổ nhân xem là "bí pháp", không dễ gì truyền ra ngoài.

Các sao của thiên bàn và nhân bàn ảnh hưởng lẫn nhau

Mượn sao là đem một nhóm sao sang ở nhờ một cung trống; nhưng có khi chỉ vài tạp diệu nhỏ đứng chung một chỗ cũng đủ làm cả một cách cục đẹp đổi màu.

Cần chú ý, tính chất của một nhóm tinh hệ, thường thường có thể bị tính chất của một nhóm tinh hệ khác phá hoại, gọi là "tinh diệu hỗ thiệp" (các sao tương quan lẫn nhau).

Về điểm này, có thể cử một ví dụ thực tế để thuyết minh.

Mệnh bàn dưới đây là của một nữ sinh trung học. Cô ta sinh năm Giáp Tí (1984) tham dự cuộc thi trung học. Hiện đang ở đại vận Quý Mão.

Chiếu theo lưu niên của năm Giáp Tí, cung mệnh ở cung Tí, có "Thiên Phủ, Vũ Khúc"; hơn nữa còn có Vũ Khúc Hóa Khoa năm Giáp; ở hai cung Thân, Ngọ hội hợp Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, lại có thêm Lộc Tồn của cung Ngọ trùng điệp với Lưu Lộc của đại vận ở bản cung. Đây là lộc tinh và văn tinh tụ tập, thành cách cục "Lộc văn củng mệnh". Theo phép luận đoán thông thường, cuộc thi năm nay sẽ không thất bại.

Nhưng cần chú ý "cung mệnh của lưu niên" (cung Tí) có 2 tạp diệu Hàm Trì, Đại Hao, chúng cùng ở một cung, sức mạnh khá lớn, chủ về tình cảm nam nữ mang lại hậu quả không tốt.

Lúc này, cần phải kiểm tra "cung phúc đức của lưu niên" của cô ấy (tức nguyên tắc đồng thời xem xét cung mệnh và cung phúc đức). Cung vị này ở cung Dần, Tham Lang độc tọa, nhưng đang ở đại vận can Quý nên Tham Lang Hóa Kị; đối nhau với Liêm Trinh, cũng đối nhau xa xa với các tạp diệu Hồng Loan, Thiên Hỉ. Lại thấy cung Dần hội hợp với các sao phụ tá ở hai cung Thân và Ngọ, là Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, có thể nói là đào hoa tụ về cung phúc đức.

Tinh bàn lưu niên Giáp Tí của nữ sinh, cung mệnh ở Tí có Vũ Khúc, Thiên Phủ, Hàm Trì, Đại Hao

Trong tình hình này, Vương Đình Chi đã luận đoán, cô nữ sinh này tuy thành tích học hành không tệ, nhưng đáng tiếc là năm đó đã rơi vào chuyện yêu đương, vì vậy ảnh hưởng đến thành tích thi cử. Nữ sinh nọ vốn cũng vì thi cử thất bại, nên mới tìm đến Vương Đình Chi.

Từ ví dụ này có thể biết, chỉ vì "cung mệnh của lưu niên" xuất hiện các tạp diệu Hàm Trì, Đại Hao, khiến cho tính chất của tinh hệ "Lộc văn củng mệnh" phát sinh biến hóa. Đây là một ví dụ tốt về nguyên tắc "các sao ảnh hưởng lẫn nhau".

"Sao đôi" xuất hiện thì sức mạnh tăng thêm

Hàm Trì, Đại Hao sở dĩ đủ sức lật một cách cục là vì chúng đi thành cặp và đứng chung một cung; điều ấy dẫn tới nguyên tắc mà phái Trung Châu giữ kín nhất.

Khi luận đoán Đẩu Số, có một nguyên tắc quan trọng mà ít người biết, đó là "Kiến tinh tầm ngẫu". Đây là kĩ thuật luận đoán bí truyền của phái Trung Châu Vương Đình Chi.

Gọi là "Kiến tinh tầm ngẫu" (gặp sao thì tìm đôi), bởi vì trong Đẩu Số có nhiều "sao đôi", khi gặp một mình thì sức mạnh hữu hạn, nhưng khi xuất hiện thành đôi thì sức mạnh tăng cường. Đối với điểm này, thực ra cổ nhân cũng đã tiết lộ đôi chút. Ví dụ như cổ nhân đưa ra nguyên tắc "phùng Phủ khán Tướng" (gặp Thiên Phủ thì phải xem Thiên Tướng), "phùng Tướng khán Phủ" (gặp Thiên Tướng thì phải xem Thiên Phủ), bởi vì Thiên Phủ và Thiên Tướng là "sao đôi". Nhưng vì cổ nhân thích giữ bí mật, cho nên chỉ nói sơ qua mà thôi.

Dưới đây chúng tôi xin liệt kê một số "sao đôi" để bạn đọc tham khảo.

Chính diệu: "Thiên Phủ, Thiên Tướng"; "Thái Âm, Thái Dương"; "Thiên Đồng, Thiên Lương"; "Liêm Trinh, Tham Lang".

Phụ diệu: "Tả Phụ, Hữu Bật"; "Thiên Khôi, Thiên Việt".

Tá diệu: "Văn Xương, Văn Khúc"; "Lộc Tồn, Thiên Mã".

Tạp diệu: "Hồng Loan, Thiên Hỉ"; "Hàm Trì, Đại Hao"; "Long Trì, Phượng Các"; "Ân Quang, Thiên Quý"; "Tam Thai, Bát Tọa"; "Cô Thần, Quả Tú"; "Thiên Khốc, Thiên Hư"; "Thiên Phúc, Thiên Thọ"; "Đài Phụ, Phong Cáo".

Nhưng thế nào mới gọi là "sao đôi" xuất hiện? Sức mạnh lớn nhỏ của nó có thể dựa vào nguyên tắc sẽ thuật dưới đây để định. Hình dưới đây đưa ra 4 tình huống "sao đôi" xuất hiện.

Bốn tình huống sao đôi xuất hiện: Thái Dương Thái Âm đồng cung ở Sửu, chiếu nhau Thìn Tuất, Thiên Khốc Thiên Hư, Văn Xương Văn Khúc

Loại tình huống có sức mạnh nhất là "sao đôi đồng cung". Như trong hình trên, ở cung Sửu, "Thái Âm, Thái Dương" cùng thủ một cung, kết cấu tinh hệ kiểu này có sức mạnh tuyệt đối không thể xem thường.

Kế đến, loại tình huống có sức mạnh khá nặng là "sao đôi chiếu nhau", như trong hình trên, ở hai cung Thìn và Tuất, Thái Âm và Thái Dương chiếu nhau, sự phát huy sức mạnh của chúng cũng không thể xem thường.

Tiếp đến nữa là tình huống hội hợp "Song phi hồ điệp thức", tức "sao đôi" chia ra ở hai bên "hợp cung" của bản cung. Như trong hình trên, lấy cung Ngọ làm bản cung, đi nghịch cách 3 cung đến cung Dần gặp Thiên Khốc; đi thuận cách 3 cung đến cung Tuất gặp Thiên Hư, là cặp "sao đôi" Thiên Khốc, Thiên Hư lấy tư cách "Song phi hồ điệp" hội hợp với cung Ngọ, đối với cung Ngọ, sức ảnh hưởng cũng nặng. Nhưng đối với hai cung Dần và Tuất mà nói, sự hội hợp của Thiên Khốc và Thiên Hư so với cung Ngọ thì không có gì quan trọng, bởi vì chúng không thuộc loại hội hợp "Song phi hồ điệp thức".

Cuối cùng, là hội hợp "Thiên tà thức" (kiểu đối lệch).

Như trong hình trên, lấy cung Tí làm bản cung, tương hội với Văn Khúc ở cung Thân và Văn Xương ở đối cung (cung Ngọ), nhưng đối với cung Tí mà nói, hai cung vị Thân và Ngọ có vị trí đối nhau không chuẩn, do đó hình thức xuất hiện "sao đôi" kiểu này có sức mạnh hơi kém.

Tóm lại, sức mạnh của các tình huống xuất hiện "sao đôi" theo thứ tự giảm dần như sau:

Đồng cung; đối nhau; tam hợp hội chiếu; một ở tam hợp cung, một ở đối cung hội chiếu; các sao tương hội ở tam hợp cung (như Thiên Khốc và Thiên Hư ở hai cung Dần và Tuất).

Như đã nói, nguyên tắc vừa thuật được người xưa xem là bí truyền. Cho nên dựa theo các sách cổ để học Đẩu Số, thường thường sẽ biết được sự hội hợp một số sao có tác dụng rất mạnh, nhưng có lúc lại thấy sự hội hợp của chúng không hiển thị tác dụng mạnh như vậy. Đây là vì không biết các hình thức hội hợp vừa kể trên để tính toán sức mạnh hơn kém của chúng.

Theo lời kể của Vương Đình Chi, "Tá cung an sao"; "Tinh diệu hỗ thiệp"; "Kiến tinh tầm ngẫu", là ông được sư phụ bí truyền, đây là ba kĩ thuật trọng yếu dùng để luận đoán tinh bàn của phái Trung Châu Vương Đình Chi. Tiền bối của phái Trung Châu là Lục Bân Triệu khi soạn bộ Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa, cũng không chịu tiết lộ.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái