Bài tổng quan
Liêm Trinh, Cự Môn Hóa Kị: trắc trở vì tình, vì lời
Liêm Trinh Hóa Kị đóng lại như một vết trắc trở tình cảm lâu dài không gì hóa giải được, có khi diễn hóa thành nghệ thuật ở mức thâm sâu, có khi tự tìm phiền phức đến mức lấy đau khổ làm niềm vui. Cự Môn Hóa Kị lại đánh thẳng vào cái vốn đã là điểm yếu của nó từ trước — thị phi, điều tiếng — khiến hôn nhân dù các sao ở cung phu thê có hoàn mĩ đến đâu cũng khó tránh một lần gãy đổ. Có tinh hệ tưởng hung lại hóa cát, kết cục khiến người ta bất ngờ; có tinh hệ càng ưu uất càng phiêu bạt, không giỏi quản lí tài chính. Hai chữ Kị này thật ra đang đòi hỏi hai cách sống hoàn toàn khác nhau, vậy nhận diện thế nào cho đúng?
Liêm Trinh Hóa Kị: tình cảm trắc trở và tâm trạng đau buồn
Trong Đẩu Số, Liêm Trinh Hóa Kị là sao có sức ảnh hưởng khá lớn, tính chất cũng khá phức tạp.
Liêm Trinh Hóa Kị có thể biểu trưng cho tình cảm trắc trở, bao gồm tình cảm lục thân và tình cảm nam nữ. Hơn nữa, trắc trở do nó mang lại thường có tính chất lâu dài, và không gì hóa giải được.
Đồng thời, Liêm Trinh Hóa Kị còn là biểu trưng cho tâm trạng đau buồn, nếu gặp các sao khoa văn thì đây là nỗi đau buồn có tính văn nghệ, thường thường diễn hóa thành nghệ thuật ở mức độ thâm sâu. Nhưng lúc có sát tinh cùng bay đến, thì có thể là không đắc ý về nghệ thuật.
Do tính chất diễn hóa thuật ở trên, nên còn là điểm tượng bị lừa dối, đặc biệt là bị lục thân lừa dối, do đó mà nó biểu trưng cho tình cảm trắc trở. Trong đó, tinh hệ "Liêm Trinh, Thiên Tướng" đối nhau với Phá Quân, mà Liêm Trinh Hóa Kị, chủ về tình cảm trắc trở càng lớn, lúc có các sao sát, hình tụ tập, có thể có khuynh hướng tự sát.
Mở rộng từ tính chất tình cảm trắc trở, thường thường còn bị làm ơn mắc oán, hoặc do bản thân không tự lượng sức mình khiến lòng tự tôn bị tổn thương.
Một tính chất quan trọng khác của Liêm Trinh Hóa Kị là, bệnh tật có liên quan đến máu, còn chủ về vì tai nạn bất ngờ hay do phẫu thuật mà gây ra chảy máu. Ở nữ mệnh, thì thường là biểu trưng cho mang thai hoặc sinh con cái. Ở cung tật ách thì biểu trưng cho bệnh về máu hoặc bệnh về tính dục.
Liêm Trinh, Thiên Tướng ở Tí, Ngọ
"Liêm Trinh, Thiên Tướng" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Liêm Trinh Hóa Kị, đồng độ với Kình Dương, hoặc hội Kình Dương, Đà La; đối cung là Phá Quân; cung tam hợp là "Tử Vi, Thiên Phủ", và Vũ Khúc độc tọa.
Liêm Trinh Hóa Kị của tinh hệ này chủ về trắc trở, và bị người ta kềm chế, tuyệt đối không nên cố tự xuất đầu lộ diện, nếu không ắt sẽ tổn thất hoặc phá tán, thất bại. Rất ngại có Hỏa Tinh đồng độ, chủ về vì tình cảm bị trắc trở nghiêm trọng mà có ý nghĩ tự sát; có lúc cũng vì bản thân sai lầm mà gây ra hậu quả trọng đại. Đặc biệt không nên hợp tác với người khác.
Nhưng tinh hệ này lại chủ về nguồn tiền tài thuận lợi toại ý, đại khái là, không những có thể kiếm tiền mà còn có thể tích lũy. Cho nên người gặp tinh hệ này rất nên chọn sách lược thủ thành, không nên gấp gáp cầu thành công, đồng thời cần phải tự ái, mới có thể duy trì thành tựu đã đạt được.
Liêm Trinh, Thất Sát ở Sửu, Mùi
"Liêm Trinh, Thất Sát" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi (ở cung Sửu gặp Lộc Tồn), Liêm Trinh Hóa Kị; đối nhau với Thiên Phủ; cung tam hợp là "Tử Vi, Tham Lang" và "Vũ Khúc, Phá Quân".
Do Liêm Trinh Hóa Kị nên "Liêm Trinh, Thất Sát" của cung Mùi không thành cách cục "Hùng tú kiền nguyên"; vì vậy ở cung Sửu là tốt, đời người khá thuận lợi toại ý.
Cũng do Liêm Trinh Hóa Kị, nên "Liêm Trinh, Thất Sát" ở hai cung độ này không thích hợp theo võ nghiệp, nếu không, e rằng có bất trắc. Rất kị gặp các sao sát, hình, chủ về đời người gặp nhiều gian khổ; rất thích hợp lãnh vực sản xuất, làm việc hưởng lương, kinh doanh làm ăn ắt sẽ sinh phá tán, thất bại.
Tinh hệ này cũng chủ về thích giao du thù tạc, chịu tiêu tiền về phương diện này, nhưng lại thành lãng phí, không mang lại hiệu quả như dự liệu. Phần nhiều tốn tiền do ưa thích, ví dụ như mua sắm quần áo thời trang không cần thiết, đây là đặc điểm của nó.
Liêm Trinh độc tọa Hóa Kị ở Dần, Thân
Liêm Trinh độc tọa, Hóa Kị ở hai cung Dần hoặc Thân, gặp Kình Dương hoặc Đà La; Tham Lang ở đối cung; cung tam hợp là "Vũ Khúc, Thiên Phủ" và "Tử Vi, Thiên Tướng".
Do Liêm Trinh Hóa Kị, nên "Liêm Trinh, Thất Sát" của cung Thân cũng không thành cách cục "Hùng tú kiền nguyên".
Tinh hệ của bản cung có sắc thái ưu uất, nhưng chưng diện khá sa hoa, vui vẻ lấy tiền bạc giúp bạn bè, mà không xem trọng việc tích lũy tiền bạc cho gia đình, vì vậy bị người phối ngẫu oán trách. Bất lợi về hôn nhân, tính cách của người phối ngẫu không hợp với bản thân mệnh tạo, và trong cuộc đời dễ có tình yêu với người đã có gia thất, có tình mà không có duyên, là đặc điểm của tinh hệ này.
Liêm Trinh, Phá Quân ở Mão, Dậu
"Liêm Trinh, Phá Quân" đồng độ ở hai Mão hoặc Dậu (ở cung Dậu gặp Lộc Tồn), mà Liêm Trinh Hóa Kị; đối cung là Thiên Tướng; cung tam hợp là "Tử Vi, Thất Sát" và "Vũ Khúc, Tham Lang".
Tinh hệ này có tính chất suy sụp nhanh chóng, ở cung Mão nghiêm trọng hơn ở cung Dậu. Cho nên đạo "xu cát tị hung" là phải xem xét lưu niên để tiến thoái hợp thời cơ.
"Liêm Trinh, Phá Quân" ở cung Dậu có Thiên Hình đồng độ, đề phòng sự cố giao thông, cũng chủ về bị côn trùng, thú dữ cắn. Ở cung thiên di mà gặp tinh hệ này thì lúc đi xa nên phòng xảy ra bất trắc. Xem xét các sao của lưu niên để định tình hình cụ thể, mức độ nặng nhẹ.
Tinh hệ này còn có một sắc thái đặc biệt khác, đó là cuộc đời ắt sẽ có một thời kì tiền bạc qua tay rất nhiều, nhưng khi vận thế qua rồi thì lại buồn rầu, lo lắng vì túng thiếu. Do đó nhân sinh quan có ảnh hưởng rất lớn đến mệnh vận.
Liêm Trinh, Thiên Phủ ở Thìn, Tuất
"Liêm Trinh, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Liêm Trinh Hóa Kị, ắt sẽ có Đà La đồng độ, hoặc bị Kình Dương, Đà La hội chiếu; đối cung là Thất Sát; cung tam hợp là Tử Vi độc tọa, và "Vũ Khúc, Thiên Tướng".
Liêm Trinh Hóa Kị ở 12 cung, hai cung Thìn và Tuất là khá tốt, vì Hóa Kị trong "Thiên La, Địa Võng" sẽ chủ về làm tăng ý chí phấn đấu, tuy cuộc đời thành bại bất nhất, nhưng tâm cảnh vẫn có thể giữ được sự cởi mở, tốt nhất là ở cung Tuất, thường dễ vượt hơn nhiều người.
Do đối cung là Thất Sát, nên cũng phải đề phòng sự cố giao thông.
Tinh hệ này bất lợi về tình cảm, vợ chồng tính cách không hợp nhau, nên phần nhiều đều có ngoại tình, nhưng không dễ nói lời chia tay.
Liêm Trinh, Tham Lang ở Tị, Hợi
"Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, Liêm Trinh Hóa Kị, ắt sẽ có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu; hội "Tử Vi, Phá Quân" và "Vũ Khúc, Thất Sát".
Tinh hệ này có sắc thái ưu uất rất nặng, nếu không gặp các sao văn nhuyễn hóa thành tâm trạng về văn nghệ, thì cuộc đời phần nhiều sẽ tự tìm phiền phức, nhất là rối rắm về tình cảm, họ còn thường lấy đau khổ làm niềm vui, và bắt chước phong cách của người phi thường. Có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ thì càng nặng.
Sắc thái đặc biệt của tinh hệ này là không giỏi quản lí tài chính, do đó thường có hiện tượng tiền vào tay trái rồi ra bằng tay phải.
Trong số các tinh hệ Liêm Trinh, tinh hệ này mang sắc thái bôn ba phiêu bạt nhất. Cho nên không thích hợp với nữ mệnh, đời quá nhiều sương gió, không ổn định.
Liêm Trinh trắc trở vì tình, còn Cự Môn thì trắc trở vì lời — cũng một chữ Kị, nhưng Cự Môn đẩy thị phi vốn có của nó lên một tầng nghiêm trọng hơn.
Cự Môn Hóa Kị: thị phi chồng thị phi, hôn nhân khó trọn vẹn
Cự Môn không ưa Hóa Kị, vì vốn đã có tính chất điều tiếng thị phi. Sau khi Hóa Kị càng làm mạnh thêm tính chất xấu này, khiến cho đời người thêm nhiều rối rắm phiền phức.
Cự Môn sau khi Hóa Kị cũng ảnh hưởng đến phương diện tình cảm, thường dễ xảy ra rối rắm phiền phức liên tiếp mà không thể đoán trước được. Cho nên người Cự Môn Hóa Kị tọa mệnh, bất kể các sao của cung phu thê hoàn mĩ đến đâu, ít nhất cũng có một lần gãy đổ trong tình yêu hoặc hôn nhân, tất nhiên sau đó để lại vết thương lòng suốt đời khó quên.
Thích cầu toàn cầu mĩ, nhưng bất kể đã nỗ lực như thế nào sự nghiệp phát triển cũng không được như lí tưởng. Nhưng mệnh tạo lại chấp trước sự hoàn mĩ, vì vậy sinh ra thất vọng, hơn nữa trong quá trình sự kiện phát triển mệnh tạo rất đau đớn khổ sở và vất vả. Lúc có Đà La đồng độ, khuynh hướng này càng rõ rệt.
Cự Môn độc tọa Hóa Kị ở Tí, Ngọ
Cự Môn Hóa Kị độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ; đối cung là Thiên Cơ Hóa Khoa, ắt sẽ có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu; cung tam hợp là Thái Dương độc tọa và mượn "Thiên Đồng, Thiên Lương", mà Thiên Đồng Hóa Quyền.
Cự Môn Hóa Kị trong tinh hệ này, thường nhờ "hung sự" mà biến thành lực kích phát. Sự cố trắc trở đang trong quá trình phát triển thì ngưng lại, nhưng mỗi lần gặp trắc trở như vậy thực ra đều khiến cho kết cục càng hoàn mĩ. "Thấy hung nhưng thực ra là cát" là đặc điểm của nó.
Mệnh cục này bất lợi về hôn nhân, tuy giao du với nhiều người khác giới nhưng tình cảm vẫn duy trì lâu dài, hoặc lúc tình cảm thành sâu đậm thì bỗng nhiên xảy ra biến cố, dẫn đến chia li.
Ở cung Ngọ dễ chuốc điều tiếng thị phi hơn ở cung Tí, nhưng lại thành sức mạnh kích phát.
Thiên Đồng, Cự Môn ở Sửu, Mùi
"Thiên Đồng, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, Cự Môn Hóa Kị, Thiên Đồng ắt sẽ Hóa Quyền; phần Thiên Đồng Hóa Quyền đã nói rõ sắc thái riêng, ở đây chỉ cần biết thêm là Cự Môn Hóa Kị cùng chiếu tới.
Thái Dương, Cự Môn ở Dần, Thân
"Thái Dương, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân (ở cung Dần gặp Lộc Tồn), Cự Môn Hóa Kị; cung tam hợp là mượn "Thiên Cơ, Thiên Lương", mà Thiên Cơ Hóa Khoa, và mượn "Thái Âm, Thiên Đồng", mà một sao Hóa Lộc và một sao Hóa Quyền.
Tinh hệ này là cách cục tứ hóa hội hợp, nhưng do Cự Môn của bản cung Hóa Kị, nên rất bất lợi về quan hệ nhân tế. Thông thường bất lợi đối với người thân phái nam, cho nên không thích hợp với nữ mệnh, đến tuổi trung niên không có duyên với chồng, đến tuổi vãn niên thì có khoảng cách với con cái. Bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, đều chủ về thiếu duyên với cha, hoặc dễ xung đột với thượng cấp.
Do tính chất điều tiếng thị phi, nên rất thích hợp với những nghề nghiệp "dùng lời nói để kiếm tiền", như luật sư, dạy học, v.v...nhờ "Lộc Quyền Khoa hội" có thể thăng tiến danh dự và tài lộc.
Thiên Cơ, Cự Môn ở Mão, Dậu
"Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, Cự Môn Hóa Kị, Thiên Cơ ắt sẽ Hóa Khoa; phần Thiên Cơ Hóa Khoa đã thuật rõ sắc thái riêng của tổ hợp này.
Cự Môn độc tọa Hóa Kị ở Thìn, Tuất
Cự Môn độc tọa, Hóa Kị ở hai cung Thìn hoặc Tuất (ở cung Tuất ắt sẽ gặp Lộc Tồn); Thiên Đồng của đối cung Hóa Quyền; cung tam hợp là Thái Dương độc tọa và mượn "Thiên Cơ, Thái Âm", mà Thái Âm Hóa Lộc, Thiên Cơ Hóa Khoa.
Cự Môn Hóa Kị ở "Thiên La, Địa Võng" lại chủ về cát lợi, tính chất "thấy hung mà thực ra là cát" rất rõ ràng. Cho nên bề ngoài tuy gặp trắc trở, rối rắm, thị phi; nhưng kết cục thường thường lại khiến cho người ta bất ngờ, có điều vẫn khó tránh phải trải qua gian khổ, tâm tư lo nghĩ.
Nếu gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh hoặc Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, thì rất thích hợp "dùng lời nói để kiếm tiền". Có điều mệnh tạo ưa giải quyết khó khăn cho người khác, nên sự nghiệp tuy tốt nhưng cuộc đời lại khó được yên tịnh.
Hôn nhân cũng chủ về mĩ mãn, bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, đều nên lấy người có sự nghiệp.
Cự Môn độc tọa Hóa Kị ở Tị, Hợi
Cự Môn độc tọa, Hóa Kị ở hai cung Tị hoặc Hợi, đối nhau với Thái Dương, ắt sẽ gặp Kình Dương, Đà La, hoặc đồng độ với Đà La; cung tam hợp là Thiên Đồng độc tọa Hóa Quyền và Thiên Cơ độc tọa Hóa Khoa.
Thông thường tinh hệ này ảnh hưởng đến lục thân ở mức độ nhẹ. Cự Môn ở cung Hợi càng nhẹ hơn, nhưng tình hình điều tiếng thị phi, và sóng gió, trắc trở trong tình cảm thì khá nặng.
Nam mệnh ắt sẽ lấy được vợ đẹp, nữ mệnh ắt sẽ lấy được chồng có sự nghiệp tốt, bàng nhân thiên hạ đều cho rằng họ đẹp đôi, nhưng phần nhiều họ lại bất mãn người phối ngẫu, sau trung niên thường thay lòng đổi dạ, khiến cho mọi người đều ngạc nhiên.
Nguồn: Vương Đình Chi, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (Trung Châu phái).
