Bài tổng quan
Thất Sát Triều Đẩu, Tử Phủ Đồng Cung Và Những Ngụy Cách Cần Gạn Lọc
Tử Vi chủ về quý, Thiên Phủ chủ về phú. Hai chủ tinh cùng ngồi một cung ở Dần hoặc Thân, cổ ca ca ngợi là tiếng tăm lỗi lạc động cả đất trời. Vậy mà một người sở trường sáng tạo, một người chỉ giỏi thủ thành, kẻ muốn lập uy tín, người khư khư giữ nếp cũ, rốt cuộc quấy rối lẫn nhau. Người mang cách này thời nay thường chỉ làm chủ quản một bộ phận nhỏ. Thất Sát đứng đối diện nhìn về Tử Phủ lại hóa được thành quyền lực. Còn những cách chỉ dựa vào Tả Phụ, Hữu Bật hay Thiên Khôi, Thiên Việt thì hễ sinh tháng tư, tháng mười là có, nhiều đến mức vô lí. Giữa rừng tên gọi đẹp đẽ người đời Minh để lại, cách cục nào thật, cách cục nào chỉ là thêu dệt của giang hồ thuật sĩ?
Thất Sát triều đẩu cách
"Thất Sát triều đẩu cách" tức là Thất Sát thủ mệnh ở cung Dần, đối cung là "Tử Vi, Thiên Phủ" đồng độ; hoặc Thất Sát thủ mệnh ở cung Thân, đối cung là "Tử Vi, Thiên Phủ" đồng độ (Xem hình 76). Cũng có người gọi trường hợp trước là "Thất Sát ngưỡng đẩu", còn trường hợp sau là "Thất Sát triều đẩu", có sự phân biệt. Thực ra tính chất cơ bản không khác nhau mấy. Cổ ca nói:
格名朝斗贵无疑,
入庙须教寿福齐,
烈烈轰轰身显耀,
平生安隐好根基Phiên âm:
Cách danh triều đẩu quý vô nghi,
Nhập miếu tu giáo thọ phúc tề,
Liệt liệt oanh oanh thân hiển diệu,
Bình sinh an ẩn hảo căn cơ.Dịch nghĩa:
Cách Sát triều đẩu quý không ngờ,
Nhập miếu phải nói thọ phúc đủ,
Oang oang liệt liệt thân hiển hách,
Bình sinh yên ổn có căn cơ.
Thất Sát rất ưa gặp Tử Vi, cổ nhân cho rằng nó có thể hóa làm "quyền lực", sức mạnh lớn hơn "Hóa Quyền", chẳng chịu thua ai. Cho nên lúc Thất Sát và Tử Vi đối nhau. Thất Sát liền có thể hóa làm quyền lực, đồng thời lại không như lúc "Tử Vi đồng cung", bị Tử Vi kềm chế, do đó càng có thể biểu hiện tính cách độc đáo kì lạ, kiệt xuất của nó.
Thất Sát và Tử Vi đối nhau, Tử Vi ắt sẽ đồng cung với Thiên Phủ. Tử Vi chủ về quý, Thiên Phủ chủ về phú, thêm vào quyền lực của Thất Sát, vì sự kết hợp này mà thành cách cục. Cổ nhân nói: "Triều đẩu ngưỡng đẩu, tước lộc vinh xương" 朝斗仰斗,爵禄荣昌 là do vậy.
Các sách thông thường đều cho rằng trường hợp Thất Sát tọa hai cung Tí hoặc Ngọ, thậm chí tọa ở cung vượng khác, mà có một sao Tử Vi hoặc Thiên Phủ đối nhau thì cũng là "triều đẩu, ngưỡng đẩu". Thực ra không phải vậy, bởi vì ngoại trừ Thất Sát của hai cung Dần và Thân, các cung khác đều không hợp tính chất phú quý quyền lực.
Cổ nhân không ưa nữ mệnh gặp Thất Sát, cho rằng hôn nhân sẽ bất lợi. Nhưng trong xã hội hiện đại, người phụ nữ cũng có sự nghiệp riêng, có thể ra ngoài làm ăn, do đó "triều đẩu, ngưỡng đẩu" chưa chắc không phải là cách cục tốt của nữ mệnh.

Tử Vi Thiên Phủ đồng cung cách
Thất Sát đứng xa mà ngưỡng về hai chủ tinh; còn khi chính hai chủ tinh ấy ngồi chung một cung, câu chuyện lại khác hẳn.
"Tử Vi Thiên Phủ đồng cung cách" tức an mệnh ở cung Dần hoặc Thân, trong cung có Tử Vi và Thiên Phủ đồng tọa (Xem hình 77). Cổ ca nói:
同宫紫府贵生人,
天地清明万象新,
喜遇寅申同得地,
声名磊落动乾坤.Phiên âm:
Đồng cung Tử Phủ quý sinh nhân,
Thiên địa thanh minh vạn tượng tân,
Hỉ ngộ Dần Thân đồng đắc địa,
Thanh danh lỗi lạc động kiền khôn.Dịch nghĩa:
Tử Phủ đồng cung sinh quý nhân,
Trời đất tươi sáng vạn vật tân,
Ưa gặp Dần Thân cùng đắc địa,
Tiếng tăm lỗi lạc động khôn kiền.
Đây là cách cục này rất đáng thảo luận. Tử Vi là chủ tinh Bắc Đẩu; hơn nữa Tử Vi còn chủ về quý, Thiên Phủ chủ về phú, xem ra đây là một kết cấu hoàn mĩ, không tí tì vết, hai chủ tinh tự thành cách cục tốt.
Có ai biết vấn đề lại ở chỗ "hai chủ tinh đồng cung"! Dùng câu "một núi không thể có hai cọp" để hình dung thì dường như hơi quá đáng, nhưng tính chất mâu thuẫn giữa Tử Vi và Thiên Phủ lại có thể ảnh hưởng đến cảnh ngộ của cả một đời người.
Tử Vi sở trường về sáng tạo, nhưng Thiên Phủ lại có khuynh hướng bảo thủ. Tử Vi có thể phát triển sự nghiệp mới, nhưng Thiên Phủ thì chỉ giỏi về thủ thành, đây là những tính cách mâu thuẫn của hai sao. Thêm vào đó, tài lãnh đạo của Tử Vi có khuynh hướng về uy tín, còn Thiên Phủ thì chỉ khư khư giữ kiểu mẫu cũ để điều hòa. Vì vậy, về phương diện tài năng lãnh đạo cũng bị hai tính chất này gây cản trở, quấy rối nhau, không thể tạo uy tín, mà cũng không thể điều hòa người dưới quyền.
Cổ nhân đánh giá cách cục này quá cao, do đương thời là xã hội quan liêu, có chút danh vọng địa vị, đối với chính sự có thể vờ vịt, làm cho qua, còn sợ mất chức. Còn xã hội ngày nay thì chú trọng trình độ và tài năng sáng tạo thực tế, do đó cách cục "Tử Vi, Thiên Phủ" đồng cung" chỉ có thể đảm nhiệm vai trò chủ quản một bộ phận nhỏ mà thôi.

Liêm Trinh Văn Vũ cách
Hai chủ tinh chung một cung còn giẫm chân nhau, huống hồ một sao vốn biến hóa đa đoan; nhưng chính sao ấy, gặp đúng bạn, lại được xem là văn võ kiêm toàn.
"Liêm Trinh Văn Vũ cách" tức là Liêm Trinh nhập miếu thủ mệnh (tức cung mệnh ở Dần hoặc Thân), gặp Văn Xương Vũ Khúc vây chiếu (Xem hình 78). Cổ ca nói:
命中文武喜朝垣,
入庙平生福气全,
纯粹文能高折桂,
战征武定镇三边Phiên âm:
Mệnh trung Văn Vũ hỉ triều viên,
Nhập miếu bình sinh phúc khí toàn,
Thuần tuý văn năng cao chiết quế,
Chiến chinh vũ định trấn tam biên.Dịch nghĩa:
Trong mệnh Văn vũ thích triều viên,
Nhập miếu bình sinh phúc khí đủ,
Văn chương thuần túy cao bẻ quế,
Võ định chiến chinh trấn tam biên.
Liêm Trinh là một sao rất khó luận đoán, nó có thể cực tốt mà cũng có thể cực xấu, biến hóa đa đoan. Cho nên gặp phải trường hợp Liêm Trinh độc thủ cung mệnh, khi luận đoán phải rất cẩn thận.
Cổ nhân rất trọng văn sĩ mà không trọng người làm nghề khác, thậm chí ngay cả võ tướng họ cũng xem thường. Mà Liêm Trinh thì có tính chất "võ biền", vì vậy cổ nhân luận Liêm Trinh thủ mệnh, thông thường đánh giá không cao. Nhưng một khi Liêm Trinh gặp phải "sao văn", cách nhìn của cổ nhân lập tức thay đổi, cho rằng đây là tài kiêm văn võ. Cách nhìn này, dùng nhãn quang xã hội hiện đại để xét thì thấy, thực ra cũng hơi thiên lệch, bởi vì người trong giới làm ăn kinh doanh ở xã hội hiện đại không phải là không có địa vị cao.
Liêm Trinh thủ mệnh ở cung Dần hoặc Thân, cung tài bạch ắt sẽ là "Tử Vi, Thiên Tướng"; cung sự nghiệp ắt sẽ là "Thiên Phủ, Vũ Khúc"; nếu lại hội chiếu Văn Xương, Văn Khúc thì có thể nói là sao cát tụ hội, hơn nữa, các sao văn võ đều có đủ. Về cơ bản đây là một sự phối hợp rất tốt.
Nhưng một nhà doanh nghiệp thì không nhất định phải là mệnh cách này. Bởi vì Liêm Trinh là sao ghét phù phiếm bề ngoài nhưng lại không thực tế, thiếu sự vững vàng, không có năng lực khai sáng cục diện mới, do đó "Liêm Trinh Văn Vũ cách" chỉ có thể thành mạng giám đốc của một công ti hoặc hiệu trưởng của một trường.

Tả Hữu thủ viên cách
Sao văn nâng được Liêm Trinh, còn hai sao phụ tá cùng giữ một cung thì nâng được ai? Câu trả lời nằm ở chính diệu đứng sau lưng chúng.
"Tả Hữu thủ viên cách" tức là Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung, còn tương hội với các sao về khoa cử danh tiếng trong Đẩu Số, như Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa. Cổ ca nói:
格逢辅弼命中临,
加会科星福更深;
事业昂昂追魏郑,
官居台阁万人钦.Phiên âm:
Cách phùng Phụ Bật mệnh trung lâm,
Gia hội khoa tinh phúc cánh thâm;
Sự nghiệp ngang ngang truy Ngụy Trịnh,
Quan cư đài các vạn nhân khâm.Dịch nghĩa:
Cách gặp Phụ Bật vào trong mệnh,
Gặp thêm khoa tinh phúc càng dầy;
Sự nghiệp lớn lao đuổi Ngụy Trịnh,
Quan ở lầu gác vạn người trông.
Trong xã hội hiện đại, căn cứ câu khẩu quyết của cổ nhân: "Tả Hữu đồng cung, khoát áo lụa tía" (左右同宫,披罗衣紫 Tả Hữu đồng cung, phi la y tử), có thể cho rằng cách cục "Tả Hữu thủ viên cách" là vô lí. (Xem hình 79, 80)


Thực ra sự bày bố Tả Phụ, Hữu Bật chỉ đơn thuần căn cứ vào tháng sinh, như người sinh tháng 4, ắt Tả Hữu sẽ đồng cung ở cung Mùi; người sinh tháng 10, ắt Tả Hữu sẽ đồng cung ở cung Sửu; nếu cách cục này có thể thành lập, như vậy hễ sinh vào tháng 4 hoặc tháng 10 thì đều có mệnh tốt "quan ở lầu gác", "khoát áo lụa tía" hết cả sao?
Tả Phụ, Hữu Bật trong Đẩu Số chỉ thuộc loại sao phụ tá, nếu có thể ngồi ở hai bên "ghế chủ tọa" thì tác dụng của chúng cũng chẳng thể thay thế chủ nhân, do đó tuyệt đối không thể đơn độc thành cách cục được.
Do tính chất phụ tá, cho nên sức mạnh của hai sao này lấy trường hợp chia ra giáp Tử Vi và Thái Dương ở cung vị miếu vượng là mạnh nhất; còn lúc hai sao đồng cung sức mạnh của chúng sẽ không bằng. Nếu Tả Hữu đồng cung mà có "sự nghiệp lớn lao đuổi Ngụy Trịnh", thế thì cách cục "Tả Hữu phù đế" sẽ thế nào?
Cổ nhân định cách cục nhiều lúc rất sơ sót, thậm chí phi lí, "Tả Hữu thủ viên cách" là một trong số đó, cần phải lọc bỏ để tránh "rồng rắn lẫn lộn".
Thiên Ất củng mệnh cách
Cùng một lối xuyên tạc ấy còn sinh ra một cách cục nữa, lần này mượn danh hai vị quý nhân.
Thiên Ất tức là "Quý Nhân". Đẩu Số không giống "Tử Bình", khi luận đoán mệnh chia ra "Quý Nhân ngày" và "Quý Nhân đêm", cho nên hai sao Thiên Khôi, Thiên Việt đều gọi là "Thiên Ất". Đây là cách cung mệnh gặp hai sao Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp (Xem hình 81). Cổ ca nói:
天贵相随命里来,
定应名占少年魁;
文章盖世追班马,
异日常为宰相才.Phiên âm:
Thiên Quý tương tuỳ mệnh lí lai,
Định ứng danh chiêm thiếu niên khôi;
Văn chương cái thế truy ban mã,
Dị nhật thường vi tể tướng tài.Dịch nghĩa:
Thiên Ất theo mệnh lí mà đến,
Định ứng tên người thi đỗ đầu;
Văn chương cái thế ngựa nào theo,
Ngày khác sẽ là tài tể tướng.
Trong Đẩu Số gọi là "ngụy cách" vì lộ ra chỗ xuyên tạc thêm thắc một cách vô lí, cách này cũng là một trong số đó. Nó cũng vô lí như "Tả Hữu thủ viên cách" đã bàn ở trước.
Hai sao Thiên Khôi, Thiên Việt trong Đẩu Số đều căn cứ vào can của năm sinh để bày bố. Tức ba năm Giáp Mậu Canh chia ra ở hai cung Sửu Mùi; hai năm Ất Kỉ chia ra ở hai cung Tí Thân; hai năm Bính Đinh chia ra ở hai cung Hợi Dậu; hai năm Nhâm Quý chia ra ở hai cung Mão Tị; năm Tân thì chia ra ở hai cung Dần Ngọ.
Quan hệ của hai sao một là "đối nhau" (hai cung Sửu, Mùi); hai là "tương hội" (hai cung Tí Thân và Dần Ngọ); ba là "giáp cung" (hai cung Hợi Dậu và Mão Tị). Tức cơ hội xuất hiện hợp cách là rất lớn, đây cũng là chỗ vô lí của nó. Huống hồ Thiên Khôi, Thiên Việt không phải là chính diệu, không thể thành cách được.

Văn tinh ám củng cách
Quý nhân không đủ sức thành cách, sao văn đứng kẹp hai bên cung mệnh cũng chịu chung một phép thử.
"Văn tinh ám củng cách" tức là hai sao Văn Xương, Văn Khúc giáp cung mệnh (Xem hình 82). Cổ ca nói:
文星夹命煞无侵,
得此多为勤判人,
借得风云相展处,
少年龙跃出天津.Phiên âm:
Văn tinh giáp mệnh sát vô xâm,
Đắc thử đa vị cần phán nhân,
Tá đắc phong vân tương triển xứ,
Thiếu niên long dược xuất thiên tân.Dịch nghĩa:
Sao văn giáp mệnh sát nào phạm,
Được nó người siêng năng hiểu biết,
Rộng bước phong vân vận thênh thang,
Tuổi trẻ hóa rồng vượt bến trời.
Như đã biết, xã hội cổ đại trọng văn sĩ, mà thi cử lại là con đường duy nhất để văn nhân phát triển, cho nên Đẩu Số của hai đời Minh Thanh đều đặc biệt chú ý sao văn.
Trong thư tịch Đẩu Số của đời Nguyên đã xuất hiện cách cục "Lộc Văn củng mệnh". Tức là Lộc Tồn thủ mệnh, tam hợp với Văn Xương và Văn Khúc, người xưa cho rằng cách cục này có thể nhờ thi cử mà được lộc ăn, là thuộc loại suy diễn mơ hồ, phát triển đến "Văn tinh ám củng", đương nhiên là theo kết luận của giới giang hồ thuật sĩ, vẫn có thể nhìn ra bối cảnh công danh lợi lộc của văn hóa xã hội thời bấy giờ.
Ý nghĩa thật sự của Văn Xương và Văn Khúc chỉ là phong lưu nho nhã, là người có khí chất đẹp, có sức thu hút, đối với nữ mệnh thì có thể giải thích là sức hấp dẫn, quyến rũ; chúng cũng chủ về thông minh. Các giang hồ thuật sĩ mang tính chất này suy diễn mơ hồ, giải thích là "được nó là người siêng năng hiểu biết", cho rằng dễ thi đậu cao, đúng là thêm thắt khiên cưỡng. Dĩ nhiên người thông minh tuấn tú mà thi cử thì cũng dễ thi đậu, cho nên cách cục này có thể là ngụy cách nhưng trong đó cũng có lí của nó, không đến nỗi như "Thiên Ất củng mệnh", "Tả Hữu thủ viên" là hoàn toàn suy diễn mơ hồ.
Văn Xương và Văn Khúc lấy trường hợp đồng cung là có sức mạnh lớn nhất; trường hợp đối nhau là kế đó; trường hợp hội hợp là kế đó nữa; giáp cung thì sức mạnh khá yếu. Ở đây lấy "giáp cung" gọi là "ám củng", e rằng hơi miễn cưỡng, cho nên khi thấy cách cục này cần phải vận dụng một cách thận trọng để đoán mệnh.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
