Bài tổng quan
Cung Tử Nữ với Vũ Khúc, Thiên Đồng và Liêm Trinh
Cổ nhân nói người có Vũ Khúc, Tham Lang ở cung Tử Nữ phải ngoài bốn mươi mới có con trai, mà thời xưa cưới sớm thì bốn mươi đã là muộn lắm. Nhà có Thiên Đồng thì con đông, cha con dễ hiểu lòng nhau; nhà có Liêm Trinh thì tình cha con sâu nặng, đến nỗi chỉ một sao Hóa Kị cũng đủ...
VŨ KHÚC Ở CUNG TỬ NỮ THÌ ÍT CON, LỢI CHO CON GÁI MÀ BẤT LỢI CHO CON TRAI. Thiên Đồng thì ngược lại, nhiều con, cha con dễ cảm thông, chỉ có người dưới quyền là hay ngại việc. Còn Liêm Trinh vào đây lại khiến tình cảm hai thế hệ sâu đậm đến mức một chữ Hóa Kị cũng đủ thành nỗi đau.
Vũ Khúc ở cung Tử Nữ
Vũ Khúc thủ cung Tử Nữ, trong tình huống thông thường đều chủ ít con, lợi cho con gái mà bất lợi cho con trai, nên phần nhiều sinh con gái trước. Cũng chủ ít có người thân tín lớp sau (cần xem thêm tình hình Tả Phụ, Hữu Bật); còn chủ vợ cả không có con trai, nhưng có thể có con gái, còn vợ hai hay vợ kế thì có thể sinh con trai. Có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ thì người bên ngoài sinh con trai, hoặc có con trai nuôi.
Vũ Khúc Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, hoặc có sao phụ, tá, cát hội hợp, chỉ làm tăng số con chứ không cải thiện được phẩm cách và địa vị của con cái.
Vũ Khúc thủ cung Tử Nữ thành cách "Linh Xương Đà Vũ" thì sinh con trai dễ yểu mạng; Vũ Khúc Hóa Kị càng nặng.
Vũ Khúc ở cung Tử Nữ không sợ Kình Dương, Đà La, chỉ sợ Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ. Nhưng nếu Vũ Khúc Hóa Kị mà bị Kình Dương và Đà La giáp cung (tình huống này chỉ có ở "Vũ Khúc, Phá Quân" tại cung Hợi) thì con trai bị hình khắc rất nặng, thậm chí có thể tự sát, cũng chủ không có con trai đưa tang.
Vũ Khúc bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung cũng bất lợi, chủ muộn có con trai. "Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ với Hỏa, Linh thì trước bốn mươi tuổi có thể có con trai nhưng chủ sinh li. Có sao phụ, tá, cát hội hợp thì chia li nhưng lành tính, như con ở kí túc xá hay đi du học.
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở Tí, Ngọ
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở Tí hoặc Ngọ chủ có ba con trai. Thiên Phủ là chủ tinh của Nam Đẩu, nên nếu có "sao đôi" phụ, tá hội hợp thì có thể tăng lên thành năm con trai. Nếu gặp thêm sát, kị, hình, không, kiếp thì chỉ có một con trai đưa tang. Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống" thì con cái hay người dưới quyền không đắc lực.
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ với Lộc Tồn thì con cái hay người dưới quyền có tính ích kỉ. Đến cung hạn Tử Nữ của đại hạn là "Thiên Cơ, Cự Môn" e rằng sẽ xảy ra sự cố. "Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở Tí, Ngọ gặp sát, hình mà không gặp sao kị, có lúc chỉ chủ con cái bị phá tướng, hoặc tính khí quật cường, cha con có sự ngăn cách, chưa hẳn đã hình khắc. Trong tình huống có sao cát lẫn lộn thì càng đúng.
Các cung hạn Tử Nữ "Tử Vi, Thiên Tướng", Thất Sát là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
"Vũ Khúc, Tham Lang" ở Sửu, Mùi
"Vũ Khúc, Tham Lang" ở Sửu hoặc Mùi chủ sau bốn mươi tuổi mới có con trai. Đây là thuyết của cổ nhân; thời xưa tuổi thành hôn khá sớm, bốn mươi tuổi mới có con trai đã được coi là muộn.
"Vũ Khúc, Tham Lang" ở Sửu, Mùi hội sát tinh, lại gặp sao đào hoa, thì vợ hai hay người bên ngoài sinh con trai, còn vợ cả sinh con gái. Nếu đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì muộn có con trai; nếu sinh con trai lúc trẻ thì đứa con sẽ xa gia đình, hoặc phải gửi cho người khác nuôi, bằng không sẽ bị hình khắc, đến tuổi già tình cảm cha con vẫn ngăn cách. Luận quan hệ với người thân tín lớp sau cũng chủ lúc đầu cát, về sau hung.
Các cung hạn Tử Nữ Cự Môn, Thái Dương là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" ở Dần, Thân
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" ở Dần hoặc Thân chủ có con nuôi trước rồi mới có con trai. Hội sao đào hoa thì vợ hai sinh con trai đầu lòng, sau đó vợ cả mới sinh con trai. Thời nay cũng chủ người bên ngoài sinh con trai, và quan hệ với người thân tín lớp sau không được tốt. Gặp sát, kị, hình thì con cái bị hình khắc. Gặp "sao đôi" phụ, tá, cát mới chủ tăng số con; gặp "sao lẻ" phụ, tá, cát thì người bên ngoài sinh con trai.
Các cung hạn Tử Nữ Tham Lang, Thất Sát là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
"Vũ Khúc, Thất Sát" ở Mão, Dậu
"Vũ Khúc, Thất Sát" ở Mão hoặc Dậu chỉ có một con trai. Gặp sát tinh mà có hơn một con trai thì con trai đầu bị phá tướng, tổn thương, tàn tật, và thường là vợ kế hay người bên ngoài sinh con trai. Gặp sao phụ, tá, cát thì con trai tính cứng rắn. Có sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp cùng các sao cát, cát hóa tụ hội thì vì tính cương của con trai mà phá gia. Trường hợp Vũ Khúc Hóa Kị còn bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung thì con trai bị hình khắc rất nặng; phải đồng thời gặp sao phụ, tá, cát mới chỉ chủ muộn có con trai. Nếu có sao đào hoa, Văn Xương, Văn Khúc đồng cung thì có thể có con gái mà không có con trai. Quan hệ với người thân tín lớp sau cũng có tính chất tương tự.
"Vũ Khúc, Thất Sát" ở Mão, Dậu gặp sát tinh thì không nên nhận con nuôi hay bắt rể, e rằng làm ơn mắc oán; vì vậy cũng chủ bị người thân tín lớp sau phản bội.
Các cung hạn Tử Nữ Cự Môn, Thiên Cơ, "Liêm Trinh, Tham Lang" là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Vũ Khúc ở Thìn, Tuất
Vũ Khúc độc tọa ở Thìn hoặc Tuất có thể có một con trai nhưng rất muộn. Gặp sao phụ, tá thì có thể tăng lên thành ba con trai. Có điều vẫn nên sinh con gái đầu lòng, nếu không thì con trai đầu lúc bé nhiều bệnh. Trường hợp hội Tham Lang Hóa Kị lại có sát tinh đồng độ thì nên đề phòng con cái vì kiêu ngạo mà thất bại; có Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung càng nặng. Nếu Kình Dương, Đà La đồng cung thì chỉ chủ rất chậm có con trai. Hội Tham Lang Hóa Lộc, lại gặp sao đào hoa, thì người bên ngoài hoặc vợ kế sinh con trai. Nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung thì vẫn phải đề phòng con cái vì kiêu ngạo mà thất bại.
Các cung hạn Tử Nữ "Liêm Trinh, Thiên Tướng", Tham Lang, Thất Sát là lưu niên hay đại vận then chốt.
"Vũ Khúc, Phá Quân" ở Tị, Hợi
"Vũ Khúc, Phá Quân" ở Tị hoặc Hợi chủ có một con trai. Gặp sát tinh mà có nhiều hơn một con trai thì bị hình khắc, hoặc con trai đầu bị phá tướng. Ý nghĩa cơ bản là cha con bất hòa, hoặc vì hoàn cảnh khách quan mà cha con phải xa nhau. Luận người thân tín lớp sau cũng vậy. Nếu không có sát tinh đồng cung mà tam phương tứ chính có "sao đôi" phụ, tá hội hợp hoặc đồng độ, thì có thể có ba con trai, nhưng vẫn dễ xa con. Hơn nữa, con trai (nhất là con trai đầu lòng) thường sinh non, hoặc phải sinh bằng phẫu thuật. Đặc biệt không nên gặp Liêm Trinh Hóa Kị, phần nhiều đến tuổi già phải đưa đám con trai. Nhưng vẫn cần xét kĩ tổ hợp sao thực tế ở cung hạn Tử Nữ lúc về già mà định.
Các cung hạn Tử Nữ "Liêm Trinh, Thất Sát", "Tử Vi, Tham Lang" và "Vũ Khúc, Phá Quân" là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Thiên Đồng ở cung Tử Nữ
Vũ Khúc cứng như kim khí nên con trai khó giữ; Thiên Đồng là sao phúc hiền hòa, đến cung con cái thì con đông mà cha con cũng dễ hiểu lòng nhau.
Thiên Đồng ở cung Tử Nữ thông thường chủ nhiều con, nhưng sinh con gái đầu lòng thì tốt hơn; dù gặp sát tinh cũng không chủ sinh khó, sinh non hay hình khắc. Cũng chủ đương số với con cái dễ cảm thông. Quan hệ với người thân tín lớp sau cũng luận như vậy, nhưng thuộc hạ thường hay sợ việc.
Thiên Đồng Hóa Kị ở cung Tử Nữ, nếu là tổ hợp "Thiên Đồng, Thái Âm" hoặc "Thiên Đồng, Thiên Lương" lại gặp sát tinh, thì phải đề phòng trong số con có đứa thiếu năng trí tuệ hay mắc chứng tự kỉ.
Thiên Đồng Hóa Lộc thì con cái tay trắng có thể tạo dựng sự nghiệp; nhưng cũng chủ người thân tín lớp sau rời bỏ đương số, đi con đường khác.
Thiên Đồng gặp các sao phụ, tá "sao lẻ" thì có con cái khác dòng. Nếu cung Phu Thê không gặp tình hình tái hôn hay có tì thiếp, thì đó là có con nuôi.
Thiên Đồng có sao đào hoa đồng độ thì phần nhiều sinh con gái, nhất là tổ hợp "Thiên Đồng, Thái Âm" thì càng đúng.
"Thiên Đồng, Thái Âm" ở Tí, Ngọ
"Thiên Đồng, Thái Âm" ở Tí hoặc Ngọ, trong tình huống thông thường đều chủ nhiều con gái, ít con trai, lại sinh con gái trước. Ở Tí có năm con, ở Ngọ có ba con. Gặp sao phụ, tá, cát thì tăng số con; gặp sát, kị, không, kiếp thì bị hình khắc, tổn thương, tàn tật.
"Thiên Đồng, Thái Âm" ở Tí, Ngọ gặp Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài thì con cái rất thông minh. Chỉ gặp Long Trì thì con có khiếu âm nhạc. Nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung thì nên đề phòng con cái thông minh quá lộ. Nếu gặp Âm Sát, Thiên Diêu mà không có "sao đôi" phụ, tá hội hợp thì con cái quá hướng nội; nếu Hóa Kị thì có thể thành người thủ đoạn.
"Thiên Đồng, Thái Âm" ở Tí, Ngọ gặp "Thái Dương, Cự Môn" được cát hóa, lại có sao cát hội hợp, thì con cái được người nước ngoài (hay người ở phương xa) đề bạt, trọng dụng, cũng có thiên bẩm về ngoại ngữ. Nhưng không tốt bằng khi cung Tử Nữ chính là "Thái Dương, Cự Môn" đồng độ, vì "Thiên Đồng, Thái Âm" gặp cơ hội ít hơn.
Các cung hạn Tử Nữ "Thái Dương, Cự Môn", "Thiên Cơ, Thiên Lương" và "Thiên Đồng, Thái Âm" là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
"Thiên Đồng, Cự Môn" ở Sửu, Mùi
"Thiên Đồng, Cự Môn" đồng độ ở Sửu hoặc Mùi chủ có ba con, và cũng nên sinh con gái trước. Gặp sao phụ, tá và đào hoa trùng trùng thì sinh ba con gái rồi mới được một con trai.
Tổ hợp này ưa sát tinh kích phát, nếu không con cái sẽ ý chí bạc nhược; nhưng có sát tinh thì con cái lại bị hình khắc. Có Văn Xương, Văn Khúc và sao đào hoa đồng cung thì con cái thông minh, nhanh nhạy mà thiếu nghị lực; nhất là con gái dễ sa chân lỡ bước, hoặc có tình yêu không bình thường, đau khổ vì tình. Nếu Cự Môn Hóa Kị thì cốt nhục tương tàn, cũng chủ bị người thân tín lớp sau trở mặt, mà người đó lại chính là người đương số đã đề bạt, nâng đỡ. Nếu Thiên Đồng Hóa Kị thì con cái dễ bị nạn tai, bệnh tật.
"Thiên Đồng, Cự Môn" ở Sửu, Mùi nên có Hóa Lộc, nhưng khi ấy lại chủ con cái thiếu tính cương nghị.
Các cung hạn Tử Nữ "Tử Vi, Tham Lang", "Thái Dương, Thiên Lương" là lưu niên hay đại vận then chốt.
"Thiên Đồng, Thiên Lương" ở Dần, Thân
"Thiên Đồng, Thiên Lương" ở Dần hoặc Thân nên sinh con gái trước rồi sinh con trai, chủ có hai con trai. Có điều ở Thân mà hơi gặp sát, kị thì phần nhiều chỉ còn một con trai. Có sao phụ, tá hội hợp thì tăng số con. Gặp sát, kị trùng trùng thì con cái bị tổn thương, tàn tật, hoặc thiếu năng trí tuệ; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp càng nặng. Gặp Thiên Mã thì con cái chia li với gia đình để phát triển. Thiên Lương Hóa Lộc, lại gặp sao phụ, tá, cát, thì nên nuôi dạy con thành nhân tài chuyên nghiệp; gặp sát tinh thì hợp với khoa học kĩ thuật. Gặp Thiên Cơ Hóa Kị đồng cung với sát tinh thì sinh non, sinh khó. Gặp Thái Âm Hóa Kị, lại gặp thêm Lộc Tồn, Thiên Mã, thì con cái phá sạch tổ nghiệp rồi rời quê hương tạo dựng sự nghiệp. Thiên Đồng Hóa Lộc cũng chủ con cái tự lập, nhưng không được thừa kế tổ nghiệp.
Các cung hạn Tử Nữ Thiên Cơ, Cự Môn, Thái Âm và "Thiên Đồng, Thiên Lương" là lưu niên hay đại vận then chốt.
Thiên Đồng ở Mão, Dậu
Thiên Đồng độc tọa ở Mão hoặc Dậu chủ nhiều con gái, ít con trai. Ở Mão có năm con; ở Dậu có bốn hoặc hai con. Gặp sao hình thì con còn nhỏ đã chia li với gia đình. Nếu Cự Môn Hóa Kị thì con cái có tính nặng lí tưởng, xa rời hiện thực, và cố chấp.
Các cung hạn Tử Nữ Cự Môn, Thái Dương, Thái Âm là lưu niên hay đại vận then chốt.
Thiên Đồng ở Thìn, Tuất
Thiên Đồng độc tọa ở Thìn hoặc Tuất chủ có hai ba con. Gặp sát tinh thì chỉ có một con; gặp sao phụ, tá, cát thì có ba con. Cũng chủ con cái nặng tình cảm hơn lí trí; gặp Văn Xương, Văn Khúc và sao đào hoa thì càng nặng tình cảm.
Thiên Đồng Hóa Lộc độc tọa ở Thìn, Tuất thì con cái không được thừa hưởng tổ nghiệp mà phải tự lập. Thiên Đồng Hóa Kị thì tổ nghiệp bị con cái phá tán. Nếu đồng độ với Đà La, lại có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung, thì đến trung niên con cái bị tổn thương, tàn tật, gặp bất trắc.
Các cung hạn Tử Nữ Thiên Lương, Cự Môn là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Thiên Đồng ở Tị, Hợi
Thiên Đồng ở Tị hoặc Hợi chủ sinh con gái trước, có ba con. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, hoặc gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, đều chủ con cái chia li với gia đình để phát triển, con cái còn có tính cách khó hiểu, tính phản kháng mạnh. Dù không gặp Thiên Mã cũng chủ con cái rời xa quê hương. Rất ngại gặp Cự Môn Hóa Kị, chủ hình khắc chia li; gặp sát tinh thì càng nặng.
Thiên Đồng ở Tị, Hợi phải xem nhóm sao mượn là "Thái Âm, Thái Dương" để định cát hung họa phúc của con cái. Nếu Thái Dương Hóa Kị, có sát tinh, người sinh ban đêm sẽ khắc con trai.
Các cung hạn Tử Nữ "Thái Âm, Thái Dương", "Tử Vi, Thiên Tướng" là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Liêm Trinh ở cung Tử Nữ
Thiên Đồng cho tình cha con dễ cảm thông, còn Liêm Trinh cho tình cha con sâu đậm; mà tình càng sâu thì một chữ kị càng dễ hóa thành vết thương.
Liêm Trinh ưa nhập cung Tử Nữ; trong tình huống thông thường đều chủ tình cảm giữa hai thế hệ rất sâu đậm, có ngăn cách cũng có thể cùng nhau bàn bạc giải quyết. Vì vậy Liêm Trinh Hóa Kị thường đại biểu cho nỗi đau về tình cảm, tức là con cái yểu mạng. Còn Cự Môn Hóa Kị thì biểu trưng cho tranh cãi, bất hòa.
Liêm Trinh Hóa Lộc ở cung Tử Nữ biểu trưng tình cảm vui vẻ, nên có thể có con gái hiếu thảo. Có sao cát hóa chưa chắc đã biểu trưng số con tăng lên, nhưng Liêm Trinh Hóa Lộc thì có thể biểu trưng như vậy. Liêm Trinh Hóa Kị hay Hóa Lộc cực kì mẫn cảm với ảnh hưởng của các sao; những điều nói ở trên chỉ là nguyên tắc thông thường, tổ hợp sao cụ thể thế nào có thể làm thay đổi một số chi tiết.
Ví dụ cùng là Liêm Trinh Hóa Kị, có lúc chỉ chủ con cái lấy oán báo ân, chẳng chủ bị "hình thương". Chủ yếu phải xem Liêm Trinh có đồng độ với sát tinh hay không mà định. Nếu có hơn hai sát tinh bay vào cung Tử Nữ thì có thể đoán là bị "hình thương", yểu mạng. Nếu sát tinh chỉ ở tam phương thì chủ lấy oán báo ân.
Liêm Trinh đồng độ hay đối nhau với Thiên Phủ là tổ hợp sao rất ổn định; đồng độ hay đối nhau với Phá Quân là tổ hợp sao không ổn định. Đây là nguyên tắc luận đoán.
"Liêm Trinh, Thiên Tướng" ở Tí, Ngọ
"Liêm Trinh, Thiên Tướng" ở Tí hoặc Ngọ chủ có hai con; gặp sao đào hoa hoặc sao phụ, tá đều chủ tăng số con. Nếu gặp "sao lẻ" phụ, tá, lại gặp sao đào hoa trùng trùng, thì có con cái khác dòng. Trường hợp được "Tài ấm giáp ấn", con cái tuy có thể phát đạt nhưng muộn có con trai, sau ba mươi tuổi thường sinh khó hay sinh non, nên con cái dễ bị hình khắc. Nếu bị "Hình kị giáp ấn" thì con cái hại cha mẹ. Cần xét kĩ cung Phu Thê để tổng hợp mà luận.
"Liêm Trinh, Thiên Tướng" ở Tí, Ngọ có sát, kị, không, kiếp, hình, hao hội hợp thì con ruột bị "hình thương", nên xin con nuôi; nếu đồng thời gặp thêm cát tinh thì sau khi xin con nuôi có thể sinh một con trai; nếu đồng thời gặp thêm sao đào hoa thì người bên ngoài hay vợ hai sinh con trai.
Các cung hạn Tử Nữ do Tham Lang, Phá Quân hay "Liêm Trinh, Thiên Tướng" tọa thủ là lưu niên hay đại hạn then chốt.
"Liêm Trinh, Thất Sát" ở Sửu, Mùi
"Liêm Trinh, Thất Sát" ở Sửu hoặc Mùi chủ chỉ có một con trai. Gặp sao phụ, tá có thể tăng số con, tính cách và phẩm hạnh của con cái cũng được cải thiện. Nếu có tứ sát và Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình hội hợp thì con cái bị hình khắc, có thể chỉ còn lại một con trai.
"Liêm Trinh, Thất Sát" ở Sửu, Mùi có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ thì con cái chủ sinh li. Liêm Trinh Hóa Lộc thì tình cảm vẫn sâu đậm; Liêm Trinh Hóa Kị thì cha con bất hòa, cũng chủ người thân tín lớp sau lấy oán báo ân. Được cát hóa, gặp sao phụ, tá, cát thì con cái thành tài.
Các cung hạn Tử Nữ do Thiên Tướng, "Tử Vi, Tham Lang", "Vũ Khúc, Phá Quân" hay "Liêm Trinh, Thất Sát" tọa thủ là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Liêm Trinh ở Dần, Thân
Liêm Trinh độc tọa ở Dần hoặc Thân, không gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì sinh con gái trước. Nếu có sao đào hoa đồng cung thì con gái nhiều hơn; gặp sao phụ, tá, cát thì có hai con trai. Không có sao đào hoa mà gặp cát tinh thì có ba con trai.
Liêm Trinh ở Dần, Thân thì con cái không thích hợp kinh doanh buôn bán. Gặp Lộc Tồn, Thiên Mã thì con cái nên xa gia đình để phát triển. Liêm Trinh Hóa Lộc hội Vũ Khúc Hóa Khoa là kết cấu khá đẹp, con cái có thể phát triển về tài chính kinh tế, hợp làm công chức. Liêm Trinh Hóa Kị thì tình cảm hai thế hệ dễ xảy ra chuyện buồn đau; cần xét kĩ tổ hợp sao thực tế mà định sự cố. Có thể con cái bị hình khắc, hoặc vì tình cảm hai thế hệ không tốt mà có nỗi khổ giấu trong lòng. Quan hệ với lớp người sau cũng luận như vậy.
Các cung hạn Tử Nữ do Thất Sát, Phá Quân hay Tham Lang tọa thủ là lưu niên hay đại vận then chốt.
"Liêm Trinh, Phá Quân" ở Mão, Dậu
"Liêm Trinh, Phá Quân" ở Mão hoặc Dậu chủ có một con trai. Gặp "sao đôi" phụ, tá thì số con tăng lên thành số chẵn. Gặp sát tinh và Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao thì con cái bị hình khắc, chỉ còn một người; nếu cát tinh và sát tinh lẫn lộn thì cũng chủ con cái bị hình khắc, còn lại số lẻ. Gặp "sao lẻ" phụ, tá cũng chủ số con là số lẻ. Trong tình huống thông thường đều chủ con trai đầu khó nuôi. Có thêm cát, cát hóa thì con trai đầu có thể bị phá tướng. Nếu gặp "sao lẻ" phụ, tá thì nhận con nuôi, hoặc con đầu của đương số làm con nuôi của người khác; còn tình hình đặc biệt thì có con giả.
"Liêm Trinh, Phá Quân" ở Mão, Dậu rất ưa Hóa Lộc. Liêm Trinh Hóa Lộc thì con cái giỏi lập kế hoạch; Phá Quân Hóa Lộc thì rất có tài tổ chức, nên theo đó mà bồi dưỡng cho con. Quan hệ với người thân tín lớp sau cũng luận tương tự. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị thì con cái có tính phản bội, mệnh vận cũng thường gặp trắc trở nghiêm trọng; vì vậy nếu có thêm sát, hình, không, kiếp thì con cái yểu mạng hoặc bị tổn thương, tàn tật. Nhưng Hóa Kị mà gặp cát tinh thì trái lại, con cái là người ôn hòa lễ phép, có tài năng đột phá. Cũng có thể dựa vào đây để luận người lớp sau, có khi có đệ tử giỏi.
Các cung hạn Tử Nữ do "Thiên Cơ, Thiên Lương", "Thái Dương, Cự Môn" hay "Liêm Trinh, Phá Quân" tọa thủ là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
"Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở Thìn, Tuất
"Liêm Trinh, Thiên Phủ" đồng độ ở Thìn hoặc Tuất chủ có ba con trai; gặp "sao đôi" phụ, tá, cát thì có thể tới năm con trai. Có sao đào hoa đồng cung thì nhiều con gái, ít con trai. Hội Vũ Khúc Hóa Kị thì con cái bị khắc cho tới khi còn lại số chẵn; Liêm Trinh Hóa Kị thì bị khắc cho tới khi còn lại số lẻ. Được cát hóa và có sao cát thì con cái phát đạt, quý hiển. Nếu có sát, kị, hình, hao hội hợp thì con cái bị khắc, nhưng không ảnh hưởng đến phẩm cách hay địa vị của con cái.
"Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở Tuất hội "Vũ Khúc, Thiên Tướng", mà Vũ Khúc Hóa Kị và bị "Hình kị giáp ấn", thì con cái bị tổn thương, tàn tật, yểu mạng; cũng chủ bị người thân cận lớp sau phản bội.
Các cung hạn Tử Nữ do "Thiên Đồng, Cự Môn", Thất Sát, Phá Quân tọa thủ là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
"Liêm Trinh, Tham Lang" ở Tị, Hợi
"Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ ở Tị hoặc Hợi chủ chỉ có một con trai. Có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì sinh con trai trước, sinh con gái sau; có sát, kị, hình, hao hội hợp thì bị khắc cho đến khi chỉ còn một đứa con. Có sao cát tụ hội thì số con tăng lên thành số chẵn; nếu lại hơi gặp sát tinh thì không tăng, hoặc tăng nhưng vẫn là số lẻ. Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc, lại gặp cát tinh, thì đương số vất vả nhưng con cái cũng thành tài. Hóa Kị thì không cát tường, chủ tình cảm bất hòa, cũng chủ con cái chia li với gia đình; gặp sát tinh thì xảy ra sự cố bất trắc, hoặc sinh non.
Các cung hạn Tử Nữ do "Thiên Đồng, Thiên Lương", Thái Dương hay Cự Môn tọa thủ là lưu niên hay đại vận then chốt.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
