Bài tổng quan
Cung Phu Thê với Vũ Khúc, Thiên Đồng và Liêm Trinh
Thiên Đồng chủ về tay trắng làm nên: bỏ hết cái đang có rồi mới dựng cái mới. Mang ý nghĩa ấy đặt vào cung phu thê thì nó hóa thành hai lần nhân duyên. Ba sao bàn ở đây đều đọc ra những điều mà nhìn riêng cung mệnh không thấy.
THIÊN ĐỒNG CHỦ VỀ TAY TRẮNG LÀM NÊN — BỎ HẾT SỰ NGHIỆP ĐANG CÓ RỒI MỚI TỰ LẬP NÊN SỰ NGHIỆP MỚI. Mang ý nghĩa ấy đặt vào cung phu thê thì nó thành hai lần nhân duyên. Ba sao bàn ở đây đều như thế: đem tính chất vốn có của sao đặt vào chỗ vợ chồng, sẽ đọc ra những điều mà nhìn riêng cung mệnh không thấy được.
Vũ Khúc ở cung phu thê
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở hai cung Tí hoặc Ngọ, cần phải gặp sao lộc mới chủ về hôn nhân hạnh phúc, hội Liêm Trinh Hóa Lộc là tốt nhất. Nếu Vũ Khúc Hóa Lộc, nam mệnh chủ về vợ có năng lực làm việc giỏi hơn chồng; nếu đối cung là Thất Sát đồng độ với Lộc Tồn thì tình hình "vợ đoạt quyền chồng" càng nghiêm trọng, nam mệnh nếu cung mệnh có Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ về ở rể. "Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở hai cung Tí hoặc Ngọ mà Vũ Khúc Hóa Kị, nữ mệnh chủ về hôn nhân giữa chừng đứt đoạn, do chồng mắc bệnh hay chồng thay lòng đổi dạ, có người khác; nam mệnh chủ về vợ chồng sinh li. Nếu có nhiều sát tinh hội hợp thì đây là mạng tái hôn. Nếu gặp các sao phụ, tá, nam mệnh hay nữ mệnh đều chủ về bị người đã có gia đình theo đuổi; gặp "sao lẻ" phụ, tá thì đây là mạng tái hôn. Có các sao đào hoa hội hợp thì sau kết hôn vẫn bị người đã có gia đình theo đuổi, nữ mệnh càng nặng. Các cung hạn Phá Quân, "Tử Vi, Thiên Tướng", Thiên Đồng, "Thiên Cơ, Cự Môn" là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung then chốt.
"Vũ Khúc, Tham Lang" ở hai cung Sửu hoặc Mùi, thông thường chủ về người bạn đời keo kiệt, bủn xỉn, năng lực tiền bạc lúc nào cũng kiểm soát tiền bạc của người bạn đời. Có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc hội chiếu thì không đúng, chủ về vợ chồng giàu có sung túc, hoặc vợ có thể tự mình làm ăn, kinh doanh. Trường hợp đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về tình cảm vợ chồng trước nồng ấm sau nguội lạnh. Nếu có các sao đào hoa tụ tập, sẽ chủ về trước hôn nhân và sau kết hôn đều có tình huống rối rắm về tình cảm. Nếu có Hỏa Kị mà người bạn đời mà phá tài; gặp các sao đào hoa hay đào hoa, sẽ chủ về thay lòng đổi dạ, có người khác; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, sẽ chủ về không có lạc thú khuê phòng, hoặc chủ về tái hôn. Các cung hạn "Thiên Cơ, Thiên Lương", "Thiên Đồng, Thái Âm" là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung then chốt. Vũ Khúc Hóa Kị, nữ mệnh đặc biệt lấy cung hạn phu thê "Thiên Cơ, Thiên Lương" mượn sao nhập cung để định cát hung của chồng.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, cần phải cương nhu tương tế mới chủ về hôn nhân tốt đẹp. Nếu gặp Tả Phụ, Hữu Bật thì chủ về vợ chồng trợ lực nhau; quá cương thì nhân duyên vợ chồng không lâu bền, nam mệnh lại chủ về bị vợ chi phối. Nếu bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, hay Kình Dương, Đà La giáp cung, thì mức độ bất lợi càng nặng. Nhưng trường hợp "Vũ Khúc, Thiên Tướng" bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, mà đối cung có Lộc Tồn, Thiên Mã, thì chủ về người bạn đời hoặc bản thân mệnh tạo phải bôn ba vất vả, khiến vợ chồng gặp nhau ít mà xa nhau nhiều. Tinh hệ này gặp các sao đào hoa, và "sao lẻ" phụ, tá, chủ về sau khi kết hôn vẫn dễ có tình yêu với người đã có gia đình. Nếu là "Hình kị giáp ấn" thì rơi vào vũng bùn của tình cảm mà không thể tự đứng lên được; nếu là "Tài ấm giáp ấn" thì chủ về tình yêu có tính chất lí trí vào đối tượng. Các cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương", "Thiên Đồng, Cự Môn" và "Vũ Khúc, Thiên Tướng" là những đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung then chốt.
"Vũ Khúc, Thất Sát" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, thông thường chủ về kết hôn muộn, nếu không thì phần nhiều sẽ có hối tiếc trong hôn nhân; ở cung Dậu thì càng nặng. Trường hợp ở cung Mão thì Thái Dương ở cung Thìn là miếu vượng, Thái Âm ở cung Tuất cũng là miếu vượng; trường hợp ở cung Dậu thì Thái Dương ở cung Tuất, Thái Âm ở cung Thìn, đều là cung lạc hãm, cho nên cung Dậu không bằng cung Mão. Ngoài cung phu thê, còn cần phải xem kèm tình hình "miếu vượng lợi hãm" của Thái Âm, Thái Dương. Tinh hệ này nếu Vũ Khúc Hóa Kị, hoặc hội Liêm Trinh Hóa Kị, lại gặp tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp tụ tập ở tam phương tứ chính, chủ về người bạn đời bị tai nạn bất ngờ, hoặc vì người bạn đời mà bị phá tán, thất bại; thời kì ứng nghiệm thường là đến lưu niên Vũ Khúc, Liêm Trinh Hóa Kị trùng điệp, hoặc Kình Dương, Đà La trùng điệp.
"Vũ Khúc, Thất Sát" ở hai cung Mão hoặc Dậu, bản cung không gặp sát tinh mà tam phương gặp sát tinh, sẽ chủ về người bạn đời dãi dầu sương gió, phiêu lưu ở bên ngoài; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, hoặc gặp Thiên Mã thì càng đúng; nếu tam phương có sát tinh mà gặp thêm các sao phụ, tá cát, thì người bạn đời nên theo võ nghiệp. Nếu tam phương có Hỏa Tinh, Thiên Trù đồng độ, hoặc Phá Quân có sao lộc gặp Hỏa Tinh, thì người bạn đời nên kinh doanh ngành ẩm thực. Tinh hệ này cũng chủ về người bạn đời tính cách cứng rắn, hễ cung phu thê gặp "Vũ Khúc, Thất Sát" mà cung phúc đức lại là "Tử Vi, Phá Quân", thì chủ về người bạn đời tính cách cứng rắn, thường khó hòa hợp; có hòa hợp được hay không, cần phải xem nhóm tinh hệ "Liêm Trinh, Tham Lang" có sắc thái gì. Nếu có sắc thái tình cảm thì có thể hòa hợp; nếu thiên nặng về ham muốn vật chất, thì hai vợ chồng đều muốn khống chế nhau, lúc này cung mệnh mà có sao đào hoa thì vẫn chủ về vợ chồng sống với nhau đến bạc đầu. Tinh hệ này rất kị Hỏa Tinh, Đà La đồng độ, chủ về tái hôn; gặp "sao lẻ" Văn Xương hay Văn Khúc, chủ về thành thân mà không có hôn lễ chính thức; trường hợp sát tinh nặng, Vũ Khúc Hóa Kị, chồng có bệnh kín, hoặc mắc bệnh phổi.
Vũ Khúc độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất nên kết hôn muộn; có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, chủ về thành hôn hấp tấp, vội vàng, được cát hóa và có sao cát thì người bạn đời tính tế, sắc xảo, có năng lực làm việc; gặp các sao sát, kị, hình, chủ về vợ chồng sinh li tử biệt, sát tinh nhẹ thì vì người bạn đời mà phá tài. Vũ Khúc ở hai cung Thìn hoặc Tuất khá ít, nhưng đến đại hạn Phá Quân, Thất Sát thủ cung phu thê, gặp các sao sát, kị, hình tụ tập, cũng chủ về hôn nhân tan vỡ. Trường hợp hội Tham Lang ở đối cung, có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng cung, phần nhiều chủ về tình yêu nồng cháy, nhưng cũng nhiều trắc trở; có Thiên Diêu đồng độ thì càng nặng. Vũ Khúc ở cung Thìn ưu hơn ở cung Tuất, xem Thái Dương, Thái Âm miếu hay hãm thì biết. Các cung hạn Phá Quân, Thất Sát, Thiên Lương, Cự Môn là ứng nghiệm cát hung then chốt.
"Vũ Khúc, Phá Quân" đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, gặp các sao sát, kị, hình, hôn nhân ắt sẽ bất lợi, nên kết hôn muộn, nếu không cũng chủ về tái hôn, làm nhị phòng hay kế thất. Ngại nhất là có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, phần nhiều chủ về oán hận người bạn đời. Tinh hệ này được cát hóa, có sao cát, sẽ chủ về người bạn đời tính tế, sắc xảo, nhưng bản thân mệnh tạo bị người bạn đời khống chế. Nếu có Lộc Tồn, Thiên Mã cùng bay đến, hoặc có Lộc Tồn, Thiên Mã vây chiếu, sẽ chủ về vợ chồng mỗi người một nơi, gặp nhau ít mà xa nhau nhiều; có Hỏa Tinh, Linh Tinh hoặc Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, chủ về vợ chồng hữu danh vô thực. Trường hợp được cát hóa và có sao cát, Thất Sát kèm sao lộc đến hội, nam mệnh chủ về nhờ vợ mà kiếm được tiền, nữ mệnh chủ về chồng phú quý; ở cung Tị tốt hơn ở cung Hợi. Các cung hạn Thiên Đồng, Cự Môn, Thiên Lương, Thái Dương là ứng nghiệm cát hung then chốt. Hễ Vũ Khúc ở cung phu thê mà có Văn Khúc Hóa Kị đồng độ, đều chủ về không có hôn lễ chính thức; nếu thành cách cục "Linh Xương Đà Vũ" thì hôn nhân ắt sẽ đổ vỡ, thậm chí "hình khắc" người bạn đời.
Thiên Đồng ở cung phu thê
Tay trắng làm nên vốn là chuyện sự nghiệp, nhưng đặt vào cung này thì nó nói chuyện khác hẳn.
Thiên Đồng chủ về tay trắng làm nên, tức bỏ hết sự nghiệp đang có rồi mới tự lập nên sự nghiệp mới. Mang ý nghĩa này bay vào cung phu thê thì biến thành hai lần nhân duyên. Nhất là ở thời cổ đại, hôn nhân phải qua mai mối, tương đương với "sự nghiệp đang có", cho nên Thiên Đồng ở cung phu thê phần nhiều chủ về nạp thiếp, tương đương với "tự lập nên sự nghiệp mới". Ở thời hiện đại, thường thường trước hôn nhân đã từng ở chung với nhau hoặc có tình yêu nồng cháy, sau khi xa nhau mới tái hợp; cần phải hiểu ý nghĩa mới có thể luận đoán chi tiết.
Hễ Thiên Đồng ở cung phu thê đều chủ về lấy vợ nhỏ tuổi, hoặc lấy chồng lớn tuổi, tuổi tác chênh lệch khá nhiều mới có thể trở thành vợ chồng; nếu không, nữ mệnh chủ về làm nhị phòng. Đây cũng là đạo "xu cát tị hung".
"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, nam mệnh chủ về lấy vợ đẹp; nữ mệnh lấy chồng có phong độ. Gặp các sao khoa văn, hoặc các sao đào hoa, chủ về người bạn đời được người khác giới để ý, ưu ái. Nếu Thái Âm Hóa Kị thì tái hôn thì cát lợi, có thể sống đến bạc đầu; nếu Thiên Đồng Hóa Kị, tái hôn cũng không cát tường. Hội Cự Môn Hóa Kị thì nhiều điều tiếng, dễ li dị; hội Thái Dương Hóa Kị, chủ về vợ đa nghi, hoặc chồng nhiều bệnh. Tinh hệ này gặp sao lộc, nhất là Thiên Đồng Hóa Lộc, Cự Môn Hóa Lộc, đều chủ về bản thân mệnh tạo thường sinh lòng hướng ngoại; gặp "sao lẻ" phụ, tá thì càng dễ có tình cảm bên ngoài. Tinh hệ này ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gặp các sao sát, kị, hình, chủ về sinh li tử biệt, nếu không thì gặp nhau ít mà xa nhau nhiều. Các cung hạn "Thái Dương, Cự Môn", "Liêm Trinh, Phá Quân", "Thiên Cơ, Thiên Lương" thủ cung phu thê là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung then chốt.
"Thiên Đồng, Cự Môn" ở hai cung Sửu hoặc Mùi, gặp Hóa Kị, Hóa Lộc, đều dễ bị đau khổ vì tình, có tình yêu không bình thường, hoặc yêu đơn phương. Nếu Cự Môn Hóa Kị, vợ chồng hay tranh cãi ồn ào. Trường hợp gặp các sao phụ, tá cát, mà còn thành đôi hội nhập, mới chủ về hôn nhân ổn định. Nếu gặp "sao lẻ", nếu từng ở chung, hoặc hủy bỏ hôn ước thì có thể tránh phải trải qua hai, ba lần nhân duyên; nên biết hôn nhân muộn, nữ mệnh còn chủ về làm nhị phòng, kế thất. Đến cung hạn phu thê "Liêm Trinh, Thiên Phủ" đối nhau với "Vũ Khúc, Thiên Tướng", phần nhiều yêu người đã kết hôn; xem các sao đào hoa, hoặc các sao khoa văn ở cung nào để xác định. Tinh hệ này ở hai cung Sửu hoặc Mùi, thủ cung phu thê mà cung mệnh là cách "Dương Lương Xương Lộc", ở cung Mão ưu hơn ở cung Dậu, nhưng đều chủ về người bạn đời có sự nghiệp riêng, vì vậy nên làm khác nghề, khác chỗ làm việc, nếu không sẽ có nhiều điều tiếng, rối ren.
"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, nam mệnh chủ về sau khi li hôn, lấy được vợ khác xinh đẹp; nữ mệnh chủ về sau khi tái giá lấy được chồng mới có sự nghiệp tốt hơn. Nam nên lấy vợ nhỏ tuổi, nữ nên lấy chồng lớn tuổi; nếu không tái hôn, chủ về vợ chồng vì hoàn cảnh mà li tán, sau đó mới tái hợp. Nếu gặp "sao lẻ" phụ, tá, ắt chủ về tái hôn; gặp các sao sát, kị, hình, sẽ chủ về vợ chồng chỉ là "hình khắc". Đến cung hạn phu thê Liêm Trinh Hóa Kị hội Vũ Khúc Hóa Kị, phần nhiều ứng nghiệm người bạn đời bị nạn tai; ở cung hạn phu thê Thái Dương Hóa Kị hội Thái Âm Hóa Kị, phần nhiều ứng nghiệm vợ chồng sinh li.
Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu, đối cung là Thái Âm, cũng chủ về người bạn đời xinh đẹp, tuấn tú; được cát hóa, có sao cát, chủ về hôn nhân hạnh phúc, nhất là trường hợp từng ở chung, sau đó mới chính thức kết hôn thì càng đúng. Nếu có các sao sát, kị, hình tụ hội, chủ về hai, ba lần hôn nhân; nữ mệnh chủ về làm nhị phòng hay kế thất. Thiên Đồng ở cung Mão mà hội Lộc Tồn, Thiên Mã ở cung Hợi; hoặc Thiên Đồng ở cung Dậu mà hội Lộc Tồn, Thiên Mã ở cung Tị; mà có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ với Thiên Đồng, chủ về vì hoàn cảnh khách quan mà vợ chồng chia li. Thiên Đồng ở hai cung Mão hoặc Dậu, gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, còn có các tạp diệu Giải Thần, Quả Tú, Đại Hao, Thiên Hư đồng độ, chủ về vợ chồng hữu danh vô thực. Nam mệnh cung phu thê là Thiên Đồng ở hai cung Mão hoặc Dậu, cũng không nên gặp Thiên Diêu, Âm Sát, Kiếp Sát, chủ về vợ có thủ đoạn. Các cung hạn phu thê Cự Môn, Thiên Lương, Phá Quân, "Liêm Trinh, Thiên Tướng" là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung then chốt.
Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thủ cung phu thê, đối nhau với Cự Môn, tình hình đại khái tương tự như "Thiên Đồng, Cự Môn"; lấy các cung hạn phu thê Thiên Đồng, Cự Môn, Thiên Tướng, "Liêm Trinh, Thất Sát" làm đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung then chốt. Thiên Đồng ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp các sao đào hoa, hoặc các sao khoa văn, thành cách cục "phản bối", chủ về tái hôn tốt hơn hôn nhân lần đầu; nam mệnh còn chủ về được tiền của nhờ vợ, hoặc được nhạc gia nâng đỡ nên sự nghiệp thành tựu.
Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, thủ cung phu thê, đối nhau với Thiên Lương, tính chất đại khái tương tự như "Thiên Đồng, Thiên Lương". Các cung hạn phu thê "Vũ Khúc, Thiên Phủ", "Thái Âm, Thái Dương", Liêm Trinh là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung then chốt. Thiên Đồng ở hai cung Tị hoặc Hợi, thủ cung phu thê, có Lộc Tồn, Thiên Mã vây chiếu hoặc đồng độ, đều chủ về vợ chồng gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc vợ chồng mỗi người một nơi; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì càng đúng.
Liêm Trinh ở cung phu thê
Sao chủ về tình cảm mà đặt vào cung vợ chồng, lại không phải là điềm lành.
Liêm Trinh thủ cung phu thê không phải là sao lành, nhưng chủ về sinh li nhiều hơn tử biệt; vợ chồng bất hòa nhưng có thể sống với nhau đến bạc đầu, tạm coi là có kết cục tốt. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, lại trùng điệp với chính diệu khác Hóa Kị của đại vận hoặc lưu niên, còn gặp sát tinh tụ hợp, thường thường là cung hạn ứng nghiệm sinh li tử biệt.
Liêm Trinh thủ cung phu thê tối kị Tham Lang, Phá Quân; đây là luận đoán đại cương. Nếu gặp các sao sát, kị, thường thường chủ về hai, ba lần hôn nhân, nữ mệnh chủ về làm nhị phòng hay kế thất; nam mệnh chủ về lấy vợ mà không cử hành hôn lễ chính thức, đây cũng có thể là đạo "xu cát tị hung". Liêm Trinh cũng rất kị Hỏa Tinh đồng cung, dù gặp cát tinh và cát hóa, cũng chủ về vì hoàn cảnh khách quan mà vợ chồng ở hai nơi. Liêm Trinh ở cung phu thê, nam mệnh nên lấy vợ nhỏ tuổi, nữ mệnh nên lấy chồng lớn tuổi, chênh lệch trên mười hai tuổi cũng được.
"Liêm Trinh, Thiên Tướng" ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối nhau với Phá Quân, là tính chất không tốt; dù có cát hóa, sao cát, vẫn chủ về vợ chồng bảo thủ ý kiến của riêng mình, mạnh ai nấy lo mà không cùng nhau tính toán, vì vậy mà dẫn đến bất hòa. Trường hợp này nếu có Kình Dương đồng độ hoặc vây chiếu, lại gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, hoặc Địa Không, Địa Kiếp, chủ về người bạn đời bị nạn tai, bệnh tật; các cung hạn Thất Sát, "Tử Vi, Thiên Phủ", Phá Quân, Tham Lang là đại vận hoặc lưu niên xảy ra ứng nghiệm. Tinh hệ này thủ cung phu thê, không nên gặp "sao lẻ" phụ, tá, đây cũng là điểm tượng tái hôn; đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm thường thường đến cung hạn có Văn Xương hay Văn Khúc Hóa Kị. "Liêm Trinh, Thiên Tướng" ở hai cung Tí hoặc Ngọ, vợ chồng nên chênh lệch tuổi tác, gặp Văn Xương, Văn Khúc thì chủ về hòa hợp và sống với nhau đến bạc đầu.
"Liêm Trinh, Thất Sát" ở hai cung Sửu hoặc Mùi, trong tình huống có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa tụ đủ, mà còn gặp "sao đôi" phụ, tá, mới có thể sống với nhau đến bạc đầu, nhưng vẫn có một thời gian vợ chồng xa nhau. Nếu gặp "sao lẻ" phụ, tá, cũng chủ về tái hôn; gặp Kình Dương, Đà La đồng độ, sẽ chủ về "hình khắc", ứng nghiệm tái hôn là đến các cung hạn Thiên Đồng, Cự Môn, "Vũ Khúc, Phá Quân"; ứng nghiệm hình khắc là đến cung hạn "Liêm Trinh, Thất Sát" Hóa Kị trùng điệp xung chiếu, ở cung phu thê, cung điền trạch, hoặc cung phúc đức đều đúng. Tinh hệ này ở hai cung Sửu hoặc Mùi có Kình Dương đồng độ hoặc vây chiếu, lại gặp Thiên Hình mà không gặp "sao lẻ" phụ, tá, không chủ về "hình khắc", chỉ chủ về người bạn đời được người khác giới để mắt, ưu ái; thích hợp với các nghề nghiệp thường tiếp xúc người khác giới.
Liêm Trinh ở hai cung Dần hoặc Thân, đối cung là "Hỏa Tham", "Linh Tham", chủ về tình yêu nồng cháy nhưng dễ đứt đoạn giữa chừng. Nếu Liêm Trinh có Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, thì vợ chồng có thể giữ lễ, không đến nỗi vượt qua giới hạn. Liêm Trinh ở hai cung Dần hoặc Thân đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về thành hôn hấp tấp, vội vàng; nếu gặp thêm Thiên Diêu, phần nhiều ở chung trước rồi mới kết hôn. Trường hợp có các sao sát, kị trùng trùng, chủ về tái hôn hoặc ba lần nhân duyên. Liêm Trinh ở hai cung Dần hoặc Thân mà hội Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", nữ mệnh chủ về làm nhị phòng; tinh hệ này thường chủ về có tình yêu với người đã có gia đình, đến cung hạn phu thê "Vũ Khúc, Thiên Phủ" mà còn gặp các sao đào hoa, Văn Xương, Văn Khúc, là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm. Các cung hạn Phá Quân, Tham Lang, Thiên Lương ở cung Tị, Thiên Đồng ở cung Tị là những lưu niên ứng nghiệm cát hung then chốt.
"Liêm Trinh, Phá Quân" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, tính chất đổ vỡ khá nghiêm trọng, dù có cát hóa và sao cát cũng chủ về vợ chồng bất hòa. Nếu lại gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, là họa lớn, chủ về người bạn đời gặp bất trắc, hoặc vì người bạn đời mà dẫn đến thất bại. Lúc luận đoán cung phu thê của đại hạn, cần phải xem lúc nào xảy ra ứng nghiệm, và tính chất của sự kiện: ví dụ như đến cung phu thê của đại hạn là "Vũ Khúc, Tham Lang" mà Vũ Khúc Hóa Kị, có thể là điềm thất bại; là Thiên Đồng Hóa Kị thì có thể là gặp bất trắc. Tinh hệ này gặp "sao lẻ" phụ, tá là chủ về tái hôn; gặp "sao đôi" Văn Xương, Văn Khúc, còn gặp thêm các sao đào hoa, sẽ chủ về thay lòng đổi dạ, có người khác. Phần nhiều tái hôn vẫn không thấy tốt đẹp; nữ mệnh tái hôn thường không có danh phận. Các cung hạn "Vũ Khúc, Tham Lang", "Thiên Đồng, Thái Âm", "Thiên Cơ, Thiên Lương", Thiên Tướng thủ cung phu thê là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung then chốt.
"Liêm Trinh, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, kết cấu khá ổn định, phần nhiều chỉ chủ về bất hòa, nhưng không có "hình khắc" hay chia li. Có điều tinh hệ này cũng chủ về dễ bị người đã có gia đình theo đuổi, nhất là lúc "Vũ Khúc, Thiên Tướng" bị Thiên Đồng Hóa Kị hoặc Cự Môn Hóa Kị giáp cung, càng dễ xảy ra sự cố; nếu hội "sao lẻ" phụ, tá thì thường do đó mà vợ chồng li dị. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, hoặc hội Vũ Khúc Hóa Kị, còn gặp thêm các sao sát, hình, không, kiếp, cũng chủ về vợ chồng li dị; nam mệnh sau khi li hôn lại lấy được vợ đẹp, có năng lực làm việc, nhưng với vợ cũ thì ngó đứt mà tơ chưa lìa. Các cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương", "Vũ Khúc, Thiên Tướng", "Thiên Đồng, Cự Môn" và "Liêm Trinh, Thiên Phủ" là những đại vận hoặc lưu niên then chốt.
"Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, hội "Tử Vi, Phá Quân" và "Vũ Khúc, Thất Sát", thủ cung phu thê thì tính chất không lành. Dù được cát hóa và có sao cát, cũng chủ về hôn nhân không được tốt đẹp; gặp các sao sát, hình, không, kiếp, chủ về vợ chồng li dị, hoặc vì sự cố sắc tình mà dẫn đến kiện tụng. Nếu lại gặp Hóa Kị thì chủ về hình khắc. Tinh hệ này có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung, chủ về vợ chồng hữu danh vô thực, hoặc bề ngoài hòa hợp nhưng trong lòng có nỗi khổ đau thầm kín. Gặp "sao lẻ" phụ, tá, nam mệnh hay nữ mệnh đều chủ về hai lần nhân duyên, lần thứ hai tốt hơn lần đầu; nếu là mượn sao an cung thì tính chất cũng xấu hơn so với "Liêm Trinh, Tham Lang" của nguyên cung, chủ về tái hôn không tốt hơn hôn nhân lần đầu. Gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, Hỏa Tinh, Linh Tinh, cũng chủ về vì hoàn cảnh khách quan mà người bạn đời phải ở nơi khác; có sao đào hoa cùng bay đến, chủ về người bạn đời có tài năng nghệ thuật, nhưng hôn nhân cũng dễ đổ vỡ. Các cung hạn "Tử Vi, Phá Quân", "Vũ Khúc, Thất Sát", "Thiên Đồng, Thiên Lương", Cự Môn là những đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
