Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Thiên Đồng, Cự Môn Ở Sửu, Mùi Và Vũ Khúc, Thiên Tướng Ở Dần, Thân

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái17/09/202617 phút đọc5 lượt đọc
Thiên Đồng, Cự Môn Ở Sửu, Mùi Và Vũ Khúc, Thiên Tướng Ở Dần, Thân

Sáng sủa hay u ám, cương hay nhu, là những thước đo cho hai tinh hệ đồng cung này. Ở Thiên Đồng, Cự Môn tại Sửu, Mùi, Cự Môn là ám tinh còn Thiên Đồng chủ tâm trạng, nên dễ thành mặt u ám của tình cảm. Nhóm Thái Dương, Thiên Lương mượn vào cung Dậu hội với tinh hệ ở Sửu nên u ám giảm bớt; còn ở Mùi, Thái Dương cung Dậu là mặt trời lặn, không đủ sức giải ám. Vũ Khúc, Thiên Tướng ở Dần, Thân đối Phá Quân, cần cương nhu tương tế mới thành kết cấu đẹp. Vũ Khúc Hóa Lộc thì tính cứng được điều hòa, Hóa Quyền, Hóa Khoa thì càng cứng, còn Hóa Kị là tượng quá cương thì gãy. Quá cương thì biết sai mà không nhận, quá nhu thì biết sai mà cứ chần chừ.


"Thiên Đồng, Cự Môn" Ở Hai Cung Sửu Hoặc Mùi

"Thiên Đồng, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, cung tam hợp là Thiên Cơ độc tọa, và "Thái Dương, Thiên Lương" mượn sao an cung.

Muốn luận đoán bản chất của "Thiên Đồng, Cự Môn" ở hai cung này, cần phải chú ý tình cảm của tinh hệ này, xem thuộc sắc thái "sáng sủa" hay "u ám", bởi vì Cự Môn là "ám tinh", Thiên Đồng là sao chủ về "tâm trạng", hai sao đồng cung biến thành mặt "u ám" của tâm trạng hoặc tình cảm, muốn chứng thực bản chất của nó cần chú ý mức độ "u ám" của nó.

Mượn nhóm sao "Thái Dương, Thiên Lương" nhập cung Dậu, hội "Thiên Đồng, Cự Môn" của cung Sửu, do phạm vào cung có ánh sáng của Thái Dương, vì vậy mặt "u ám" của "Thiên Đồng, Cự Môn" giảm bớt.

Nếu "Thiên Đồng, Cự Môn" ở cung Mùi, có sao mượn là "Thái Dương, Thiên Lương" của cung Dậu hội chiếu, do Thái Dương ở cung Dậu là mặt trời lặn về tây, ánh sáng và độ nóng không đủ, sức mạnh giải "ám" không bằng "Thái Dương, Thiên Lương" của cung Mão. Do đó khi so sánh hai trường hợp, "Thiên Đồng, Cự Môn" của cung Sửu có độ "u ám" ít hơn "Thiên Đồng, Cự Môn" của cung Mùi.

Nếu an mệnh ở cung Mùi, vô chính diệu, mượn "Thiên Đồng, Cự Môn" của cung Sửu để an sao, được "Thái Dương, Thiên Lương" của cung Mão và Thái Âm của cung Hợi hội chiếu. Thái Dương của cung Mão là "Nhật chiếu lôi môn", Thái Âm của cung Hợi là "Nguyệt lãng thiên môn", đều có thể giải "u ám" của "Thiên Đồng, Cự Môn", thậm chí có thể khiến chúng biến thành "sáng sủa". Cổ nhân gọi cách cục này là "Minh châu xuất hải", là do duyên cớ này (ở phần một chúng ta đã nói về cách cục này, còn nói, an mệnh ở cung Sửu, nếu mượn "Thiên Đồng, Cự Môn" của cung Mùi thì không đúng cách "Minh châu xuất hải", lúc đó chưa giải thích duyên cớ, bây giờ bạn đọc đã biết nguyên nhân).

Lấy bản thân "Thiên Đồng, Cự Môn" để nói, Thiên Đồng Hóa Kị, Cự Môn Hóa Kị, đều làm tăng mặt "u ám" của tình cảm, là cách cục khá thấp của nhóm "Thiên Đồng, Cự Môn".

Nhưng nếu Thiên Đồng Hóa Lộc hay Hóa Quyền, thì có thể giảm bớt "u ám" của "Thiên Đồng, Cự Môn"; nhất là Cự Môn được cát hóa, ắt sẽ tay trắng làm nên sau khi trải qua sóng gió, trắc trở; sẽ tốt hơn trường hợp Cự Môn không được cát hóa.

Nếu so sánh, "Thiên Đồng, Cự Môn" thuộc loại "sáng sủa" sẽ không sợ sát tinh; còn "Thiên Đồng, Cự Môn" thuộc loại "u ám" sẽ sợ sát tinh đồng thời đến hội. Đối với Văn Xương, Văn Khúc cũng vậy, nếu "Thiên Đồng, Cự Môn" thuộc loại "u ám" gặp Văn Xương Hóa Kị, Văn Khúc Hóa Kị, thì tình huống rắc rối khó xử về tình cảm càng lớn, quan hệ giao tế kém, nhất là tình huống rắc rối khó xử trong tình cảm nam nữ có thể thành nỗi đau khổ nội tâm.

Cho nên "Thiên Đồng, Cự Môn" có cách cục cao hay thấp, có thể nói, cần phải xem Thái Dương miếu hay hãm mà định; kế đó xem đến tứ hóa của "Thiên Đồng, Cự Môn".

Còn Thiên Cơ ở cung tam hợp cũng không nên Hóa Kị, Hóa Kị thì sẽ làm tăng mặt "u ám", lúc này khiến "Thiên Đồng, Cự Môn" biến thành có mục đích tính toán trong nội tâm, dễ dẫn đến có kế hoạch sai lầm, đây cũng là biểu hiện của mặt "u ám".

Trong tinh hệ nhóm 1 (tức bàn cơ bản của Tử Vi ở cung Tí hoặc Ngọ), "Thiên Đồng, Cự Môn" ở hai cung Sửu hoặc Mùi thuộc cách cục yếu, về tiên thiên đã không bằng các tinh hệ khác, dù trở thành thượng cách ("Minh châu xuất hải" mượn sao an cung là ngoại lệ), được cát hóa, hoặc Thái Dương ở cung Mão hội chiếu, đời người cũng sẽ có điều đáng tiếc. Cho nên cách cục này đặc biệt mẫn cảm với các sao sát, kị, hình.

Rất ghét đồng độ với Kình Dương, hội chiếu cũng không cát tường; nếu có thêm các sao Văn Khúc Hóa Kị, Văn Xương Hóa Kị, Âm Sát, Thiên Hư, Kiếp Sát đồng độ, thì dễ bị người ta ngầm gây tổn hại hay áp chế.

Trong tình hình này, Cự Môn Hóa Lộc cũng chỉ chủ về tinh thần trống rỗng, Thiên Đồng Hóa Lộc thì chủ về nhiều lúc cảm thấy không như ý (ví dụ như rõ ràng có thể tạo dựng công việc làm ăn, bỗng nhiên để cho người ta nhúng tay vào đè ép).

Gặp tứ sát, Hóa Kị, Thiên Hình, đương nhiên sẽ mang lại sự quấy nhiễu, gây khó khăn cho "Thiên Đồng, Cự Môn". Cần phải gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa ở "tam phương tứ chính" đến hội, còn không gặp các sao sát, kị, hình, hao, mới thành kết cấu tốt.

Kết cấu "Thiên Đồng, Cự Môn" thuộc loại "sáng sủa", hay "u ám", đều ưa đến vận hạn hoặc lưu niên gặp tam cát hóa. Ví dụ như cung hạn "Vũ Khúc, Thiên Tướng" cấu tạo thành tổ hợp Liêm Trinh Hóa Lộc, Thiên Đồng Hóa Quyền, Thiên Cơ Hóa Khoa; cung hạn Phá Quân độc tọa, có thể Hóa Quyền và gặp Vũ Khúc Hóa Khoa vây chiếu. Phàm người thuộc loại "Thiên Đồng, Cự Môn" thủ mệnh đều ưa gặp tinh hệ được cát hóa như vậy. "Thiên Đồng, Cự Môn" gặp các sao sát kị đồng thời đến hội, vẫn có thể gặp vận tốt, nhưng khi vận tốt qua rồi, vẫn phải đề phòng "u ám" ập đến.

Có điều, tinh hệ thuật ở trên cần đến vận hạn "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung Mão Hóa Lộc, Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa, nếu không gặp sát tinh, thì âm khí của Cự Môn sẽ tiêu hoàn toàn, thành vận tốt. Cho nên "Thiên Đồng, Cự Môn" rất ưa đến vận hạn "Thái Dương, Thiên Lương".

"Thiên Đồng, Cự Môn" nặng phương diện "u ám", dù đến cung hạn thuật ở trên, gặp tinh hệ được cát hóa, cảnh ngộ vẫn không toàn mĩ, sẽ chủ về tinh thần trống rỗng, hoặc có nhiều tính toán xa rời thực tế, nhưng sinh hoạt vật chất thì luôn cảm thấy túng thiếu. Nếu lại gặp sát tinh và cát hóa cùng đến, càng dễ cảm thấy bị áp lực, hoặc nội tâm có nhiều nỗi khổ.

Nếu "Thiên Đồng, Cự Môn" nặng "u ám", đến vận hạn có đầy dẫy các sao sát kị, thì thậm chí có thể bị người ta uy hiếp. Nếu lại gặp "Thái Dương, Thiên Lương" Hóa Kị, gặp thêm Thiên Hình, Kình Dương, là tinh hệ chủ về sử dụng ma túy, dùng độc dược.

"Thiên Đồng, Cự Môn" thuộc loại khá sáng sủa đến cung hạn có các sao sát kị tụ tập, tuy không chủ về bị người ta uy hiếp, nhưng cũng chủ về tâm trạng mất quân bình, tình cảm bị tổn thương.

Phàm "Thiên Đồng, Cự Môn" đều không ưa đến cung hạn Văn Xương Hóa Kị, hoặc Văn Khúc Hóa Kị, bất kể là đại hạn hay lưu niên đều chủ về phá tài, tổn thất, bị người ta gây lụy, hoặc mắc bệnh tật, có tang.

"Thiên Đồng, Cự Môn" cũng không ưa đến cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương" Hóa Kị, chủ về xảy ra điều tiếng thị phi; gặp sao hình thì có họa lao ngục, nhẹ thì dễ bị người phỉ báng, nói xấu, bêu rếu, hoặc bị người ta trút trách nhiệm lên người, cũng chủ về xảy ra tình huống u ám trong tình cảm, thành đau khổ vì tình, tình yêu không bình thường hoặc yêu đơn phương, gây nên đau khổ nội tâm.

Đến đây xin cử một ví dụ "Thiên Đồng, Cự Môn" ở cung phụ mẫu để thuyết minh tính chất của tinh hệ này.

Người sinh năm Bính, cung phụ mẫu có "Thiên Đồng, Cự Môn", Thiên Đồng Hóa Lộc ở cung Mùi, đối cung là Văn Xương, Văn Khúc, mà Văn Xương Hóa Khoa.

Nhóm tinh hệ này tuy được cát hóa, nhưng cung Mão vô chính diệu, mượn "Thái Dương, Thiên Lương" của cung Dậu an sao nhập cung. Thái Dương của cung Dậu ánh sáng không đủ, do đó "Thiên Đồng, Cự Môn" của cung phụ mẫu dù được cát hóa, vẫn có mặt "u ám".

Lúc đến cung mệnh của đại hạn Đinh Dậu, "Thái Dương, Thiên Lương" thủ mệnh, hội sao mượn là "Thiên Đồng, Cự Môn", mà Cự Môn Hóa Kị, là điểm thị phi, hình kị. Cung phụ mẫu của đại hạn là Thất Sát độc tọa ở cung Tuất, chiếu xạ "Liêm Trinh, Thiên Phủ" của nguyên cục, mà Liêm Trinh Hóa Kị, lại có Đà La của nguyên cục hội chiếu. Vì vậy, chủ về tình cảm xảy ra sự xung đột với "cha mẹ". Cung phụ mẫu cũng dùng để luận đoán mối quan hệ giao tế với thượng cấp; cung phụ mẫu của đại hạn Đinh Dậu xảy ra tình huống này cũng nên dùng để luận đoán thượng cấp chứ chẳng phải cha mẹ.

Vào năm Đinh Mùi, "Thiên Đồng, Cự Môn" thủ cung mệnh của lưu niên, mà Cự Môn lại Hóa Kị; "Vũ Khúc, Thiên Tướng" ở cung phụ mẫu của lưu niên bị Cự Môn song Hóa Kị và Thiên Lương giáp cung, thành tình huống bị "Hình kị giáp ấn" nghiêm trọng; lại hội Liêm Trinh Hóa Kị, kết quả dĩ nhiên sẽ vì "tâm bệnh" mà bất hòa với thượng cấp, tâm lí bị uy hiếp, thêm vào đó song Kình Dương bay vào cung phụ mẫu của lưu niên, cuối cùng mối quan hệ giao tế trở thành mối hiềm khích.

Nếu "Thiên Đồng, Cự Môn" ở cung phụ mẫu của nguyên cục lại thuộc loại "u ám" (không gặp cát hóa), tình hình sẽ không tưởng tượng nổi, có thể bị thượng cấp hãm hại. Nhưng nếu cung phụ mẫu của nguyên cục không phải hội chiếu với Thái Dương của cung Dậu, mà hội chiếu với Thái Dương của cung Mão, thì tình hình sẽ khá hơn nhiều. Tuy đến cung phụ mẫu của đại hạn hoặc lưu niên cũng cùng một tính chất, nhưng chịu áp lực sẽ ít hơn nhiều.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" Ở Hai Cung Dần Hoặc Thân

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, đối cung sẽ là Phá Quân, hội chiếu Tử Vi độc tọa và "Liêm Trinh, Thiên Phủ".

Muốn luận đoán bản chất của tinh hệ "Vũ Khúc, Thiên Tướng", cần chú ý sự phối hợp và điều hòa cương nhu. Vũ Khúc tính cương, Thiên Tướng tính nhu, hai sao ở một cung độ, cần phải cương nhu tương tế, mới thành kết cấu đẹp.

Nếu quá cương hay quá nhu, đều có thể xuất hiện khuyết điểm, khiến cảnh ngộ của đường đời đầy gập ghềnh, trắc trở, khó mà đắc chí.

Lấy bản thân "Vũ Khúc, Thiên Tướng" để nói. Vũ Khúc mà Hóa Lộc, tính cứng rắn và hình khắc sẽ được điều hòa; nhưng Vũ Khúc mà Hóa Quyền hay Hóa Khoa thì càng tăng tính cứng rắn; Vũ Khúc Hóa Kị lại là điểm tượng "quá cương thì gãy". Nếu Vũ Khúc Hóa Kị bị Kình Dương và Đà La giáp cung thì tính chất "cô khắc hình kị" của nó càng tăng mạnh.

Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn", tính nhu nhược của nó sẽ giảm bớt; lại gặp Hóa Lộc của Thiên Phủ, có các sao phụ, tá cát giáp và hội, sẽ hóa nhu nhược thành năng lực. Nhưng Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", là lúc Kình Dương và Đà La giáp cung, hoặc Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, tính chất của Thiên Tướng sẽ càng nhu nhược hơn.

Do đó có thể biết, kết cấu xấu nhất là "Vũ Khúc, Thiên Tướng" mà Vũ Khúc Hóa Kị, bị Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung; tuy có sao phụ, tá cát đồng độ, nhưng Vũ Khúc quá cương, Thiên Tướng quá nhu (thực ra phải nói là "nhu nhược"), kết quả không những dễ xảy ra sóng gió, trắc trở, mà còn có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ.

Nếu Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", lúc Thiên Đồng Hóa Kị, chủ về tâm trạng trồi sụt thất thường và bị áp lực, hoặc thất bại về tình cảm; lúc Cự Môn Hóa Kị là điểm chuốc thị phi, phiền phức. Lúc này chỉ ưa có Lộc Tồn hội chiếu hai sao Thiên Phủ và Thiên Tướng, thì cảnh ngộ cuộc đời của mệnh tạo sẽ không đến nỗi trắc trở gập ghềnh, bất đắc chí, chỉ chủ về tinh thần thường lâm vào tình huống rối rắm khó xử.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" tuy ưa "tài ấm" đến giáp cung, nhưng "tài ấm" của Thiên Đồng Hóa Lộc không bằng "tài ấm" của Cự Môn Hóa Lộc. Bởi vì lúc Thiên Đồng Hóa Lộc, "Vũ Khúc, Thiên Tướng" ắt sẽ tương hội với "Liêm Trinh, Thiên Phủ", mà lúc này Liêm Trinh lại Hóa Kị; có thể xảy ra tình huống vì tiêu xài vào các thú vui, sở thích mà mất quân bình thu chi. Nhưng lúc gặp "tài ấm" của Cự Môn Hóa Lộc, "Vũ Khúc, Thiên Tướng" cũng không nên gặp Văn Xương Hóa Kị, đây là điểm ứng không tốt, bởi vì có thể khiến người "Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ mệnh lúc có chút thành tựu thì đã vội vàng tự cho mình là tài ba, tức thiếu đức tính nghị lực kiên cường của Vũ Khúc, và cũng thiếu đức tính khiêm tốn ôn hòa một cách vô tư của Thiên Tướng.

Lúc Phá Quân Hóa Lộc đối nhau với "Vũ Khúc, Thiên Tướng", có thể điều hòa tính cương nhu của "Vũ Khúc, Thiên Tướng". Nếu Hóa Quyền thì làm mạnh thêm tính cương quyết của Vũ Khúc, chưa chắc có lợi đối với tinh hệ này.

Tử Vi ở cung tam hợp, nếu là cách cục "bách quan triều củng" thì có thể điều hòa tính cương nhu của "Vũ Khúc, Thiên Tướng"; nếu là "tại dã cô quân", thì trái lại, sẽ làm mạnh thêm sự mâu thuẫn cương nhu ở "Vũ Khúc, Thiên Tướng".

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" đặc biệt thích Tử Vi đồng độ với Lộc Tồn, Lộc Tồn này hội hợp "Vũ Khúc, Thiên Tướng", có thể giảm bớt tính "cô khắc" của Vũ Khúc. Hơn nữa, lúc Tử Vi ở cung Tí, nếu có Lộc Tồn đồng độ, Phá Quân cũng sẽ đồng thời Hóa Lộc; nếu Tử Vi ở cung Ngọ, "Vũ Khúc, Thiên Tướng" sẽ khó bị "hình kị" của Cự Môn Hóa Kị đến giáp cung, chỉ cần không gặp sát tinh, vẫn có thể được cương nhu tương tế ở mức độ khá tốt.

Cặp sao đôi khác trong cung tam hợp là "Liêm Trinh, Thiên Phủ", lúc Liêm Trinh Hóa Lộc, Thiên Phủ cùng đồng thời được sao lộc, Liêm Trinh có thể điều hòa tính cương quyết của Vũ Khúc, Thiên Phủ cũng làm tăng sức mạnh của Thiên Tướng. Nhưng gặp lúc Vũ Khúc Hóa Khoa sẽ bị ảnh hưởng của Phá Quân, cho nên tính cương nhu của toàn nhóm tinh hệ có điều hòa hay không, vẫn phải xem bản thân "Vũ Khúc, Thiên Tướng" có hội Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp hay không mà định. Gặp sát tinh thì vẫn chủ về không điều hòa cương nhu.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" trong trường hợp cương nhu tương tế, ưa đến cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương", mà Thái Dương miếu vượng, gặp Thất Sát được cát hóa, Tử Vi Hóa Khoa, Phá Quân Hóa Lộc, Thái Âm miếu vượng.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" thuộc trường hợp quá cương, không nên đến cung hạn có tính cương quyết, như tinh hệ "Thái Dương, Thiên Lương", mà Thái Dương Hóa Kị, Tử Vi Hóa Quyền, Thất Sát không được cát hóa.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" thuộc trường hợp quá nhu, không nên đến cung hạn có tính nhu nhược, mềm yếu, như các tinh hệ "Thiên Đồng, Cự Môn", "Thái Dương, Thiên Lương", mà Thái Dương lạc hãm, Thiên Cơ Hóa Kị; và "Liêm Trinh, Thiên Phủ" mà Liêm Trinh Hóa Kị, Thái Âm lạc hãm.

Quá cương thì gãy, "Vũ Khúc, Thiên Tướng" có bản tính quá cương mà đến cung hạn có tính cương quyết, sẽ chủ về đời người gặp nhiều trở ngại, thất bại, hơn nữa quan hệ giao tế cũng sẽ xảy ra nhiều điều đáng tiếc. Quá nhu thì yếu, "Vũ Khúc, Thiên Tướng" có tính quá nhu nhược mà đến các cung hạn nhu nhược, sẽ chủ về thờ ơ, tiêu cực, hoặc bị người ta bài xích, chèn ép.

Nếu "Vũ Khúc, Thiên Tướng" thuộc loại cương nhu tương tế, đến các cung hạn có tính cương nhu tương tế, là điểm nhờ tính cương nghị mà đạt đến thành công. Dù đến cung hạn quá cương hay quá nhu, cũng chỉ nhất thời gặp trở ngại, hoặc nhất thời bị kềm chế trong vận hạn hoặc lưu niên đó, tức sẽ dựa vào sự cương nghị của bản thân để khắc phục hoàn cảnh, xoay chuyển mệnh vận.

Đến đây chúng tôi xin cử một ví dụ thực tế để thuyết minh về tình hình tinh hệ "Vũ Khúc, Thiên Tướng" ở cung phúc đức.

Cung phúc đức là "Vũ Khúc, Thiên Tướng" đồng độ ở cung Dần, cung mệnh là Tham Lang độc tọa. Người sinh năm Đinh, "Vũ Khúc, Thiên Tướng" bị "hình kị" của Cự Môn Hóa Kị đến giáp cung; nhưng hội Tử Vi, Lộc Tồn; Vũ Khúc gặp sao lộc, tính cứng rắn và hình khắc hơi hòa hoãn; Thiên Tướng bị "hình kị" đến giáp cung thì bị áp lực; nhưng không gặp Hỏa Tinh và Linh Tinh, tính chất tạm coi là tốt, bởi vì không quá cương mà cũng không quá nhu, chủ về mệnh tạo tuy mạnh về ham muốn vật chất, nhưng tính cứng rắn và hình khắc vẫn được hóa thành nghị lực để tiến thủ! Dù bị áp lực, nhưng nội tâm vẫn không sao, có thể nhẫn nhịn chịu đựng được.

Đến đại hạn Tân Hợi, cung phúc đức là "Thiên Đồng, Cự Môn", mà Cự Môn Hóa Lộc, lại hội Lộc Tồn của cung Dậu, còn mượn "Thái Dương, Thiên Lương" của cung Mão đến hội, mà Thái Dương Hóa Quyền. Cho nên lúc này tuy xung động vì hoàn cảnh khó khăn nhất thời, nghỉ học, đi làm kiếm tiền để theo đuổi tình yêu, nhưng cuối cùng tỉnh ngộ, vẫn hoàn thành được việc học.

Giả dụ cung phúc đức của nguyên cục quá cương hay quá nhu, thì đại khái rất khó có kết quả như vậy. Bởi vì khi quá cương sẽ rơi vào tình trạng biết mình sai lầm nhưng không chịu nhận sai lầm; quá nhu thì biết mình sai mà cứ chần chừ, lần lữa.

Do đó có thể biết, khi luận đoán 12 cung, cần phải xem trọng bản chất của 12 cung nguyên cục, không thể chỉ dựa vào tinh hệ ở cung hạn của lưu niên hoặc đại hạn mà luận đoán.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái