Bài tổng quan
Cung phi động, lưu diệu và nguyên tắc luận đại hạn, lưu niên
Người có cách cục tốt chưa chắc năm nào cũng tốt, người cách cục xấu chưa chắc năm nào cũng xấu, cho nên mười hai cung phải xoay theo từng đại hạn, cung Phúc Đức của thiên bàn có khi thành cung Mệnh của mười năm. Mỗi đại hạn lại đem theo cả một bộ lưu diệu: Lưu Lộc, Lưu Dương, Lưu Đà, Lưu Khôi, Lưu Việt, Lưu Hóa Kị, rải khắp lá số. Đến lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật thì sao chồng lên sao, nhìn vào chỉ thấy chi chít, rối mắt không biết bắt đầu từ đâu. Giữa Kình Dương gốc và Kình Dương lưu, giữa Lộc Tồn nguyên cục và Lộc Tồn đại vận, ở mỗi tầng vận hạn thì sao nào đáng xét, sao nào có thể bỏ qua?
Cung phi động và tác dụng giao thoa của lưu diệu
Nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số, nếu chỉ quan sát các sao ở 12 cung của thiên bàn thì chỉ có thể luận đoán cách cục cơ bản của mệnh tạo (tức khuynh hướng tiên thiên).
Nhưng người có cách cục tốt, chưa chắc niên hạn nào cũng tốt; người có cách cục xấu, chưa chắc niên hạn nào cũng xấu do đó cần phải mang tinh bàn "phi động" ra để nghiên cứu tỉ mỉ, xem vận thế của mệnh tạo trong mỗi một niên hạn, đây mới là chỗ tinh hoa của Đẩu Số. Thuyết cung "phi động" người đầu tiên nói đến là Quan Vân Chủ Nhân trong Tử Vi Đẩu Số tuyên vi.
Đẩu Số giống với khoa Tử Bình, cứ 10 năm được coi là một đại hạn. Đại hạn khởi đầu từ cung mệnh, dương nam âm nữ đi thuận, âm nam dương nữ đi ngược, đếm đến cung vị nào thì đó là cung mệnh đại hạn 10 năm, rồi cũng khởi đầu từ cung mệnh của đại hạn đếm theo chiều nghịch (của chiều kim đồng hồ) bày lần lượt 11 cung còn lại: cung huynh đệ, cung phu thê… không cần chú ý tên gọi cung vị gốc của thiên bàn.

Tinh bàn trên giả thiết mệnh tạo là dương nam, thuộc mộc tam cục. Như trong hình, lúc 23 đến 32 tuổi, cung mệnh của đại hạn ở cung Mậu Thìn (tức cung phúc đức của thiên bàn), thế là từ cung Mậu Thìn bày bố theo chiều nghịch, cung Đinh Mão là cung huynh đệ của đại hạn, cung Bính Dần là cung phu thê của đại hạn… cho đến cung Kỉ Tị là cung phụ mẫu của đại hạn. Bạn đọc có thể căn cứ tính chất của tổ hợp sao ở các cung để luận đoán, thì có thể biết mệnh tạo trong đại hạn từ 23 tuổi đến 32 tuổi sẽ gặp các tình huống cát hung thế nào.
Nhưng tinh bàn gốc đã bài bố chỉ là thiên bàn hoặc địa bàn cố định bất động, lúc muốn luận đoán 12 cung của đại hạn, còn phải thêm vào các "Lưu diệu" thuộc đại hạn đó. Lưu diệu được dùng trong phái Trung Châu Vương Đình Chi có mấy loại như dưới đây:
(1) Lưu diệu dựa vào thiên can của cung mệnh (đại hạn) để an:
Lưu Hóa Lộc, Lưu Hóa Quyền, Lưu Hóa Khoa, Lưu Hóa Kị, Lưu Lộc (Lộc Tồn), Lưu Dương (Kình Dương), Lưu Đà (Đà La), Lưu Khôi (Thiên Khôi), Lưu Việt (Thiên Việt), Lưu Xương (Văn Xương), Lưu Khúc (Văn Khúc).
(2) Lưu diệu dựa vào địa chi của cung mệnh (đại hạn) để an:
Lưu Mã (Thiên Mã).
Như ví dụ trên, cung mệnh của đại hạn từ 23 đến 32 tuổi là ở cung Mậu Thìn, cho nên "Mậu" là can của cung mệnh của đại hạn, vì vậy trong đại hạn này Lưu Hóa Lộc là Tham Lang, Lưu Hóa Quyền là Thái Âm, Lưu Hóa Khoa là Thái Dương, Lưu Hóa Kị là Thiên Cơ, Lưu Lộc ở cung Tị, Lưu Dương ở cung Ngọ, Lưu Đà ở… Lại vì "Thìn" là chi của cung mệnh của đại hạn, cho nên Lưu Mã ở cung Dần.
Người mới nghiên cứu Đẩu Số, tốt nhất là nên điền các lưu diệu của đại hạn vào tinh bàn mới (nhân bàn), còn đối với người thuộc "phương pháp an sao", thì các lưu diệu ở đâu chỉ nhìn một cái là biết liền, không cần điền vào tinh bàn. Nhất là lúc luận đoán "lưu niên", "lưu nguyệt", "lưu nhật", giả dụ như điền hết các lưu diệu vào thì cả tinh bàn chi chít toàn sao, sẽ làm rối mắt, đồng thời sẽ ảnh hưởng đến sự suy nghĩ tính toán. Do đó thuộc lòng "phương pháp an sao" là rất quan trọng. Nếu không, bạn nên lập nhiều tinh bàn - tức nhân bàn - của từng thứ.
Nguyên tắc khi luận đại hạn, lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật
Khi lưu diệu đã bay vào mười hai cung của đại hạn, câu hỏi là sao gốc và sao lưu, bên nào nắm quyền nói trước.
Lúc luận đoán đại hạn, lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật, có một số nguyên tắc cần phải biết, như sau:
(1) Phàm có các lưu diệu thì lấy lưu diệu làm chủ, các sao ở mệnh bàn gốc (thiên bàn) không xung thì không sinh ra tác dụng. Như trong hình dưới đây, tinh bàn gốc có Lộc Tồn ở cung Tị, Lưu Lộc ở cung Thân, cả hai chẳng ở cung vị tam phương tứ chính, Kình Dương gốc ở cung Ngọ, Lưu Dương ở cung Dậu; Đà La gốc ở cung Thìn, Lưu Đà ở cung Mùi, cũng không có quan hệ hội hợp với các sao ở tam phương tứ chính. Cho nên khi luận đoán, Kình Dương, Đà La, Lộc Tồn của tinh bàn gốc tuy có ảnh hưởng đối với 12 cung của đại hạn, nhưng tác dụng không lớn; trái lại, Lưu Lộc, Lưu Dương, Lưu Đà sẽ có tác dụng khá lớn.

(2) Nếu các sao trong tinh bàn gốc xung hội với lưu diệu ở tam phương tứ chính, thì sức mạnh tăng thêm, hai bên sẽ phát huy tác dụng. Như trong hình dưới đây, Lộc Tồn ở cung Tị, Lưu Lộc ở cung Hợi, hai bên đối xung; Kình Dương ở cung Ngọ, Lưu Dương ở cung Tí; Đà La ở cung Thìn, Lưu Đà ở Tuất, cũng hai bên đối xung, làm cho tổ hợp các sao mạnh thêm nhiều. Do đó khi luận đoán 12 cung của đại hạn, toàn bộ 6 sao đều có tác dụng.

(3) Các sao xung động với lưu diệu thì lấy trường hợp đồng cung là mạnh nhất, trường hợp tương xung ở đối cung là kế đó; trường hợp hội chiếu ở cung tam hợp là cuối cùng.
(4) Khi luận đoán đại hạn, cần lưu ý quan hệ xung hội của tinh bàn gốc với lưu diệu của đại hạn.
Lúc luận đoán lưu niên, cần lưu ý quan hệ xung hội giữa lưu diệu của đại hạn với lưu diệu của lưu niên; các sao tương đồng ở tinh bàn gốc có ảnh hưởng rất nhỏ, trừ phi có hai lưu diệu đồng thời xung động, nếu không, về căn bản không cần lưu ý. Như trong hình dưới đây, lúc luận đoán lưu niên, Lộc Tồn của tinh bàn gốc, không có Lộc Tồn của đại hạn ở tam phương tứ chính hội chiếu, cũng không có Lộc Tồn của lưu niên hội chiếu, nên khi luận đoán lưu niên, có thể không cần lưu ý thêm; Kình Dương và Đà La cũng vậy. Nhưng Kình Dương, Đà La, Lộc Tồn của đại vận thì có Kình Dương, Đà La, Lộc Tồn của lưu niên ở đối cung của chúng xung hội, sức mạnh của hai bên mạnh thêm. Do đó khi luận đoán lưu niên, chỉ cần xem xét Kình Dương, Đà La và Lộc Tồn của đại vận và lưu niên.

Nhưng như tình huống trong hình dưới đây, Lộc Tồn ở cung Tị, tuy không hội chiếu với Lộc Tồn của đại hạn ở cung Tí, nhưng lại xung hội với Lộc Tồn của lưu niên ở cung Hợi, do đó vẫn có thể phát sinh sức mạnh.

Có điều, giả dụ Lộc Tồn của đại hạn ở cung Dậu, như vậy lại tương hội với Lộc Tồn ở cung Tị, thì sao Lộc Tồn này do đồng thời có Lưu Lộc của đại hạn và Lưu Lộc của lưu niên ở tam phương xung hội, nên sức mạnh của nó tuyệt đối không được xem thường.
Lúc luận đoán lưu nguyệt, chỉ xem trọng lưu diệu của lưu nguyệt và lưu diệu của lưu niên. Chỉ khi nào lưu diệu của đại hạn cũng ở trong tình huống bị xung động mới có sức mạnh; các sao tương đồng trong tinh bàn gốc (thiên bàn), sức ảnh hưởng rất nhỏ, có thể không cần lưu ý thêm.
Lúc luận đoán lưu nhật, sức mạnh lần lượt giảm thêm, thông thường, lưu diệu của đại hạn và các sao tương đồng của tinh bàn gốc có thể không cần lưu ý tới.
Các nguyên tắc kể trên, lúc luận đoán đại hạn, lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật rất là quan trọng, không được xem thường, nếu không sẽ rối mắt, mà không cách nào tiến hành luận đoán, nhất là lúc luận đoán lưu nhật, trong tinh bàn đầy dẫy lưu diệu, hơn nữa, nhất định tình trạng cát hung sẽ lẫn lộn, nếu không biết nguyên tắc cái nào lấy cái nào bỏ thì sẽ không biết định tính chất cát hung của các sao hội hợp như thế nào.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
