Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Khoa Danh Hội Lộc, Cực Hướng Li Minh Và Văn Lương Chấn Kỉ Cách

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái19/09/202611 phút đọc1 lượt đọc
Khoa Danh Hội Lộc, Cực Hướng Li Minh Và Văn Lương Chấn Kỉ Cách

Người có Thiên Lương và Văn Khúc cùng thủ mệnh, thời xưa là bậc giám sát ngự sử, một tờ sớ đàn hặc đủ làm triều đình nghiêm lại. Cổ nhân trọng quý hơn trọng phú nên tôn đó là cách chấn hưng kỉ cương. Đặt vào thời nay, cũng con người ấy lại dễ chuốc oán thù vì hay vạch tội người khác. Người có Hóa Khoa gặp lộc, xưa áo mão chốn triều đình, nay thường chỉ là người đi dạy học. Người có Lộc và Quyền cùng ngồi một cung, hợp nhất với công việc kế toán. Còn Tử Vi ở cung Ngọ, ngôi sáng nhất của đế tinh, nếu không gặp sao lộc và các sao phụ tá thì chỉ là ông vua đơn độc nơi hoang dã. Điều gì khiến những danh hiệu rực rỡ một thời co lại thành những nghề nghiệp rất đời thường?


Khoa danh hội Lộc cách

"Khoa danh hội Lộc cách" tức là Hóa Khoa thủ cung mệnh, tam phương được tương hội Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc (Xem hình 99, 100). Cổ ca nói:

科名在命数中强,
卓越才华远近传,
一跃连登三级浪,
衣冠济楚侍经廷.

Phiên âm:
Khoa danh tại mệnh số trung cường,
Trác việt tài hoa viễn cận truyền,
Nhất dược liên đăng tam cấp lãng,
Y quan tế sở thị kinh đình.

Dịch nghĩa:
Khoa cử thanh danh tại mệnh số,
Tài hoa trác việt xa gần nghe,
Cá nhảy Vũ Môn vượt ba cấp,
Áo mão vinh thân chốn triều đình.

Cách cục này cũng lấy Hóa Khoa làm trọng điểm, cho nên cần phải Hóa Khoa thủ cung mệnh mới hợp cách. Theo quan niệm của cổ nhân, trước tiên luận về khoa cử công danh sau đó mới luận về lợi lộc, như vậy mới đúng với tư tưởng của mô thức này.

Trong xã hội hiện đại, Vương Đình Chi cho rằng cần phải mang cách cục này sửa đổi lại, đó là lấy Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc thủ cung mệnh, gặp Hóa Khoa là hợp cách. Vì vậy tên gọi của cách cục phải là "Lộc hội khoa danh cách". Bởi vì xã hội hiện đại xem trọng lợi lộc, có tiền tài rồi mới có thanh danh, vậy mới là thượng cách.

Hình 99: ví dụ 1, sinh năm Giáp, mệnh ở Thân có Vũ Khúc Hóa Khoa, Thiên Tướng; tài bạch ở Thìn có Thiên Phủ, Liêm Trinh Hóa Lộc; thiên di ở Dần có Phá Quân Hóa Quyền, Lộc Tồn; có tiếng tăm trong giới kinh tế tài chính
H. 99
Hình 100: ví dụ 2, sinh năm Ất, mệnh ở Hợi có Tử Vi Hóa Khoa, Thất Sát; sự nghiệp ở Mão có Liêm Trinh, Phá Quân, Lộc Tồn; làm nghề gì cũng đều nổi tiếng
H. 100

Nhưng cũng phải xem chính diệu nào Hóa Lộc. Nếu là sao mang tính hiếu động, trôi nổi như "Thiên Cơ, Cự Môn", có lẽ không nên Hóa Lộc. Còn nếu Thiên Lương Hóa Lộc thì cách cục này phải có khuyết điểm.

Nói về sao nào Hóa Khoa, nếu Vũ Khúc, Thái Âm hoặc Thiên Phủ Hóa Khoa, thì chủ về có tiếng tăm trong giới làm ăn kinh doanh; nếu Văn Xương hay Văn Khúc Hóa Khoa thì chủ về học hành thành tài, là người nho nhã; nếu Tử Vi Hóa Khoa thì bất kể là người theo ngành nghề nào cũng đều có thể hơn mọi người, rất có thanh danh; nếu Thiên Cơ Hóa Khoa thì người này nên phát triển trong giới công nghiệp hoặc giới thương nghiệp.

Vương Đình Chi cho rằng, để thích hợp với bối cảnh xã hội hiện đại, người nghiên cứu Đẩu Số không nên câu nệ các cách cục của cổ nhân. Như cách cục "Khoa danh hội Lộc", ngày nay chỉ là người đi dạy học mà thôi.

Quyền Lộc tuần phùng cách

Danh đi với lộc là một lối; quyền đi với lộc là lối thứ hai, và cũng chịu chung một nhược điểm.

"Quyền Lộc tuần phùng cách" tức là Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn và Hóa Quyền cùng thủ cung mệnh (Xem hình 101, 102). Cổ ca nói:

命逢权禄实堪夸,
千载功名富贵家,
单见也应身富厚,
平生稳步好生涯.

Phiên âm:
Mệnh phùng Quyền Lộc thực kham khoa,
Thiên tải công danh phú quý gia,
Đơn kiến dã ứng thân phú hậu,
Bình sinh ổn bộ hảo sinh nhai.

Dịch nghĩa:
Mệnh gặp Quyền Lộc thực quá hay,
Công danh phú quý ngàn năm hiếm,
Gặp một sao thôi đã phúc dầy,
Bình sinh vững bước sống tốt thôi.

Cách cục này cũng thuộc mệnh cục "Tam Hóa tinh", cùng loại với "Giáp đệ đăng dung cách", "Khoa danh hội Lộc cách" đã giới thiệu ở trước.

Khuyết điểm của cách cục loại này là hoàn toàn xem thường tính chất của chính diệu thủ cung, mà chỉ xem trọng Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, cho nên khó tránh có phần võ đoán.

Vả lại, trong ba cách cục, khuyết điểm nhiều nhất là cách cục "Quyền Lộc tuần phùng". Bởi vì hai sao hóa cát tụ tập trong một cung, các cung còn lại khó tránh giảm sắc, vì vậy toàn cục dễ mất quân bình, do đó không thể coi là cách cục rất tốt được.

Hình 101: ví dụ 1, người sinh năm Kỉ, mệnh ở Sửu có Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền; gặp sát tinh là hư danh
H. 101
Hình 102: ví dụ 2, người sinh năm Canh, mệnh ở Thân có Vũ Khúc Hóa Quyền, Thiên Tướng, Lộc Tồn; thích hợp làm công việc kế toán
H. 102

Cổ nhân tuy có thuyết "Quyền Lộc tuần phùng, tài quan song mĩ", nhưng lại chẳng nói Hóa Lộc và Hóa Quyền tụ tập trong một cung, mà chỉ nói hội hợp Lộc Quyền ở tam phương tứ chính.

Cách cục này cũng có một điều kiện, tức là khi Quyền Lộc cùng thủ cung mệnh phải không gặp sát diệu mới quý.

Nếu gặp các sát tinh Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, cổ nhân cho rằng chỉ chủ về "hư danh", tức là hữu danh vô thực, càng khó có thể nói "Thiên tải công danh phú quý gia".

Theo kinh nghiệm của Vương Đình Chi, người có Lộc Quyền thủ mệnh thích hợp làm công việc kế toán, nhất là trường hợp Thiên Cơ Hóa Lộc, Vũ Khúc Hóa Quyền.

Cực hướng Li minh cách

Rời các hóa diệu, mạch cách cục trở về với chính diệu, và trước hết là đế tinh ngồi ở ngôi sáng nhất.

Cách cục "Cực hướng Li minh" là Tử Vi thủ mệnh ở cung Ngọ, không gặp tứ sát, các sao hình, kị đồng cung (Xem hình 103).

Cổ ca nói:

乘骢司谏肃威风,
气象堂堂立殿中,
几转王庭分内事,
终身富贵位王公.

Phiên âm:
Thừa thông ti gián túc uy phong,
Khí tượng đường đường lập điện trung,
Kỉ chuyển vương đình phân nội sự,
Chung thân phú quý vị vương công.

Dịch nghĩa:
Cưỡi ngựa can ngăn thật oai phong,
Khí thế đường đường giữa điện rồng,
Vương đình mấy phen tâu phân xử,
Suốt đời phú quý vị vương công.

Trong Đẩu Số, có vài sao rất ưa cư cung Ngọ, đó là Tử Vi, Thái Dương, Thiên Lương.

Trong số đó chỉ có Tử Vi cư Ngọ là ít khuyết điểm, Thái Dương cư Ngọ thì tệ ở chỗ quá lộ tài năng, Thiên Lương cư Ngọ thì tệ ở chỗ nhìn sự việc quá rõ; vả lại Tử Vi là đế tinh, cho nên cổ nhân khi đoán mệnh rất xem trọng Tử Vi tọa Ngọ.

Phàm Tử Vi ở cung Ngọ, Thiên Phủ ắt sẽ ở cung Tuất, Thiên Tướng ắt sẽ ở cung Dần, tam phương Dần, Ngọ, Tuất đều cát lợi. Hơn nữa còn là cách cục "Phủ Tướng triều viên", do đó về phương diện kết cấu đã chiếm nhiều tiện nghị. Cho nên cổ nhân nói: "Tử Vi cư Tí Ngọ, Khoa Quyền Lộc chiếu thì rất đặc biệt."; "Tử Vi cư Ngọ, không có Kình Dương, Đà La, người sinh năm Giáp Đinh Kỉ làm đến bậc công khanh."

Hình 103: lá số người sinh năm Kỉ, mệnh ở Ngọ có Tử Vi, Lộc Tồn; tài bạch ở Dần có Vũ Khúc Hóa Lộc, Thiên Tướng; sự nghiệp ở Tuất có Liêm Trinh, Thiên Phủ
H. 103

Nói người sinh năm Giáp Đinh Kỉ, thực ra có ý nói Tử Vi hội sao lộc. Bởi vì năm Giáp Liêm Trinh Hóa Lộc ở cung Tuất, Lộc Tồn lại ở cung Dần; năm Đinh và năm Kỉ thì cung Ngọ có Lộc Tồn, và Tử Vi đồng cư.

Cho nên đối với cách cục "Cực hướng Li minh cách", Vương Đình Chi đề nghị bổ sung một điểm, đó là lấy trường hợp "Tử Vi gặp sao lộc ở tam phương tứ chính" làm điều kiện, chứ không đơn thuần chỉ có điều kiện không gặp các sao sát, kị đồng cung.

Cung sự nghiệp cư Ngọ, nếu hoàn toàn không gặp Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, lại không gặp sao lộc, thì chỉ là "tại dã cô quân" (vua đơn độc ở nơi hoang dã), chẳng thấy quý khí của nó ở đâu.

Thiên Phủ triều viên cách

Vua đã ngồi ở Ngọ thì vị đại thần cũng có chỗ đứng của mình; cách cục kế tiếp chỉ là nhìn cùng tinh bàn ấy từ phía bề tôi.

"Thiên Phủ triều viên cách" tức là Thiên Phủ thủ mệnh ở cung Tuất, không có các sao sát, kị đồng cung (Xem hình 104). Cổ ca nói:

乾为君象府为臣,
得地来朝福自新,
辅弼忠臣身报国,
腰金衣紫拜重瞳.

Phiên âm:
Kiền vi quân tượng phủ vi thần,
Đắc địa lai triều phúc tự tân,
Phụ Bật trung thần thân báo quốc,
Yêu kim y tử bái trọng đồng.

Dịch nghĩa:
Kiền Là tượng vua Phủ là thần,
Đắc địa đến chầu phúc tự sinh,
Phụ Bật trung thần thân báo quốc,
Đai vàng áo tía người bái trọng.

Cách cục này, thực ra là phát triển từ "Cực hướng Li minh cách", bởi vì lúc Tử Vi ở cung Ngọ, "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ắt sẽ ở cung Tuất. Người định ra cách cục này có ý lấy Tử Vi là đế cung, Thiên Phủ ở cung Tuất giống như một vị đại thần, đứng chầu (triều củng) đế tọa.

Cho nên trong ca quyết mới có thuyết "Kiền Là tượng vua Phủ là thần"; "Phụ Bật trung thần thân báo quốc".

Hình 104: lá số người sinh năm Giáp, mệnh ở Tuất có Liêm Trinh Hóa Lộc, Thiên Phủ; tài bạch ở Ngọ có Tử Vi; sự nghiệp ở Dần có Vũ Khúc Hóa Khoa, Thiên Tướng, Lộc Tồn
H. 104

Cách cục này, thực ra cũng có thể gọi là "Tử Tướng triều viên", bởi vì cung mệnh ở Tuất, Tử Vi ở cung Ngọ, Thiên Tướng ở cung Dần, hai cung Dần và Ngọ chầu về cung Tuất. Cho nên cổ nhân cho rằng "Thiên Phủ đến cung Tuất, có sao vây chiếu thì đai vàng áo tía."

Từ góc độ lập ý để định ra cách cục mà xét, hiển nhiên "Thiên Phủ triều viên" chỉ có thể thành kẻ phò tá, nói "đai vàng áo tía" chỉ là vinh dự của đại thần, rốt cục cũng đâu phải là vua, là người lãnh đạo.

Nói theo xã hội hiện đại, người có "Liêm Trinh, Thiên Phủ" cùng thủ mệnh ở cung Tuất, chỉ là người quản lí tài chính rất tốt. Nếu sinh năm Giáp, Liêm Trinh Hóa Lộc, lại tương hội Lộc Tồn ở cung Dần, thì người này cũng có thể lập nên sự nghiệp và trở thành giàu có, nhưng lại thiếu tính khai sáng, chỉ có thể phát triển bằng cách thủ thành. Nếu Thiên Mã ở cung Dần, thì người này lợi về làm ăn kinh doanh ở nơi khác.

Văn Lương chấn kỉ cách

Bên cạnh vua và đại thần, triều đình xưa còn cần một người giữ kỉ cương; Đẩu Số trao vai ấy cho Thiên Lương khi có sao văn đi cùng.

"Văn Lương chấn kỉ cách" tức là Văn Khúc gặp Thiên Lương thủ mệnh ở cung vượng (Xem hình 105). Cổ ca nói:

文曲耿直遇天梁,
位列黄门乌府行,
纲纪朝中功业见,
逼人清气满乾坤.

Phiên âm:
Văn Khúc cảnh trực ngộ Thiên Lương,
Vị liệt hoàng môn ô phủ hàng,
Cương kỉ triều trung công nghiệp kiến,
Bức nhân thanh khí mãn kiền khôn.

Dịch nghĩa:
Văn Khúc mà gặp thẳng Thiên Lương,
Địa vị liệt vào hàng môn phủ,
triều đình công nghiệp nên kỉ cương,
Thanh khí bức người khắp kiền khôn.

Thiên Lương nhập miếu ở sáu cung Tí, Ngọ, Thìn, Tuất, Dần, Mão; thừa vượng ở hai cung Sửu Mùi; Văn Khúc nhập miếu ở ba cung Tị, Dậu, Sửu, thừa vượng ở ba cung Dần Mão Mùi; cho nên cả hai sao đều thuộc cung miếu vượng, là ba cung Sửu, Mão, Mùi.

Về vấn đề miếu hãm, Vương Đình Chi nói có nhiều chỗ mâu thuẫn với các bảng tra miếu hãm của ông mà chúng tôi đã trình bày trong tiết "Các sao miếu hãm" ở chương 1.

Thiên Lương ở cung Sửu, Mùi là độc tọa, đối cung là Thiên Cơ. Thiên Lương ở cung Mão ắt có Thái Dương đồng độ. So sánh hai kết cấu này thì trường hợp "Thái Dương, Thiên Lương" đồng độ là ưu. Lúc Thiên Lương và Thiên Cơ chiếu lẫn nhau, tính cách của Thiên Lương sẽ hơi cô độc và hình khắc.

Cổ quyết nói: "Văn Khúc và Thiên Lương đồng cung, chức vị đến Đài Cương." Đây là căn cứ của "Văn Lương chấn kỉ cách". Người đời Minh chú rằng: "Hai sao cùng an mệnh ở cung Ngọ là thượng cách, cung Dần là kế đó." Nhưng không phải vậy, bởi vì Văn Khúc ở cung Ngọ thì lạc hãm, ở cung Dần chỉ thuộc cung nhàn; tuy Thiên Lương nhập miếu cũng không cách nào nhờ Văn Khúc đồng cung mà tăng thêm sức mạnh.

Hình 105: lá số người sinh giờ Dậu, mệnh ở Sửu có Thiên Lương, Văn Khúc; thiên di ở Mùi có Thiên Cơ
H. 105

Thiên Lương ở thời cổ đại là giám sát ngự sử (Đài Cương), thêm vào đó, gặp Văn Khúc không những làm tăng về phong thái văn nhã, mà còn làm mạnh thêm lực tấu sớ đàn hặc, cho nên cách này gọi là "Văn Lương chấn kỉ", "chấn kỉ" là chấn hưng kỉ cương.

Cổ nhân trọng quý hơn trọng phú, cho nên cách này có thể thành lập. Nhưng nếu ở ngày nay thì người có cách cục này thủ mệnh chưa chắc thành cách cục tốt, vì hay vạch tội người khác, dễ chuốc oán thù.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái