Bài tổng quan
Cách Cục Chính Là Tinh Hệ: Vũ Tham Đồng Hành Đến Văn Quế Văn Hoa
Cổ ca quả quyết người có Vũ Khúc, Tham Lang đồng cung ở Sửu, Mùi ắt làm quan nắm đại quyền, văn thì hiển đạt, võ thì trấn giữ biên cương. Vậy mà Vương Đình Chi gặp hai người đúng mệnh cách ấy: một bác sĩ ngoại khoa quanh năm cầm dao kéo, một giáo sư vật lí suốt ngày bên dụng cụ máy móc. Không ai làm quan, nhưng sát khí và chất võ nghiệp của tinh hệ vẫn hiện ra đúng chỗ. Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung từng được ca tụng là danh tuyên trước điện ngọc, trong khi mọi người sinh tháng tư và tháng mười đều có cách này. Tam kì gia hội tưởng toàn mĩ, lại là trường hợp phức tạp nhất của Đẩu Số. Nếu bài ca không còn đúng với thời nay, điều gì trong một cách cục vẫn nguyên giá trị?
Cách cục chính là tinh hệ
"Cách cục" là một vấn đề lớn đối với người nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.
Thực ra Tử Vi Đẩu Số không giống như "Tử Bình" dùng "tứ trụ" để luận đoán lộc mệnh. "Tử Bình" vận dụng nguyên lí ngũ hành sinh khắc chế hóa để luận đoán, tính linh hoạt khá lớn, hơn nữa có thể dựa vào "bát tự" để nhìn toàn bộ khí cơ của mệnh tạo. Phàm khí cơ trôi chảy, thì người đó cuộc đời gặp nhiều điều thuận hòa, hễ khí cơ tắc nghẽn, trở ngại thì cảnh ngộ của người đó nhiều trắc trở, khó khăn. Nếu như tứ trụ trở thành "cách" thì không phú cũng quý.
Nhưng các tổ hợp tinh hệ của Đẩu Số thì lại có tính giới hạn cục bộ, lấy tổ hợp 14 chính diệu để nói, chỉ có 144 trình thức, nhưng thêm vào các sao phụ, tá, và hóa, thì có thể có hơn 17.000.000 trình thức biến hóa. Vừa quá đơn giản, vừa quá phức tạp, do đó định cách cục là điều không dễ chút nào.
Tuy vậy, Tử Vi Đẩu Số toàn thư vẫn có ghi chép một số "cách cục", đây có lẽ do người đời Minh đặt ra. Ví dụ như "Vũ Tham đồng hành", "Văn tinh củng mệnh", v.v... Những cách cục này, trong xã hội đời Minh đương nhiên có một ý nghĩa nhất định, nhưng cổ nhân luận mệnh số chỉ trọng ca quyết, mỗi một mệnh cục đều phụ kèm một bài ca, giải thích rất sơ lược, ngày nay người nghiên cứu Đẩu Số nếu cứ dựa vào những ca quyết này thì sẽ rất cứng ngắc. Nhất là khi luận mệnh cho người khác càng rất dễ sai, hoặc không nhìn ra giới hạn, sẽ đoán không ra mệnh vận của người ấy. Do đó cần phải căn cứ vào bối cảnh xã hội hiện đại, để giải thích các "cách cục" này.
Phân tích 51 cách cục thường gặp
Tiết này giới thiệu 51 cách cục của Đẩu Số, và thêm vào phần bình luận, mục đích chủ yếu chỉ có một điều, đó là làm cho bạn đọc thấy được sự trọng yếu của "tinh hệ". Theo Vương Đình Chi, muốn luận đoán Đẩu Số chuẩn xác, nhất thiết không được phân tích rời rạc từng sao, tức là đừng luận đoán tính chất của 155 sao một cách máy móc. Nếu không, khi vận dụng thực tế sẽ cảm thấy có muôn vàn ngõ rẽ, mất đi cái nhìn toàn cục.
Trong "Thập Bát Phi Tinh" thời kì đầu, người xưa luận đoán lộc mệnh rất võ đoán, sao nào nhập vào cung nào cứ y như vậy mà đoán cát hung, về sau mới phát triển thêm, chú ý tới "tam phương tứ chính", sau đó mới phát triển khái niệm "tinh hệ". Tử Vi Đẩu Số chiếu theo truyền thống này, từ đó bắt đầu lưu ý đến tổ hợp "tinh hệ". Có nhiều cách cục, tức là từ tính chất của "tinh hệ" rồi phát triển thành. Ví dụ như "Vũ Tham đồng hành", "Thất Sát triều đẩu", "Tam hợp Hỏa Tham", v. v..., toàn là tính chất của tổ hợp tinh hệ cơ bản.
Nhưng hậu nhân lại có khuynh hướng phát triển không lành mạnh, đó chính là xem trọng cách cục một cách quá đáng, mà bỏ sót một điều, thực ra cách cục chính là tinh hệ. Vì vậy, cuối đời Minh mới thành lập nhiều "ngụy cách", đem nhiều ý tứ tạp nhạp vào cách cục tinh hệ, biến thành rồng rắn lẫn lộn.
Chương này thảo luận về cách cục, Vương Đình Chi căn cứ vào bối cảnh xã hội hiện đại để gạn lọc và chỉ ra những "ngụy cách", để bạn đọc biết được ý nghĩa thực sự của cách cục, mà không suy diễn mơ hồ, khi luận đoán không còn câu nệ vào tên gọi của cách cục.
Nhiều người thích nghiên cứu Đẩu Số, nhưng các sách hiện có trên thị trường, thông thường có khuyết điểm là thiếu thực tế, sao chép của người đi trước quá nhiều, và thường thần bí hóa khoa Đẩu Số. Trong thực tế, muốn nghiên cứu Đẩu Số chẳng khó, chỉ cần nhận thức được một số kết cấu chủ yếu của tinh hệ, thì đã có thể luận đoán khá chuẩn xác.
Cái khó của người mới nghiên cứu Đẩu Số là, trong các sách thông thường chỉ đề cập tính chất của các sao ở cung mệnh và cung thân mà ít nhắc tới các cung khác. Đối với tính chất cát hung ở các cung như tử nữ, phu thê, tài bạch, sự nghiệp, v.v... chỉ nói vài lời vắn tắt, do đó khi luận đoán cảm thấy nghi hoặc. Về phương diện này, chúng tôi có vẻ như cũng có cùng khuyết điểm. Nhưng đó là vì, khi bàn về tính chất của tinh hệ, chúng tôi cung cấp cho bạn đọc một tiêu điểm, thoạt nhìn giống như chỉ nói về trường hợp ở cung mệnh (hay cung thân), thực ra những tính chất này đều có thể vận dụng ở 12 cung.
Ví dụ như "Tử Vi, Tham Lang" ở cung Dậu, nếu cung Dậu là cung mệnh, bạn đọc có thể lưu ý xem có hội hợp lục cát tinh, Lộc Tồn, Thiên Mã hay không? Nếu có, thì người đó có thể có phong thái phong lưu; nếu không, thì có khả năng là dâm tà. Nếu cung Dậu là cung phụ mẫu, thì cha có khả năng nhiều vợ; nếu cung Dậu là cung huynh đệ, thì chủ về anh cả hoặc chị cả lập gia đình, hôn nhân của anh chị em chưa chắc được như ý; nếu cung Dậu là cung tử nữ, gặp cát thì con cái có triển vọng, gặp hung thì có khoảng cách giữa hai đời.
Ở các cung đều căn cứ tính chất cơ bản của tinh hệ "Tử Vi, Tham Lang" mà luận đoán, một điều thông thì trăm vạn điều thông.
Cần chú ý thêm, "Tử Vi, Tham Lang" ắt sẽ hội hợp "Vũ Khúc, Phá Quân", và "Liêm Trinh, Thất Sát", cho nên phàm "Tử Vi, Tham Lang" giữ cung nào phần nhiều cũng chủ về biến động, nếu là cung tài bạch và cung sự nghiệp, bạn có thể luận đoán từ tính chất biến động. Đây là phương thức lấy "tinh hệ" để nghiên cứu Đẩu Số một cách mau lẹ.
Vũ Tham đồng hành cách
Mở đầu chuỗi cách cục là một tinh hệ quen thuộc của đất Sửu, Mùi, nơi tài tinh gặp sao của dục vọng.
"Vũ Tham đồng hành cách" tức hai sao "Tham Lang, Vũ Khúc" ở cung Sửu hoặc cung Mùi trên tinh bàn, mà cung vị này là cung mệnh.
Cổ ca nói:
武贪入庙贵堪言,
必主为官掌大权,
文作监司身显达,
武臣勇猛镇边疆Phiên âm:
Vũ Tham nhập miếu quý kham ngôn,
Tất chủ vi quan chưởng đại quyền,
Văn tác giám ti thân hiển đạt,
Vũ thần dũng mãnh trấn biên cương.Dịch nghĩa:
Vũ Tham nhập miếu quý vô cùng,
Ắt chủ làm quan nắm đại quyền,
Văn làm giám ti thân hiển đạt,
Võ thì dũng mãnh trấn biên cương.
Vũ Khúc là sao tiền tài, lại còn chủ về võ nghiệp, gặp Tham Lang đồng độ thì chủ về phú, còn có thể làm tăng thanh thế cho Vũ Khúc, vì vậy định là cách tốt.
Nhưng người thuộc mệnh cách "Vũ Tham đồng hành" trong xã hội hiện đại phần nhiều lại không làm quan. Vương Đình Chi có một người bạn là bác sĩ ngoại khoa, tức là, ông thuộc loại mệnh cách này. Bác sĩ ngoại khoa có sát khí lớn, người theo nghề này phải dùng dao kéo, tính chất cơ bản đương nhiên có chỗ tương đồng với thuyết của cổ nhân. Nhưng Vương Đình Chi còn gặp một mệnh tạo khác, người này là giáo sư vật lí, vật lí thực nghiệm thì phải dùng dụng cụ máy móc, cho nên Vương Đình Chi cũng cho rằng hợp với tính chất của mệnh cách này. Do đó có thể thấy, không nên câu nệ ca quyết của cổ nhân, mà chỉ nên lãnh hội tinh thần của nó.
Người thuộc cách cục này, cung mệnh rất nên gặp sao lộc. Người sinh năm Mậu, Tham Lang Hóa Lộc; người sinh năm Tân, gặp Lộc Tồn của cung Dậu, cho nên đều có thể thành "phú cách".
Còn rất ưa Tham Lang gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, nhưng lấy trường hợp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh ở đối cung (cung thiên di) làm thượng cách (xem hình 68, 69), bởi vì cung Sửu đối với Vũ Khúc là khá có lợi. Hỏa Linh lại không được đồng cung với Kình Dương, nếu không hai sát tinh này sẽ tự triệt tiêu sức mạnh của nhau.


Văn tinh củng mệnh cách
Từ sát khí của võ nghiệp, mạch cách cục chuyển sang ngòi bút: người xưa trọng khoa cử nên trọng sao văn.
"Văn tinh củng mệnh cách" tức sao văn ở cung mệnh hoặc cung thân, mà cung mệnh hoặc cung thân ở một trong ba cung Hợi, Tí, Sửu. Cổ ca nói:
文星拱命向南离,
凶煞应无会遇时,
翰墨纵横人敬重,
手攀丹桂上云梯.Phiên âm:
Văn tinh củng mệnh hướng nam li,
Hung sát ứng vô hội ngộ thời,
Hàn mặc túng hoành nhân kính trọng,
Thủ phan đan quế thướng vân thê.Dịch nghĩa:
Văn tinh củng mệnh hướng về nam,
Không nên hội ngộ hung sát diệu,
Bút mực tung hoành người kính trọng,
Tay vin cành quế bước thang mây.
Cổ nhân cho rằng Văn Xương thuộc kim, cho nên người có cung mệnh tọa các cung phương bắc Hợi, Tí, Sửu mà được Văn Xương thủ mệnh, tức kim thủy tương sinh, đại lợi về khoa cử tiếng tăm. Gọi là "hướng về nam", tức là "ngồi ở phương bắc đương nhiên nhìn về phương nam". Cùng một lí do, cổ nhân còn cho rằng Văn Xương bất lợi đối với những người sinh vào các năm hỏa (năm Dần, Ngọ, Tuất).
Nếu như người có cung mệnh ở phương bắc, mà hung sát hoàn toàn không hội chiếu cung mệnh, thì sẽ được hai điều, người này tinh thông chữ nghĩa, mà còn thi cử đại lợi.
Nhưng giả như Văn Xương Hóa Kị, thì đi thi ắt sẽ không đậu. Nếu gặp các sao ác Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp và Thiên Hình, thì chỉ thuộc "người có tay nghề khéo" mà thôi. Địa vị của giới thợ thuyền và giới văn sĩ trong xã hội cổ đại cách nhau rất xa.
Đối với tính chất lợi về thi cử của Văn Xương, Vương Đình Chi cho rằng chỉ có một cách cục "Dương Lương Xương Lộc" (Xem hình 70), cũng tức là thuyết "Thái Dương được sao lộc tụ tập thì tên truyền đứng đầu bảng" (太阳荫禄集,传胪第一名 Thái Dương ấm lộc tập, truyền lư đệ nhất danh), đây mới là cách cục lợi nhất cho thi cử, đồng thời thường thường có mang chút vận may trong đó.

Còn cách cục Văn Xương thủ mệnh không gặp sát tinh, tuy chủ về người này thông minh, học hành có thành tựu, kiến thức rộng, cường kí, nhưng ngày nay không còn dựa vào thi cử để có công danh như ngày xưa, không nhất định là đủ điều kiện để phát triển sự nghiệp.
Tả Hữu đồng cung cách
Sao văn giúp người đỗ đạt, còn hai phụ diệu này giúp người đứng gần ngai vàng; nhưng đứng gần chưa hẳn đã là ngồi lên.
"Tả Hữu đồng cung cách" tức hai phụ diệu Tả Phụ, Hữu Bật cùng tọa ở cung mệnh. Cổ ca nói:
命宫辅弼有根源,
天地清明万象鲜,
德业巍然人仰敬,
名宣金殿玉阶前.Phiên âm:
Mệnh cung Phụ Bật hữu căn nguyên,
Thiên địa thanh minh vạn tượng tiên,
Đức nghiệp nguy nhiên nhân ngưỡng kính,
Danh tuyên kim điện ngọc giai tiền.Dịch nghĩa:
Cung mệnh Phụ Bật là gốc rễ,
Trời đất sáng sủa vạn vật tươi,
Đức nghiệp lớn lao người kính ngưỡng,
Tên được tuyên truyền trước điện ngọc.
Cách cục này là dựa vào thuyết của người đời Nguyên, như sau: "Tả Phụ Hữu Bật, suốt đời nhiều phúc" (左辅右弼,终身福厚 Tả Phụ, Hữu Bật, chung thân phúc hậu); "Tả Hữu đồng cung, khoát áo lụa tía" (左右同宫,披罗衣紫 Tả Hữu đồng cung, phi la y tử). Bởi vì cổ nhân cho rằng Tả Phụ, Hữu Bật là phụ tá của hoàng đế, do đó đương nhiên tuyên danh ở điện vàng, thân đứng trước thềm ngọc.
Nhưng phàm người sinh tháng 4, Tả Phụ, Hữu Bật nhất định cùng ở cung Mùi; người sinh tháng 10, Tả Phụ, Hữu Bật nhất định cùng ở cung Sửu (Xem hình 71), như vậy là người sinh vào tháng tư, tháng 10 đều làm đại quan hết sao? Nếu vậy, chẳng phải là có quá nhiều người làm đại quan?
Thực ra thì không phải vậy, Tả Phụ, Hữu Bật tuy trung hậu, tinh thông chữ nghĩa, nhưng dựa vào tính chất phụ tá mà nói, bất quá chỉ là mạng thư kí trợ lí mà thôi. Bởi vì trong một cơ cấu, tổng giám đốc giống như vua, tính chất của Tả Phụ, Hữu Bật chỉ là trợ thủ cơ yếu.


Cổ nhân nói, "Tả Hữu đồng cung cách" sợ Hỏa Tinh và Hóa Kị ở tam phương xung phá, là phá cách. Đó là vì xã hội cổ đại vốn không có "thư kí trợ lí", ngày nay thì khác, đây giống như nhân viên trợ lí hay phụ tá. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là chính diệu.
Nếu chính diệu đồng cung với Liêm Trinh, thêm Kình Dương, lại gặp Hóa Kị, thì người này thậm chí có thể là kẻ lường gạt, người trong xã hội đen. (Xem hình 72)
Tam kì gia hội cách
Từ phụ diệu sang hóa diệu: ba sao hóa cát cùng vây về một cung, tưởng là toàn mĩ mà hóa ra phức tạp nhất.
"Tam kì gia hội cách" tức Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội hợp cung mệnh (Xem hình 73). Cổ ca nói:
三奇拱向紫微宫,
最喜人生命里逢,
燮理阴阳真宰相,
功名富贵不雷同.Phiên âm:
Tam kì củng hướng Tử Vi cung,
Tối hỉ nhân sinh mệnh lí phùng,
Tiếp lí âm dương chân tể tướng,
Công danh phú quý bất lôi đồng.Dịch nghĩa:
Ba kì vây hướng Tử Vi cung;
Mệnh lí đời người rất ưa gặp;
Điều hòa âm dương chân tể tướng;
Công danh phú quý ai sánh bằng.
Hóa Lộc thông thường chủ về lộc quan, Hóa Quyền thông thường chủ về quyền bính, Hóa Khoa thông thường chủ về danh vọng, vì vậy cung mệnh đương nhiên thích ba sao này hội hợp. Nhưng phải không gặp tứ sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La; hoặc không gặp Địa Không, Địa Kiếp; không gặp Thiên Hình Hóa Kị mới là cách cục tốt. Nếu gặp "tam hóa cát" hội hợp, lại còn gặp các sao sát, kị, thì phải nghiên cứu tỉ mỉ tính chất của hóa diệu, sau đó mới có thể luận đoán ưu điểm và khuyết điểm của mệnh tạo.
Cho nên trong Đẩu Số, không có trường hợp nào có tính chất phức tạp như cách cục này.
Cách cục này lấy trường hợp Hóa Lộc ở cung mệnh, hội hợp Hóa Quyền và Hóa Khoa ở tam phương là kết cấu tốt nhất. Không ưa Hóa Lộc và Hóa Quyền tập trung trong một cung, bởi vì hóa diệu quá tập trung, lực lượng ở các cung viên khác sẽ mỏng manh, dễ mất quân bình.
Hóa Quyền thủ mệnh, thông thường là chủ về nắm quyền bính, nhưng nếu gặp sát diệu, trái lại sẽ có chức mà không có quyền. Hóa Khoa thủ mệnh, thông thường là chủ về có danh tiếng một cách thực chất, nhưng nếu gặp sát diệu, trái lại sẽ chủ về người này chỉ trộm hư danh. Cho nên "Tam kì gia hội cách" chẳng dễ toàn mĩ.
Thời xưa xem trọng sĩ hoạn, coi thường nông thương, cho nên "Tam kì gia hội cách" đều vì lí do có thể ra làm quan mà được vinh hoa phú quý, còn trong xã hội hiện đại thì "Tam kì gia hội cách" cũng có thể là đầu não tập đoàn tài chính, không nhất định phải làm quan.

Phủ Tướng triều viên cách
Hóa diệu cho danh và quyền, còn muốn giữ được tước lộc thì phải nhìn vào cặp sao coi kho và giữ ấn.
"Phủ Tướng triều viên cách", tức hai sao Thiên Phủ, Thiên Tướng hội chiếu cung mệnh. Thêm vào đó, cung mệnh cư Ngọ, Thiên Phủ cư Tuất, Thiên Tướng cư Dần, là lấy kết cấu "Phủ Tướng triều viên" (Xem hình 74). Cổ ca nói:
命宫府相得俱逢,
无煞身当侍圣君,
富贵双全人景仰,
巍巍显业满乾坤Phiên âm:
Mệnh cung Phủ Tướng đắc câu phùng,
Vô sát thân đương thị thánh quân,
Phú quý song toàn nhân cảnh ngưỡng,
Nguy nguy hiển nghiệp mãn kiền khôn.Dịch nghĩa:
Cung mệnh gặp đủ sao Phủ Tướng,
Không có sát tinh thân hầu vua,
Phú quý song toàn người ngưỡng mộ,
Đức nghiệp lớn lao khắp đất trời.

Thiên Phủ là chủ tinh Nam Đẩu, cổ nhân gọi là "Ti mệnh thượng tướng" 司命上相 (thượng tướng cai quản mệnh lệnh), "Trấn quốc chi tinh" 镇国之星 (sao trấn quốc), chuyên giữ kho tiền; Thiên Tướng là "ấn tinh" 印星 (sao ấn), người xưa gọi là "ti tước chi tinh" 司爵之星 (sao cai quản chức tước); cho nên Thiên Tướng và Thiên Phủ trở thành một cặp "Thần cai quản tước lộc". Trong Đẩu Số có một số sao thường phải gộp lại thành cặp để xem, gọi là "sao đôi", "Phủ Tướng" là một cặp sao quan trọng trong số đó. Người xưa nói "phùng Phủ khán Tướng" 逢府看相 (gặp Thiên Phủ phải xem Thiên Tướng)", chính là ý này.
Thiên Phủ ở trong 12 cung vốn ít bị lạc hãm, nhưng Thiên Phủ của "Phủ Tướng triều viên" thì lại không ưa tọa ở bốn cung Tị, Hợi, Sửu, Mùi. Đây là do Thiên Tướng lạc hãm ở hai cung Mão, Dậu; cho nên Thiên Phủ ở cung Hợi hoặc cung Mùi liên đới hội hợp với cung Mão; Thiên Phủ ở cung Tị hoặc cung Sửu, liên đới hội hợp với cung Dậu; tính chất đều thành hơi thiếu lực.
Kết cấu tốt nhất của "Phủ Tướng triều viên" là Thiên Tướng cư cung Tí, Thiên Phủ ở cung Thân; Thiên Tướng cư cung Ngọ, Thiên Phủ ở cung Dần; Thiên Tướng cư cung Thân, Thiên Phủ ở cung Thìn.
Thiên Phủ lấy trường hợp không độc tọa làm cách cục tốt, chủ về người này tính tình công chính, nếu không sẽ dễ trở thành gian giảo. Có điều, gian giảo ở đây thực ra cũng chỉ là mạng làm ăn kinh doanh ngày nay mà thôi.
Văn quế Văn hoa cách
Khép vòng các cách cục của sự hiển đạt là đôi sao văn cùng tọa một cung, vẻ đẹp nho nhã mà thời nay phải nhìn lại.
"Văn quế văn hoa cách", tức an mệnh ở cung Sửu hoặc cung Mùi, mà trong cung mệnh có hai sao Văn Khúc và Văn Xương cùng tọa thủ (Xem hình 75). Cổ ca nói:
册书一道自天来,
唤起人间经济才,
命里荣华真可羡,
等闲平步上蓬莱Phiên âm:
Sách thư nhất đạo tự thiên lai,
Hoán khởi nhân gian kinh tế tài,
Mệnh lí vinh hoa chân khả tiển,
Đẳng nhàn bình bộ thướng bồng lai.Dịch nghĩa:
Kinh sách là đạo từ trời ban,
Gọi dậy tài an bang tế thế,
Mệnh lí vinh hoa đúng đáng khen,
Thong dong thả bước lên cõi bồng.
Thời đại khoa cử ngày xưa, học hành để có công danh là con đường tốt nhất, cho nên cổ nhân dùng Đẩu Số để luận mệnh cũng rất ưa Văn Xương và Văn Khúc. Ngoại trừ "Văn tinh củng mệnh cách" đã thuật ở trên, còn có "Văn quế Văn hoa cách", sau đó sẽ thảo luận đến "Văn Lương chấn kỉ cách", "Lộc Văn ám củng cách". Do đó có thể biết cổ nhân xem trọng sao văn đến mức độ nào. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, chúng ta cần phải thảo luận thêm cho phù hợp.
Văn Xương và Văn Khúc cùng ở cung mệnh, người này tất nhiên phong lưu nho nhã, có phong cách đặc biệt, hơn nữa còn thông minh tuấn tú. Đây là những ưu điểm của họ.
Nhưng hai sao Văn Xương và Văn Khúc rốt cuộc vẫn không phải là chính diệu, sức yếu ớt, trong thời đại xưa lấy thi cử làm sự cạnh tranh lớn nhất thì còn có thể ứng phó, còn trong xã hội ngày nay, ngoại trừ thi cử còn có nhiều chuyện tranh quyền đoạt lợi khác, cho nên cần phải có chính diệu hữu lực khác phù trợ, mới có thể thích ứng với thời đại.
Cổ nhân không xem trọng nữ mệnh, cho nên cách cục này không liên quan đến nữ mệnh. Nữ mệnh nếu gặp hai sao Văn Xương và Văn Khúc cùng tọa thủ, sau kết hôn dễ có trở ngại về tình cảm. Nếu gặp "Thiên Phủ, Vũ Khúc" cùng chiếu cung mệnh, thì càng dễ bị đàn ông đã có gia đình theo đuổi, gây đau khổ, bối rối khó xử về tình cảm. Vì vậy "Văn quế Văn hoa" trong bối cảnh xã hội ngày nay chẳng tốt như thời cổ đại.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
