Bài tổng quan
Cơ Lương Gia Hội, Quyền Sát Hóa Lộc, Cự Nhật Và Thọ Tinh Nhập Miếu
Vương Đình Chi từng mượn đọc một bản chép tay đời Nguyên, đem so với bản khắc đời Minh thì thấy bản cũ có thêm một hàng chữ nhỏ: phải có Thiên Phủ, Thiên Tướng làm chính diệu, không gặp sát kị, mới đúng. Người đời Minh in sách đã bỏ mất dòng ấy, để lại một cách cục chỉ còn Văn Xương với Tả Phụ, nghe thì sang mà thiếu xương sống. Cũng lối đọc kĩ ấy cho thấy Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung không hẳn nắm binh quyền, chỉ là văn nhân giỏi bàn việc binh, thời nay hợp điện toán và kiểm toán. Kình Dương gặp Hỏa Tinh là lửa luyện kim, thành tựu đến sau một phen tôi luyện. Cự Môn nhờ mặt trời mới giải được ám. Còn sao thọ ngồi ở ngôi cao nhất, vì đâu lại dễ phẫn chí mà trốn đời?
Phụ củng văn tinh cách
"Phụ củng văn tinh cách" tức là Văn Xương thủ mệnh, có Tả Phụ hội chiếu (Xem hình 106), chẳng hạn như Văn Xương ở cung Dần, Tả Phụ ở cung Ngọ. Cổ ca nói:
辅星拱命最堪言,
敏捷才华众莫先,
轻则帅臣兼五马,
重须入相振威权.Phiên âm:
Phụ tinh củng mệnh tối kham ngôn,
Mẫn tiệp tài hoa chúng mạc tiên,
Khinh tắc soái thần kiêm ngũ mã,
Trọng tu nhập tướng chấn uy quyền.Dịch nghĩa:
Sao Phụ chiếu mệnh tốt khỏi chê,
Mẫn tiệp tài hoa không ai bằng,
Nhẹ thì soái thần kiêm ngũ mã,
Nặng thì làm tướng chấn quyền uy.
Căn cứ để thành lập cách cục này là cổ quyết "Văn Xương, Tả Phụ, chức vị đến Tam Đài". Câu cổ quyết này thấy ở bản chép tay đời Nguyên. Lúc Vương Đình Chi mượn đọc bản văn này, đã đối chiếu với bản khắc đời Minh thì phát giác ở bản chép tay đời Nguyên có một hàng chữ chú thích nhỏ: "Ắt Phủ Tướng là chính diệu, không gặp các sao sát, kị mới đúng."
Bản in đời Minh tiết lộ câu này, chỉ là phần đầu của bài ca quyết. Đây cũng chính là nói, người đời Nguyên khi định ra cách cục này, không chỉ đơn thuần lấy hai sao phụ tá là Tả Phụ và Văn Xương làm căn cứ, mà còn đồng thời chú ý đến chính diệu thủ cung mệnh. Chiếu theo cách cục gốc, Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng thủ mệnh, một là "tài", một là "ấn", thêm vào Văn Xương đồng cung, hội hợp Tả Phụ, cách cục thành đường đường chính chính, đương nhiên có thể làm quan văn lẫn quan võ.
Có điều trong xã hội hiện đại, công danh phú quý không thể chỉ dựa vào công lao nơi chiến trường, cũng không thể chỉ dựa vào thi cử, cho nên ý nghĩa thành cách cục đẹp bị giảm nhiều. Nếu Thiên Phủ giữ cung thì người này khá có năng lực lãnh đạo, có thể hi vọng trở thành chủ quản của một đại công ti; còn nếu Thiên Tướng thủ mệnh thì chỉ là một nhân viên tham mưu mà thôi.
Nhưng người thuộc "Phụ củng văn tinh" rốt cuộc cũng có chút phong thái của người học hành, cho nên cũng là cách cục bậc trung. Nếu nói có thể làm quan cao cả văn lẫn võ, thì e rằng hơi quá.

Cơ Lương gia hội cách
Sao văn cần chính diệu đỡ lưng; còn hai chính diệu giỏi mưu tính mà ngồi cùng một cung thì người xưa gán cho cả binh quyền.
"Cơ Lương gia hội cách" tức là "Thiên Cơ, Thiên Lương" cùng thủ cung mệnh (Xem hình 107). Cổ ca nói:
机梁入庙最堪言,
得地教君福寿全,
妙算神谋应盖世,
威风凛凛掌兵权Phiên âm:
Cơ Lương nhập miếu tối kham ngôn,
Đắc địa giáo quân phúc thọ toàn,
Diệu toán thần mưu ưng cái thế,
uy phong lẫm lẫm chưởng binh quyền.Dịch nghĩa:
Cơ Lương nhập miếu là hết nói,
Đắc địa thì ông phúc thọ toàn,
Diệu toán thần cơ người cái thế,
Oai phong lẫm lẫm nắm binh quyền.

Thiên Cơ và Thiên Lương mà đồng cung, chỉ có hai cơ hội. Một là ở cung Thìn, lúc đó Thiên Cơ thừa lợi, Thiên Lương nhập miếu; hai là ở cung Tuất, Thiên Cơ cũng thừa lợi, Thiên Lương nhập miếu, nhưng cung Tuất không bằng cung Thìn. Bởi vì cung Thìn hội hợp với Thái Âm và Thiên Đồng của cung Tí là miếu vượng; còn cung Tuất hội hợp Thái Âm và Thiên Đồng của cung Ngọ là thất hãm.
Theo lí giải của Vương Đình Chi, cách này chuyên nói về "Thiên Cơ và Thiên Lương ở cung Thìn", chứ không chuyên về "Thiên Cơ và Thiên Lương nhập miếu".
Đối với tinh hệ "Thiên Cơ, Thiên Lương", cổ nhân có rất nhiều khẩu quyết, như: "Cơ Lương Tả Hữu Xương Khúc hội, văn thì quý hiển võ thì trung lương" (机梁左右昌曲会,文为贵显武忠良 Cơ Lương Tả Hữu Xương Khúc hội, văn vi quý hiển vũ trung lương); "Thiên Cơ Thiên Lương đồng cung Thìn Tuất, ắt có nghề cao tùy thân" (天机天梁同宫辰戌, 必有高艺随身 Thiên Cơ Thiên Lương đồng cung Thìn Tuất, tất hữu cao nghệ tuỳ thân); "Cơ Lương hội hợp giỏi bàn việc binh" (机梁会合善谈兵 Cơ Lương hội hợp thiện đàm binh); "Thiên Cơ, Thiên Lương cùng thủ mệnh ở cung Thìn hoặc Tuất, thêm sao cát thì giàu sang, an lành, nếu gặp Kình Dương, Đà La và sao không, thì nên làm tăng nhân, đạo sĩ." (机梁同在辰戌守命, 加吉曜, 富贵慈祥, 若遇羊陀空曜, 偏宜僧道 Cơ Lương đồng tại Thìn Tuất thủ mệnh, gia cát diệu, phú quý từ tường, nhược ngộ Dương Đà Không diệu, thiên nghi tăng đạo)
Thực ra tổ hợp "Thiên Cơ, Thiên Lương" chỉ chủ về thích chuyện lạ đời, giỏi biện luận, giỏi biểu hiện, hơn nữa phần nhiều hùa theo ý kiến của người khác. Trong thời cổ đại, có thể là người có tài tranh biện sáng chói thì không nhiều, thường gặp nhất là văn nhân đàm luận binh pháp, cho nên mới có thuyết "Cơ Lương hội hợp giỏi bàn việc binh".
Vương Đình Chi sau khi so sánh, thì xem trọng thuyết "ắt có nghề cao tùy thân". "Nghề cao" ở đây là chỉ tay nghề giỏi. Trong thời hiện đại, người thuộc tổ hợp tinh hệ này thích hợp học điện toán, hoặc làm kiểm toán viên.
Quyền Sát Hóa Lộc cách
Người bàn việc binh chưa chắc đã cầm quân; còn cách cục dưới đây thì lấy chính sát tinh làm vốn, qua lửa mà thành thép.
"Quyền sát Hóa Lộc cách" tức là Kình Dương hoặc Đà La và Hỏa Tinh tọa mệnh nhập miếu. Trong đó lấy trường hợp Kình Dương và Hỏa Tinh ở cung mệnh thì tốt hơn trường hợp Đà La và Hỏa Tinh ở cung mệnh (Xem hình 108). Cổ ca nói:
三煞加临庙旺宫,
性情刚猛震英雄,
几番险地都经过,
凛凛威权众罕同.Phiên âm:
Tam sát gia lâm miếu vượng cung,
Tính tình cương mãnh chấn anh hùng,
Kỉ phiên hiểm địa đô kinh quá,
Lẫm lẫm uy quyền chúng hãn đồng.Dịch nghĩa:
Tam sát đến cung miếu vượng là,
Tính tình cương mãnh anh hùng phục,
Mấy phen hiểm địa đều kinh qua,
Lẫm lẫm uy quyền thật hiếm có.

Theo Vương Đình Chi, thuyết "Tam sát" trong bài cổ ca hơi mơ hồ, bởi vì Kình Dương với Đà La luôn luôn cách nhau một cung, về căn bản không có khả năng cùng ở một cung. Cổ nhân chỉ nói chung chung theo thể lệ của ca quyết.
Kình Dương và Đà La đều nhập miếu ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Trong bốn cung độ này, Hỏa Tinh chỉ lạc hãm ở cung Thìn, do đó gặp Hỏa Tinh ở ba cung Tuất, Sửu, Mùi đều hợp cách.
Nguyên nhân thành cách là Kình Dương và Đà La đều thuộc kim, chỉ phân biệt một dương một âm, gặp Hỏa Tinh ở cung vị miếu vượng, hỏa luyện kim thành tinh thuần; như vậy mà thành cách cục, cũng tức là tính cương của Hỏa Tinh sẽ làm giảm sức "hình kị" của Kình Dương, Đà La; còn Kình Dương, Đà La cũng sẽ làm giảm tính cương liệt của Hỏa Tinh. Kình Dương, Đà La gặp Hỏa Tinh tuy thành cách, nhưng vẫn khó tránh đời người lao khổ. Hỏa luyện kim thành tinh thuần, tất nhiên phải trải qua một phen tôi luyện, vì vậy chủ về đời người trước khổ sau có thành tựu.
Cách cục này không nên có Tham Lang, bởi vì Tham Lang và Hỏa Tinh thì thành "Hỏa Tham cách". Nếu lại gặp Kình Dương, Đà La, thì khó tránh các cách cục lẫn vào nhau, khiến cho cả hai cách cục đều mất sắc thái của nó. Cách cục này lấy hỏa làm sát, hỏa khắc kim là tài, là lộc, cho nên gọi là "Quyền sát Hóa Lộc".
Cự Nhật đồng cung cách
Lửa luyện được kim; còn bóng tối của ám tinh thì phải nhờ đến ánh mặt trời.
"Cự Nhật đồng cung cách" tức là Cự Môn và Thái Dương thủ mệnh ở cung Dần (Xem hình 109). Cổ ca nói:
巨日拱照对三合,
值此应为盖世才;
若是凶星无战克,
紫袍恒着日边来.Phiên âm:
Cự Nhật củng chiếu đối tam hợp,
Trị thử ưng vi cái thế tài;
Nhược thị hung tinh vô chiến khắc,
Tử bào hằng trước nhật biên lai.Dịch nghĩa:
Cự Nhật vây chiếu đối tam hợp,
Được chúng là tài năng cái thế;
Nếu không có hung tinh khắc chế,
Áo tía luôn mặc ánh dương lên.
Tình hình Thái Dương và Cự Môn đồng độ chỉ có thể xuất hiện ở cung Dần hoặc Thân. Thái Dương của cung Thân là tượng mặt trời lặn về tây, cho nên chỉ có Thái Dương của cung Dần là hợp cách.
Thái Dương và Cự Môn đồng độ, do Thái Dương có thể giải "ám" của Cự Môn, vì vậy mà phát huy quyền uy của Cự Môn, cho nên Cự Nhật đồng cung trở thành cách cục khá tốt.
Có điều, tên của cách cục "Cự Nhật đồng cung" e rằng hơi hẹp, phạm vi không rộng như trong ca quyết nói "Cự Nhật vây chiếu đối tam hợp".
Nói "Cự Nhật vây chiếu đối tam hợp" là phải bao gồm hai loại kết cấu: Thái Dương ở cung Ngọ, Cự Môn ở cung Tuất; và Thái Dương ở cung Tị, Cự Môn ở cung Hợi. Trường hợp trước là "tam hợp", trường hợp sau là "vây chiếu" (củng chiếu). Hai loại kết cấu của tinh hệ này cùng một dạng, là đều có thể nhờ ánh sáng và nhiệt của Thái Dương mà cải thiện tính chất của Cự Môn.

Nhưng bất kể Cự Môn là được Thái Dương đồng độ, vây chiếu, hay tam hợp, cũng đều cần phải dùng nỗ lực hậu thiên để bổ cứu. Nếu để phát triển tự nhiên, Cự Môn vẫn có thể mang lại điều tiếng thị phi, cần phải có sự tu dưỡng hậu thiên, sau đó điều tiếng thị phi mới có thể hóa thành tài năng.
Nhất là trong xã hội hiện đại, "Cự Nhật đồng cung" đã không còn giới hạn trong việc làm quan để có công danh, mà có thể làm một luật sư chẳng hạn.
Thọ tinh nhập miếu cách
Mặt trời giải được ám cho Cự Môn, và cũng chính mặt trời, từ cung đối diện, làm nên cách cục của sao thọ.
"Thọ tinh nhập miếu cách" chỉ có một kết cấu, đó là Thiên Lương thủ mệnh ở cung Ngọ, và đối nhau với Thái Dương của cung Tí (Xem hình 110).
Cổ ca nói:
命遇离明拱寿星,
一生荣达沐恩深,
飞腾鸿鹄青霄近,
气象堂堂侍帝廷Phiên âm:
Mệnh ngộ Li minh củng thọ tinh,
Nhất sinh vinh đạt mộc ân thâm,
Phi đằng hồng hộc thanh tiêu cận,
Khí tượng đường đường thị đế đình.Dịch nghĩa:
Mệnh gặp Nhật sáng thọ tinh vây,
Một đời vinh hiển tắm ân sâu,
Chim hồng cao bay mây xanh ngát,
Khí tượng đường đường hầu đế vương.

Trong khẩu quyết của người xưa, thuyết "Thiên Lương cư cung Ngọ, làm quan thanh cao hiển đạt" (Lương cư ngọ vị, quan tư thanh hiển 梁居午位,官资清显) là do người xưa căn cứ vào cổ luận "Tá đế tọa quyền uy" 帝座权威, "Chức vị lâm vu phong" 职位临于风 mà suy ra.
Theo phái Trung Châu Vương Đình Chi, tuy ba chính diệu Tử Vi, Thái Dương, Thiên Lương đều ưa ở cung Ngọ, nhưng cũng đều có khuyết điểm chung, đó là cao ngạo quá đáng, cho nên tiếng tăm càng lớn thì tình huống khó xử cũng theo đó mà càng nhiều.
Người Thiên Lương ở cung Ngọ, nếu có sao cát hội hợp, địa vị xã hội có thể khá cao, nhưng tính cao ngạo cũng có thể vì vậy mà lớn thêm, thậm chí rơi vào tình trạng ưa soi bói, bới móc, cho nên đời người tất nhiên sẽ gặp nhiều tình huống khó xử về tinh thần. Cũng do đặc tính của Thiên Lương là thích sự thần bí, hoặc thiên nặng về tôn giáo tín ngưỡng, vì vậy người có kết cấu mệnh cục này, khi cạnh tranh trong sự nghiệp bị thất bại, sẽ dễ trở thành phẫn chí mà trốn đời. Có lẽ người có quan niệm "trốn đời thì không sầu, không gặp thì không buồn", là do ảnh hưởng của sao Thiên Lương. Cho nên "Thọ tinh nhập miếu cách" không nhất định là "một đời vinh hiển", chủ yếu còn phải xem nó hội hợp với các sao nào để định. Tối kị Kình Dương, Đà La; rất ưa Văn Xương, Văn Khúc; đó là đặc tính của cách cục này.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
