Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Vận hạn phi tinh

Bài tổng quan

Tam bàn thiên địa nhân và phép một cấp quản một cấp

Tử Vi Bắc Phái - Vận hạn phi tinh20/09/202622 phút đọc4 lượt đọc
Tam bàn thiên địa nhân và phép một cấp quản một cấp

Nguyên cục, đại vận, lưu niên là ba bàn chồng lên nhau: thiên bàn định phạm vi sự việc, địa bàn định khoảng thời gian, nhân bàn định lúc ứng nghiệm. Khâm Thiên môn buộc dụng phải quy về thể, không được gạt nguyên cục sang một bên, và coi dụng xung thể là nặng hơn thể xung dụng. Vậy khi song Hóa Kị cùng rơi vào một cung, năm nào mới thật sự xảy ra chuyện?


THIÊN BÀN LÀ TƯỢNG KHÔNG GIAN, ĐỊA BÀN LÀ TƯỢNG THỜI GIAN, NHÂN BÀN LÀ ỨNG SỐ. Thiên bàn giới hạn phạm vi sự việc; địa bàn giới hạn khoảng thời gian xảy ra sự việc; nhân bàn định thời điểm sự việc ứng nghiệm. Vận dụng tam tài thiên, địa, nhân tức là vận dụng ba bàn ba cấp trùng điệp lên nhau, theo nguyên tắc "thiên nhân hợp nhất, địa trung tàng tượng" và "một cấp quản một cấp", quyền hạn và trách nhiệm phân công rõ ràng.

Nguyên Tắc Tam Tài Thiên Địa Nhân

Ba cấp trùng điệp, mỗi cấp một phận sự

Muốn xem đại vận tốt hay xấu thì dùng phi cung hóa tượng của thiên bàn. Muốn xem lưu niên tốt hay xấu thì dùng phi cung hóa tượng của địa bàn. Muốn xem lưu nguyệt tốt hay xấu thì dùng tứ hóa lưu niên.

Nguyên tắc là "nguyên cục quản đại vận mà ứng ở lưu niên": nguyên cục và lưu niên là thiên nhân hợp nhất, còn đại vận là "địa trung tàng tượng", trong "địa" có chứa tượng. Cứ theo thứ tự ấy mà loại suy: "đại vận quản lưu niên mà ứng ở lưu nguyệt", "lưu niên quản lưu nguyệt mà ứng ở lưu nhật", "lưu nguyệt quản lưu nhật mà ứng ở lưu thời"; phép dùng thiên, địa, nhân đều tương đồng.

Phi cung hóa tượng của mệnh bàn nguyên cục chỉ là thùy tượng; đã là thùy tượng thì chưa ứng cát hung. Nếu không có hành hạn đại vận, lưu niên đi thuận, đi nghịch mà khơi động, thì lấy gì làm tượng để luận việc ở ba bàn ba cấp, và làm sao biết định số và ứng số của mệnh tạo nằm ở chỗ nào?

Ba cung phu thê, lấy cung nào làm chuẩn?

Thông thường luận tình cảm và hôn nhân thì lấy cung phu thê làm chủ. Nhưng cung phu thê có ba: của nguyên cục, của đại vận, của lưu niên; rốt cuộc lấy cung nào làm chuẩn? Ba cung ấy, một là thiên bàn, hai là địa bàn, ba là nhân bàn. Thiên bàn giới hạn phạm vi sự việc, địa bàn giới hạn khoảng thời gian, nhân bàn là ứng số. Cho nên phép vận dụng phi tinh tứ hóa mới có thuyết "thiên nhân hợp nhất, dùng địa bàn làm trung gian": đại vận phải thông qua nguyên cục để lấy tượng, mà ứng số ở lưu niên; lưu niên phải quy về nguyên cục, lấy đại vận để phân biệt sự việc ứng nghiệm. Cũng như vậy, lưu nguyệt phải quy về đại vận, lấy lưu niên để phân biệt sự việc ứng nghiệm.

Mỗi cung đều chia làm ba cấp, một cấp quản một cấp. Phi cung hóa tượng của nguyên cục thuộc về tượng cách cục, phải đợi hành hạn đại vận và lưu niên dẫn phát mới có cát hung. Đại vận cũng vậy, phải đợi lưu niên và lưu nguyệt dẫn phát mới ứng cát hung. Tùy theo góc độ được hỏi: hỏi về cách cục của người phối ngẫu, hỏi về tình cảm vợ chồng trong một đại vận nào đó, hay hỏi về tình cảm vợ chồng trong lưu niên này, mà dùng cấp tương ứng làm chuẩn để luận đoán.

Biện bác thuyết "để nguyên cục sang một bên"

Có quan điểm cho rằng nguyên cục, đại vận và lưu niên mỗi bộ phận có tác dụng riêng, về nguyên tắc không phân biệt lớn nhỏ hay mạnh yếu. Theo thuyết ấy, nguyên cục là tượng của tổ hợp sao, thuộc tiên thiên, tức sự hơn kém của kết cấu chỉnh thể; đại vận và lưu niên đều là hành hạn thuộc phạm vi thời gian hậu thiên; vậy muốn biết hành hạn thế nào thì nên dùng đại vận và lưu niên, để nguyên cục sang một bên. Lưu niên chỉ phụ trách đối với đại vận, nên nguyên cục tiên thiên có thể thoái lui; lưu nguyệt chỉ phụ trách đối với lưu niên, nên đại vận phải đứng sang một bên. Lí do đưa ra là nguyên cục đối với lưu niên, đại vận đối với lưu nguyệt, khoảng cách quá xa, chẳng giúp được gì; nếu đem dùng cả thì tứ hóa xuất hiện vài nhóm một lúc sẽ khiến người ta hoa mắt rối loạn. Ngoại lệ duy nhất là lúc luận một sự kiện trọng đại, cần kiểm xem có hợp cách hay không, mới quay lại xét kết cấu của nguyên cục.

Quan niệm ấy sai ngay từ đầu. Dùng Đẩu Số để luận đoán, về cơ bản phải phối hợp mệnh bàn nguyên cục, đại vận bàn và lưu niên bàn mà xét cát hung họa phúc. Lúc luận có thể căn cứ tình huống thực tế để chọn "bàn" khác nhau mà lập thái cực, định thể và dụng; nhưng tuyệt đối không thể trong một lần mà dùng đến cả ba cung, vì như vậy tượng sẽ rối loạn, thể và dụng không còn phân biệt.

Trong ba bàn, cần dùng bàn nào để luận? Vấn đề không nằm ở chỗ dùng bàn nào, mà trước hết phải biết mệnh tạo muốn hỏi chuyện gì. Khi quan sát, cần chia sự tình thành "cách" và "vận". Nói về "cách" thì nguyên cục có cách của nguyên cục, đại vận có cách của đại vận, lưu niên có cách của lưu niên; tùy nhu cầu mà chọn bàn. Còn nói về "vận" thì thông thường quan sát từ đại vận đến lưu niên.

Trình tự vận dụng là: dùng mệnh bàn nguyên cục để thâm nhập, tức nguyên cục quản đại vận và ứng ở lưu niên; dùng đại vận bàn để thâm nhập, tức đại vận quản lưu niên và ứng ở lưu nguyệt. Lưu niên, lưu nguyệt và lưu nhật cũng theo trình tự này.

Điều quan trọng là định vị rõ thể và dụng. Thông thường nguyên cục là thể, đại vận bàn và lưu niên bàn là dụng. Dụng xung thể thì nghiêm trọng, thể xung dụng thì nhẹ hơn; sao có thể nói "không phân biệt lớn nhỏ hay mạnh yếu"?

Bảo rằng muốn biết hành hạn thì để tiên thiên sang một bên, ấy là không hiểu lí luận "tứ tượng tam dịch" của tam bàn thiên, địa, nhân. Theo Khâm Thiên môn, bất luận dùng đại vận bàn hay lưu niên bàn để phi hóa, đều không được bỏ nguyên cục tiên thiên. Lí do rất đơn giản: không có "thể" mà chỉ có "dụng" thì không biết lấy gì để quy chiếu.

Còn thuyết "lưu niên chỉ phụ trách đối với đại vận" cũng không đứng được. Lấy nguyên cục, đại vận, lưu niên mà nói: lúc dùng tứ hóa của lưu niên thì phải hướng lên để lấy tượng, tức hướng lên nguyên cục, vì nguyên cục là "thiên"; đó gọi là "thiên nhân hợp nhất". Nếu lúc ấy gạt nguyên cục tiên thiên sang một bên, chẳng những rối loạn mà về nguyên tắc còn thành cục diện "vô pháp vô thiên". Luận đoán tam bàn nhất định phải theo trình tự và phép phân biệt thể dụng; trên thực tế vốn không xảy ra tình trạng các tượng Lộc, Quyền, Khoa, Kị phi xuất loạn xạ.

Tóm lại, lưu niên không chỉ tham khảo nguyên cục tiên thiên, mà còn phải dung hợp với nguyên cục; dụng phải quy về thể, sau đó lấy "địa" làm môi giới, mới luận được trọn vẹn tiền nhân hậu quả của sự tình. Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong Khâm Thiên môn.

Ví dụ thực tế: dương nam sinh năm Bính Ngọ, lưu niên 2009

Mệnh tạo kể rằng trong năm đã xảy ra cãi vã mấy lần, phần nhiều do đối phương gây sự trước; hai tháng gần đây cãi vã dữ dội. Ông ngờ rằng vì lưu niên ở cung Sửu có Cự Môn tọa thủ, hoặc vì Văn Xương Hóa Kị ở cung nô bộc của lưu niên; và không biết nên xem lưu nguyệt bàn hay lưu niên bàn.

Mệnh tạo là dương nam, sinh năm Bính Ngọ (1966), tháng 3, giờ Thìn, Mộc tam cục. Mệnh bàn bài bố như sau: cung mệnh ở Kỉ Hợi có Thái Âm; cung huynh đệ ở Mậu Tuất có Liêm Trinh Hóa Kị, Thiên Phủ; cung phu thê ở Đinh Dậu có Hữu Bật; cung tử nữ ở Bính Thân có Phá Quân, Văn Khúc; cung tài bạch ở Ất Mùi không có chính diệu; cung tật ách ở Giáp Ngọ có Tử Vi, Văn Xương Hóa Khoa; cung thiên di ở Quý Tị có Thiên Cơ Hóa Quyền, Tả Phụ; cung nô bộc ở Nhâm Thìn có Thất Sát; cung quan lộc ở Tân Mão có Thái Dương, Thiên Lương; cung điền trạch ở Canh Dần có Vũ Khúc, Thiên Tướng; cung phúc đức ở Tân Sửu có Thiên Đồng Hóa Lộc, Cự Môn; cung phụ mẫu ở Canh Tí có Tham Lang. Lai nhân cung ở cung tử nữ của nguyên cục.

Lưu niên 2009 ở cung Sửu. Cung tử nữ của lưu niên, cũng là cung tật ách của đại vận, có Thiên Phủ và Liêm Trinh Hóa Kị năm sinh. Thiên Phủ, Liêm Trinh chủ về vi tính, công nghệ thông tin; cung bị xung là cung nô bộc của nguyên cục, tức cung chúng sinh. Ý tượng cho biết năm ấy mệnh tạo và bạn bè xảy ra tranh chấp không vui trên mạng.

Đổi góc độ mà xét: sự cố có liên quan đến chúng sinh, nên phải quan sát từ cung nô bộc của đại vận. Cung này trùng điệp với cung tử nữ của nguyên cục, là ý tượng về tình trạng giao du của mệnh tạo với bạn bè ở bên ngoài. Can cung là Bính; Bính khiến Hóa Kị nhập Liêm Trinh ở cung huynh đệ của nguyên cục (tức cung tật ách của đại vận), gặp Hóa Kị năm sinh thành "Song Kị", xung cung nô bộc của nguyên cục (tức cung phụ mẫu của đại vận). Thùy tượng này đương nhiên không tốt. Huống hồ cung bị xung lại là nơi Đẩu Quân năm 2009 kết khí; luận ra từ tháng giêng năm 2009 mệnh tạo và chúng sinh đã có tác động qua lại không tốt, đến tháng 2 càng nghiêm trọng hơn.

Xem sơ lược mệnh bàn, đại vận này mệnh tạo có hùng tâm mở rộng sự nghiệp, nhưng quan hệ với người chung quanh lại ẩn chứa nhiều nhân tố biến động. Bởi vậy cần thi triển sở trường sao cho đừng quá lộ mũi nhọn; bình tâm tĩnh khí thì mới thuận lợi.

Mối Liên Hệ Của Tứ Hóa Trong Tam Bàn Thiên Địa Nhân

Lúc hoạt bàn của mệnh bàn chuyển động, nhiều người nghiên cứu Đẩu Số, kể cả một số bậc "tiền bối", đều bị đại vận và lưu niên làm khó; nguyên nhân gây rối loạn chính là tứ hóa. Đại đa số sách Đẩu Số lại ít khi nói rõ phương pháp luận đoán đại vận và lưu niên, dẫn đến tình trạng bị tứ hóa năm sinh, tứ hóa đại vận và tứ hóa lưu niên làm cho hoa mắt; đến lúc "tự hóa" và "phi hóa" cùng xuất hiện thì nhiều người đành buông tay. Cho nên số người học Tử Vi Đẩu Số bỏ dở nửa chừng nhiều hơn người học Tứ Trụ Tử Bình.

Một số người nghiên cứu Tứ Hóa phái, trong lúc suy đoán lại quên mất sự tồn tại của các sao trong cung mệnh, chỉ tập trung vào các sao của đại vận, nên không định vị được tính chất của các sao ở đại vận, chưa nói tới các sao của cung hạn lưu niên. Tứ hóa có cơ chế của tứ hóa, các sao cũng có sự phân biệt về tác dụng.

Năm điều cần ghi nhớ trước khi luận đại vận

Một là, lực tác động của Hóa Kị năm sinh được thu vào "ngã cung"; tức Hóa Kị rơi vào "ngã cung" thì không tái "phi xuất".

Hai là, trong cung có tứ hóa năm sinh thì mới phải xét hiện tượng can cung phi hóa hay tự hóa.

Ba là, can cung đại vận khiến Hóa Kị nhập "ngã cung" cũng thuộc trường hợp "thu vào" mà không tái phi xuất.

Bốn là, các sao trong cung đại vận được xem là "hiện tượng", cũng có thể xem là "hóa khí" trong phần "hình phú". Công dụng của chúng là làm tăng hay giảm tác dụng của các sao trong cung của nguyên cục, chứ không phải đem toàn bộ tính chất hình phú của các sao ở cung nguyên cục dời sang cung đại vận.

Năm là, nếu Hóa Kị ở "ngã cung" gặp can cung dẫn phát tự Hóa Kị, cũng không có hiện tượng "phi xuất"; chỉ cần tìm hiểu hiện tượng Hóa Kị lại tự Hóa Kị, mà không xung kích đối cung. Tự Hóa Lộc, tự Hóa Quyền hay tự Hóa Khoa cũng theo nguyên tắc này.

Địa bàn: can cung định phạm vi mười năm

Tứ Hóa phái chia mệnh bàn thành ba loại. Thiên bàn là mệnh bàn nguyên cục trong trạng thái tĩnh. Địa bàn là đại vận bàn, lấy can cung để định phạm vi giới hạn thời gian 10 năm; nói cách khác, sau khi đặt can cung cho "địa bàn" mới gọi là "đại vận bàn". Phạm vi "Liêm Trinh, Thất Sát" của can cung Kỉ Sửu nhất định khác với phạm vi "Liêm Trinh, Thất Sát" của can cung Tân Sửu.

Cho nên ông A có Thiên Đồng thủ mệnh ở cung Dậu, đi thuận chiều kim đồng hồ đến đại vận "Liêm Trinh, Thất Sát", và ông B có Thiên Đồng thủ mệnh ở cung Thìn, đi nghịch chiều kim đồng hồ đến đại vận "Liêm Trinh, Thất Sát", hai người sẽ có cuộc sống hoàn toàn khác nhau, cát hung họa phúc cách nhau một trời một vực. Đừng thấy địa bàn "Liêm Trinh, Thất Sát" là lập tức đưa ra lời đoán; phải xét ảnh hưởng của tứ hóa đại vận, và xét sự liên quan giữa các cung của đại vận với thiên bàn. Người ta thường bị Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La bài bố ở thiên bàn làm cho rối trí; thực ra không nhất định đại vận bàn sẽ bị các hung tinh ấy kiềm chế hay gây tổn hại.

Nhân bàn: chỉ hưởng ứng tứ hóa của địa bàn

Nhân bàn tức lưu niên bàn. Lấy lưu niên Kỉ Sửu (2009) làm ví dụ: năm đó mỗi cá nhân sẽ lấy các sao ở cung Kỉ Sửu để ứng nghiệm kết quả giao nhau của tứ hóa thiên bàn và tứ hóa địa bàn, giả thiết hai nhóm tứ hóa ấy có tác động lẫn nhau. Các sao này là xạ ảnh của các sao ở thiên bàn, không phải bản thân các sao ở thiên bàn, cũng không liên quan gì đến tứ hóa năm sinh. Tứ hóa nhân bàn chỉ có thể hưởng ứng tứ hóa địa bàn, không thể vượt cấp tác động trực tiếp đến các sao của thiên bàn; trừ phi địa bàn và thiên bàn có quan hệ tam phương tứ chính, hoặc các sao tứ hóa tác động lẫn nhau, thì mới xét đến sự tương tác giữa cả ba bàn.

Giả thiết cung Sửu có Liêm Trinh Hóa Kị, Thất Sát (người sinh năm Bính nên Liêm Trinh Hóa Kị). Đến lưu niên Kỉ Sửu, cung mệnh của lưu niên nhập cung Sửu, sẽ thấy Liêm Trinh Hóa Kị năm sinh ở trong cung; nhưng đây thuộc về vận thế lưu niên, nên "Liêm Trinh, Thất Sát" không bị ảnh hưởng của Hóa Kị năm sinh. Nhưng nếu can cung đại vận là Bính, khiến Liêm Trinh lại Hóa Kị, thì lúc bước vào lưu niên Kỉ Sửu, mệnh tạo phải chịu ảnh hưởng của Liêm Trinh song Hóa Kị, vận thế sẽ biến động kịch liệt.

Trong tình trạng ấy, cần xem Hóa Lộc và Hóa Kị của đại vận ở cung nào. Nếu cả hai đều ở "ngã cung" của địa bàn hoặc thiên bàn, có thể đoán năm đó có thu hoạch lớn. Nếu không phải vậy, thì phải xem chúng ở "ngã cung" hay "tha cung" của thiên bàn và địa bàn, mới đoán được sự cố gì sẽ xảy ra. Nếu dự đoán là hung, phải truy tìm cung có Hóa Khoa đại vận tọa lạc, để tính xem năng lực hóa giải tai ách mạnh hay yếu.

Thể xung dụng thì nhẹ, dụng xung thể thì nặng

Song Hóa Kị phải xuất hiện ở cung mệnh, cung quan lộc hay cung tài bạch của lưu niên thì mới có tác dụng trực tiếp. Thông thường, nếu tứ hóa lưu niên không nhập cung có song Hóa Kị thì có thể an nhiên vượt qua. Dù chịu áp lực của song Hóa Kị, tức Hóa Kị năm sinh và Hóa Kị đại vận, thì đối với lưu niên đây là áp lực từ "thể" sinh ra: thiên bàn là thể, đại vận là dụng; đối với lưu niên thì đại vận là thể, lưu niên là dụng. Cho nên dù tiếp xúc trực tiếp vẫn không đến nỗi nào, vì "thể" tác động đến "dụng" có sức ảnh hưởng nhỏ hơn "dụng" tác động đến "thể". Hung thật sự là lúc Hóa Kị lưu niên xung phá Hóa Lộc đại vận; tình huống ấy mới nghiêm trọng.

Ví dụ, can cung tài bạch của đại vận khiến Hóa Kị xung cung tài bạch của thiên bàn; về lí thuyết là nghiêm trọng, vì "dụng xung thể". Lúc lưu niên nhập cung có Hóa Kị ấy, phần nhiều sẽ xảy ra tổn thất về tài chính. Lúc luận mệnh cần thận trọng: phải xét can cung tài bạch của đại vận phi Hóa Lộc nhập cung nào, để biết nguyên nhân của tình trạng tiền bạc được mất, tốt xấu; còn phải đem cung đại vận sở tại quy về thiên bàn để tra xét sự việc liên quan; như vậy mới đúng trình tự. Trong Tứ Hóa phái, mọi trường hợp "dụng xung thể" đều xem là sự cố nghiêm trọng.

Lúc lưu niên nhập cung có Hóa Kị đại vận, thường đó là thời điểm xảy ra sự cố. Lúc lưu niên nhập cung bị Hóa Kị đại vận xung, thường đó là thời kì cuối của sự cố; về lí thuyết, đó là "thể xung dụng".

Theo lí thuyết của Tứ Hóa phái, cùng loại tương xung là hung. Ví như Hóa Kị đại vận ở cung mệnh của đại vận xung cung mệnh của thiên bàn, hay Hóa Kị đại vận ở cung quan lộc của đại vận xung cung quan lộc của thiên bàn: lúc lưu niên nhập cung có Hóa Kị đại vận là năm xảy ra sự cố; lúc lưu niên nhập cung bị Hóa Kị ấy xung là năm từ thịnh chuyển thành suy. Còn nếu không phải cùng loại tương xung, thì cung bị Hóa Kị đại vận xung cũng thường là năm xảy ra sự cố; ví dụ Hóa Kị đại vận nhập cung Dậu, cung bị xung là cung Mão, lúc lưu niên nhập cung Mão chính là năm bị xung kích. Cung bị xung mà sinh ra tự hóa lại là chuyện tốt, ít nhất đó cũng là lực đề kháng làm tròn chức trách; thậm chí tự Hóa Kị cũng không hoàn toàn xấu, mà thường chủ về đã trừ được họa căn.

Đại Vận Nâng Lên Hay Hạ Xuống Cung Mệnh Nguyên Cục

Lấy cung mệnh nguyên cục làm "chủ thể" để luận, tác động của các sao ở đại vận sẽ làm tăng thêm hay giảm bớt tính chất của các sao ở cung mệnh, để tiếp nhận thử thách của Thái Tuế lưu niên mỗi năm. Khi đại vận xuất hiện kết cấu sao làm tăng mạnh tính chất của các sao ở cung mệnh, đại vận ấy là hành hạn nâng mệnh tạo lên; ngay cả lúc Thái Tuế lưu niên bất lợi, cũng không đến nỗi sinh lực phá hoại nghiêm trọng. Mệnh bàn nguyên cục đã được nâng lên một cấp khác, bị xung kích cũng không khiến mệnh tạo mất hết sức mạnh; nhiều lúc còn thành tác nhân kích thích, làm mệnh chủ phấn chấn hơn. Đại vận có lợi cho cung mệnh, lưu niên lại như gấm thêu hoa, thì năm ấy hỉ sự liên miên.

Khi tổ hợp sao của đại vận mang lại hiệu ứng xấu cho cung mệnh, tức mệnh tạo đã ở vào khoảng thời gian "xấu", thì ứng nghiệm trong đời sống là hướng xuống, trầm luân. Ở trong đại vận bất lợi, nếu Thái Tuế lưu niên có lợi thì có thể giảm bớt tốc độ trầm luân, khiến sự kiện xấu không đến nỗi "ác tính hóa", nhiều lúc làm cho chuyện xấu không xảy ra. Đáng lo nhất là lúc cung mệnh của đại vận trùng điệp với cung vị đầy chướng khí: mệnh bàn nguyên cục đã bị hạ xuống một cấp, cung hạn lưu niên lại mang đến khí "sát phạt tiêu điều" và lực phá hoại, thì có thể xảy ra thảm trạng "nhà dột mà gặp mưa dầm". Trong đời sống, đó là bất lợi về sự nghiệp, tài phú, sức khỏe, hoặc xảy ra sự cố trong tình cảm hôn nhân.

Ví dụ: "Thiên Đồng, Cự Môn" thủ mệnh đi đến hạn Thái Âm

Giả thiết một người có "Thiên Đồng, Cự Môn" thủ mệnh ở cung Sửu; lúc đại vận đến cung Hợi do Thái Âm tọa thủ thì cát hung họa phúc ra sao? Quan hệ đối ứng giữa "Thiên Đồng, Cự Môn" và Thái Âm sẽ sinh hiện tượng gì? Trong khung kết cấu này, có người tuổi trẻ đắc chí, rất giàu có; có người tìm không ra việc làm, đừng nói tới tích lũy; có người đi du học đạt học vị cao; cũng có người rơi vào cảnh ăn cơm tù, hoặc phải gánh vác trọng trách nuôi cả gia đình.

Giả thiết nữ mệnh tạo sinh năm Canh, mệnh bàn như sau: cung mệnh ở Sửu có Thiên Đồng, Cự Môn; cung huynh đệ ở Tí có Tham Lang; cung phu thê ở Hợi có Thái Âm; cung tử nữ ở Tuất có Liêm Trinh, Thiên Phủ; cung tài bạch ở Dậu vô chính diệu; cung tật ách ở Thân có Phá Quân; cung thiên di ở Mùi vô chính diệu; cung nô bộc ở Ngọ có Tử Vi; cung quan lộc ở Tị có Thiên Cơ; cung điền trạch ở Thìn có Thất Sát; cung phúc đức ở Mão có Thái Dương, Thiên Lương; cung phụ mẫu ở Dần có Vũ Khúc, Thiên Tướng.

Lúc người này đến hành hạn "Thái Âm, Văn Khúc", cung quan lộc của đại vận có can chi là Kỉ Mão, khiến Văn Khúc Hóa Kị xung phá Thiên Cơ ở cung quan lộc của thiên bàn. Ý tượng là trong đại vận này vận sự nghiệp bị phá hao tổn thất. Cung tài bạch của đại vận lại vô chính diệu, nên sự nghiệp của nữ mệnh chủ không được thuận lợi, có thể xảy ra tình trạng thất nghiệp; bởi cung quan lộc của đại vận phi Hóa Kị xung cung quan lộc của thiên bàn, tức cung quan lộc của thiên bàn đã bị phá hoại.

Ngoài ra, "Thái Âm, Văn Khúc" tọa thủ cung Đinh Hợi; tứ hóa đại vận khiến Thiên Đồng Hóa Quyền và Cự Môn Hóa Kị trong cung mệnh của thiên bàn, Thái Âm Hóa Lộc trong cung phu thê của thiên bàn, Thiên Cơ Hóa Khoa trong cung quan lộc của thiên bàn. Tổng hợp lại mà đoán: nữ mệnh chủ sẽ vì hôn nhân mà từ bỏ công việc đang làm, nhưng hành động này khiến bà mang tâm trạng mâu thuẫn khá lâu. Cung tài bạch của đại vận có can chi là Quý Mùi, khiến Tham Lang Hóa Kị; đó là tượng "kho tiền" tạm thời thiếu tiền.

Người có "Thiên Đồng, Cự Môn" thủ mệnh, hành hạn đến cung Hợi do Thái Âm tọa thủ, cuộc đời được thêm điểm hay bớt điểm? Cần lấy can của cung Thái Âm tọa thủ mà phi tứ hóa, để biết ảnh hưởng của chúng đối với Thiên Đồng và Cự Môn. Lại lấy cung tài bạch và cung quan lộc của đại vận mà phi tứ hóa, để tính xem cung tài bạch và cung quan lộc của thiên bàn bị loại tứ hóa nào nhập vào, rồi điều chỉnh lời luận cho hợp với chân tướng sự thực. Nếu Hóa Kị ở cung tài bạch của đại vận xung cung tài bạch của thiên bàn, sẽ có hiện tượng bất lợi trong việc kiếm tiền. Nếu can của cung tài bạch và cung quan lộc của đại vận phi Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa nhập cung tài bạch và cung quan lộc của thiên bàn, đó là tượng trong đại vận này được tăng lương hay "thăng di", tức đi nhậm chức cao hơn.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số — Tứ Hóa Phái (Nguyễn Anh Vũ), Chương 9 "Nguyên tắc luận đoán vận hạn của Tứ Hóa phái", mục "Tam bàn thiên địa nhân".

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Vận hạn phi tinh