Bài tổng quan
Tài Bạch, Huynh Đệ, Điền Trạch: giàu nghèo, anh em và mái nhà
Có người trúng xổ số, có người trúng vé đua ngựa, lại có người cầm cùng một tờ vé mà ra về tay trắng. Tiền bạc có cánh, bay đến rồi lại bay đi, anh em lúc nâng lúc kéo lụy, và đến cái mái nhà cũng có sao đứng giữ cửa...
Mục lục · 13 phần
- 01Tiền là nguồn nuôi mệnh
- 02Giàu hay nghèo, nhìn một cái là biết
- 03Hoành tài: vì sao người này trúng, người kia trượt
- 04Tài từ trời đến
- 05Phá tài
- 06Những thế sao của cung Tài Bạch
- 07Huynh Đệ: anh em hòa hay khắc, nâng nhau hay kéo lụy
- 08Điền Trạch là nơi ăn ngủ nghỉ ngơi cả một đời
- 09Điền viên quý khí, người hợp với ruộng vườn
- 10Điền Kiếp: ruộng vườn gặp sát thì chớ đầu tư
- 11Năm nào bán điền sản
- 12Mệnh ốc sên không vỏ
- 13Những thế sao của cung Điền Trạch
Tiền là nguồn nuôi mệnh
Tài là nguồn nuôi mệnh, người không có tiền cũng như cá không có nước, làm sao sống nổi?
Tài cũng giống như quan, như mã, như chi: không được phạm xung, không được phạm hình, không được rơi vào không vong.
Một ví dụ: Canh lấy Ất làm tài
Một ông họ Cam, năm sinh mang Canh, ngày sinh mang Ất. Canh lấy Ất làm tài, nên mệnh này có tiền.
Một ví dụ khác: thập tự không có Ất nhưng có Mão
Một ông họ Giang, năm sinh mang Canh, giờ sinh là Mão. Canh lấy Ất làm tài; trong thập tự không thấy Ất, nhưng có Mão, mà Mão mang Ất theo, nên biết ông ấy có tiền.
Giàu hay nghèo, nhìn một cái là biết
Có người giàu mãi, có người nghèo mãi, và có người giàu nghèo cứ như sóng nước lên xuống.
Đời người ở thế gian, không giàu thì nghèo; giàu hay nghèo, nhìn một cái là biết. Giàu nghèo của người đời đại để có mấy dạng sau:
- Cả đời giàu có đầy đủ.
- Trước giàu sau nghèo.
- Cả đời nghèo khó.
- Trước nghèo sau giàu.
- Cả đời lên xuống bất định, lúc giàu lúc nghèo.
- Vất vả khổ sở muốn tích thêm chút tiền, nhưng chưa tới mức kỳ vọng đã tiêu mất (tục gọi là mệnh rau hẹ).
- Phát bạo, phá bạo.
- Bình bình đạm đạm sống hết một đời, chưa từng thấy những nắm tiền giấy thật lớn, cũng chưa từng nghèo đến mức không có gạo thổi cơm.
Tiền bạc có cánh, bay đến rồi lại bay đi. Làm sao giữ được nó, phải tốn tâm cơ.
Cần kiệm là trên hết, đừng cờ bạc là điều thứ hai. Ngày mưa to ngập lụt, phải nghĩ lúc khô hạn. Ngày tháng dễ qua, nợ nần khó chịu nhất. Giữ được núi xanh còn đó, không sợ thiếu củi đốt.
Chớ bảo tiền bạc là vạn năng, tiền bạc cũng có thể làm người nghẹt thở.
Hoành tài: vì sao người này trúng, người kia trượt
Cùng mua một tờ vé, kẻ ôm giải thưởng, kẻ ra về tay trắng, mà lẽ ở đâu?
Có người trúng xổ số, có người trúng hóa đơn thống nhất, có người trúng lục hợp thái, có người trúng vé đua ngựa; ngược lại cũng có người trượt. Lẽ ấy ở đâu?
Phàm người sinh năm Kỷ Mùi, hoặc trong ngũ trụ có Kỷ Mùi, thường có niềm vui hoành tài. Nếu nạp âm phối hợp tốt thì có đại tài.
Năm Kỷ Mùi, ngày Mậu Ngọ
Một ông họ Ông, năm sinh Kỷ Mùi, ngày sinh Mậu Ngọ. Lộc của Kỷ ở Ngọ, quý nhân của Mậu ở Mùi; lộc và quý nhân đạp lên nhau, nên mệnh này giàu sang đáng mong đợi.
Năm Mậu Thân, ngày Kỷ Mùi
Một ông họ Trịnh, năm sinh Mậu Thân, ngày sinh Kỷ Mùi. Quý nhân của Mậu ở Mùi, quý nhân của Kỷ ở Thân; quý nhân đạp lên nhau. Ngày ngồi Kỷ Mùi, nên thường có hoành tài.
Tài từ trời đến
Người tuổi Dậu mà gặp Mão thì tiền như từ trên trời rơi xuống, và lý do có thể nói bằng các vì sao.
Căn cứ theo Thất Chính Tứ Dư, Dậu là quê của sao Mão và sao Vị, còn Mão là chỗ trú của Thương Long. Bởi chi Dậu ngầm giấu Tân, trên Mão lại có Ất; Tân kim khắc chế Ất mộc, nên mới nói tài từ trời đến.
Một ông họ Trịnh, ngũ chi có năm Dậu và giờ Mão. Ông có vận thiên tài, thường có món tiền ngoài ý muốn.
Phá tài
Có thứ tài sinh ra đã mang theo cái búa đập vỡ chính nó.
Người sinh năm Canh lấy Ất làm chính tài. Nếu trong thập tự có Tân thì gọi là "phá tài": cả đời khó có khoản tích trữ lớn, không nên kinh doanh, nên học một nghề giỏi, hoặc theo quân, công, giáo. Cùng lẽ ấy, xét theo chi, người Canh lấy Mão làm chính tài; nếu thập tự có Dậu cũng gọi là "phá tài".
Phàm thiên can, địa chi gặp thất xung đều là "phá". Mười can Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý: can nào tính đến can thứ bảy thì thành thất xung, gọi là "phá". Mười hai chi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi: chi nào tính đến chi thứ bảy cũng là thất xung, gọi là "phá".
Những thế sao của cung Tài Bạch
Cùng một cung giữ tiền, mỗi cặp sao dựng nên một cách giàu, một cách nghèo.
Cung Tài Bạch nghèo, theo từng cung
- Tài Bạch ở Tỵ hoặc Thìn: Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão.
- Tài Bạch ở Ngọ hoặc Mùi: Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ.
- Tài Bạch ở Thân hoặc Dậu: Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi.
- Tài Bạch ở Mão hoặc Dần: Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu.
- Tài Bạch ở Tuất hoặc Hợi: Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu.
- Tài Bạch ở Sửu hoặc Tý: Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi.
Đói không chết
Tài Bạch ở các cung Giáp Thân và Ất Dậu: đói không chết.
Nước trong bình báu, ánh vàng hiện
Người mệnh Thủy ngồi ở Tý này, hoặc hành hạn đến đây, sẽ phát tài.
Tử Vi, Thiên Phủ
Tài Bạch có Tử Vi và Thiên Phủ ở Thân hoặc Dần: cả đời giàu đủ. Gặp thêm Kiếp, Không thì cuối cùng ắt phá bại.
Phát bạo, phá bạo
Tài Bạch có Tử Vi và Thất Sát ở Tỵ hoặc Hợi; Tử Vi và Phá Quân ở Mùi hoặc Sửu; Tử Vi và Tham Lang ở Dậu hoặc Mão thì chỉ mừng Hỏa Tinh, Linh Tinh. Đó là kiểu phát nhanh, bại nhanh.
Dựa trời kiếm tiền
Tài Bạch ở các cung Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Thìn, Nhâm Tuất, Nhâm Dần, Nhâm Tý: dựa vào trời mà kiếm tiền.
Không có tiền
Tài Bạch ở Ngọ đi với các chi Sửu, Tỵ, Dậu; ở Dậu đi với các chi Tý, Thìn, Thân; ở Mão đi với các chi Dần, Ngọ, Tuất; ở Tý đi với các chi Mão, Mùi, Hợi: không có tiền.
Kẻ phá gia
Tài Bạch có Hàm Trì ở Ngọ, Dậu, Mão, Tý: kẻ phá gia.
Trước giàu sau nghèo
Tài Bạch có Cô Thần ở Tỵ, Thân, Dần, Hợi; hoặc có Quả Tú ở Mùi, Thìn, Tuất, Sửu: trước giàu sau nghèo.
Sáu sát đồng cung, cuối cùng sa sút
Tài Bạch có Vũ Khúc và Thất Sát ở Dậu hoặc Mão, lại gặp sáu sát đồng cung: rốt cuộc rơi vào cảnh sa sút.
Mệnh nghèo
Tài Bạch có Thất Sát ở Dậu hoặc Mão: dù trước mắt tiền của rất nhiều, rồi cũng chậm chậm tiêu hao thành người nghèo.
Người cô cùng, tính cô độc, láng giềng bất hòa
Người cô cùng có cá tính cô độc, láng giềng không hòa thuận, thường thiếu tiền dùng. Thế này gặp ở những cung sau:
- Cung can Quý: Quý Tỵ có Liêm Trinh, Tham Lang; Quý Mùi có Vũ Khúc, Tham Lang; Quý Dậu có Tử Vi, Tham Lang; Quý Mão có Tử Vi, Tham Lang; Quý Sửu có Vũ Khúc, Tham Lang; Quý Hợi có Liêm Trinh, Tham Lang.
- Cung can Bính: Bính Ngọ có Liêm Trinh, Thiên Tướng; Bính Thân có Liêm Trinh; Bính Thìn có Liêm Trinh, Thiên Phủ; Bính Tuất có Liêm Trinh, Thiên Phủ; Bính Dần có Liêm Trinh; Bính Tý có Liêm Trinh, Thiên Tướng.
- Cung can Canh: Canh Ngọ có Liêm Trinh, Thiên Tướng; Canh Thân có Vũ Khúc, Thiên Tướng; Canh Thìn có Tử Vi, Thiên Tướng; Canh Tuất có Tử Vi, Thiên Tướng; Canh Dần có Vũ Khúc, Thiên Tướng; Canh Tý có Liêm Trinh, Thiên Tướng.
- Cung can Ất: Ất Tỵ có Thái Âm; Ất Mùi có Thái Dương, Thái Âm; Ất Dậu có Thái Âm; Ất Mão có Thái Âm; Ất Sửu có Thái Dương, Thái Âm; Ất Hợi có Thái Âm.
- Cung can Nhâm: Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Thìn, Nhâm Tuất, Nhâm Dần, Nhâm Tý đều có Vũ Khúc.
Người trên biển, sự nghiệp đại khởi đại lạc
Quan Lộc đóng ở Tỵ, Thân, Dần, Hợi thì sự nghiệp lên xuống rất lớn.
Từ nghèo rớt phát lên hàng trăm triệu rồi sạch trơn
Tài Bạch có Đà La ở Thân. Mệnh này từ nghèo rớt phát tài lên hàng trăm triệu, được bao lâu thì một đêm thủy tai, nhà máy bị lũ cuốn sập, lại từ hàng trăm triệu rơi xuống số không.
Làm sao biết bạn là kẻ nghèo rớt
Thái Dương ở cung Giáp Tuất, và Tài Bạch có Thái Dương ở cung Giáp Tý: nghèo rớt mồng tơi.
Người chạy theo tiền
Tài Bạch có Liêm Trinh, Tham Lang ở Tỵ hoặc Hợi: cả đời vì tiền bạc mà bôn ba.
Huynh Đệ: anh em hòa hay khắc, nâng nhau hay kéo lụy
Mệnh của ta với mệnh anh chị em, mỗi bên có an phận được hay không còn tùy vào chỗ nào vượng, chỗ nào giận.
Nếu ta vượng thì khắc người kia, người kia giận thì thù ta, ắt không hòa mà sinh tranh cãi. Huynh Đệ cung tọa Không Vong, Kiếp Sát: chủ anh em bần tiện. Cô, Quả ở đó thì anh chị em đơn bạc. Quan Phù ở đó thì anh em kiện nhau chốn công đường. Dương Nhận, Sát ở đó ắt mang tật. Thiên Mã vào cung Huynh Đệ thì mỗi người chạy một ngả đông tây. Hàm Trì ngồi đó thì anh em mê luyến tửu sắc.
Rồi phải xem chủ tinh ra sao. Huynh Đệ gặp quý nhân thì anh em có thành tựu. Huynh Đệ có Không, Kiếp thì bị anh em kéo lụy. Huynh Đệ cung ưa thiện tú như Thiên Đồng, Thiên Cơ, Thiên Lương thì anh em trường thọ.
Huynh Đệ là cung Phúc Đức của cung Tử Nữ, là cung Thiên Di của cung Phu Thê, là cung Nô Bộc của cung Quan Lộc. Cho nên Huynh Đệ tốt thì sự nghiệp của mình có thành; Huynh Đệ không tốt thì sự nghiệp của mình cũng không tốt.
Anh em bất hòa
Phàm mệnh Giáp mộc vượng ở Dần, nếu Mão nhiều thì anh em bất hòa, há chẳng phải là mệnh sao? Ví dụ: năm Giáp, tháng Mão, ngày Giáp, giờ Mão. Một Giáp gặp hai Mão thì anh em bất hòa, huống chi Giáp có Dương Nhận ở Mão: mệnh này đâu chỉ anh em bất hòa, e còn nhiều chuyện bất hạnh hơn.
Chịu anh em liên lụy
Năm Canh Ngọ, tháng có Tỵ. Lộc của Canh ở Thân, Ngọ mã cũng ở Thân, trụ tháng có Tỵ: lộc bị mã phá, chủ chịu anh em liên lụy.
Anh trai mất, em trai mất
Mệnh phạm Thất Sát, Giáp gặp Canh (năm Canh, ngày Giáp): biết có người anh mất. Mệnh phạm Thất Sát, Giáp gặp Tân (năm Tân, ngày Giáp): biết có người em mất.
Vì anh em mà phá tài phá nghiệp
Huynh Đệ có Cự Môn ở Thìn, Lộc ở tứ mộ là phá tài, đặc biệt kỵ ngồi ở lục thân: lục thân tham tâm không đủ, lợi dục hun đốt lòng.
Các thế của cung Huynh Đệ
- Thiên Mã ở Tỵ, Thân, Dần, Hợi: anh em mỗi người chạy một ngả đông tây.
- Thiên Hình ở Mùi hoặc Sửu: trong anh em có người xuất gia, gặp hỏa tai, quan tụng.
- Hóa Lộc ở Mùi, Thìn, Tuất, Sửu: anh em vô tình.
- Kiếp Sát ở Tỵ, Thân, Dần, Hợi: anh em bần tiện.
- Không Vong ở cả mười hai cung: anh em không giúp được sức, bần tiện; như năm Giáp Thìn, Không Vong ở Dần, Mão mà ngồi cung Huynh Đệ thì anh em bần tiện.
Điền Trạch là nơi ăn ngủ nghỉ ngơi cả một đời
Điền Trạch là nơi người ta ăn, ngủ, nghỉ ngơi suốt đời. Người xưa hễ có tiền là dựng nhà trước, cũng như người nay có tiền là mua nhà trước, vì nó liên quan rất lớn đến nếp sống thường ngày. Người đời chỉ biết đến thế, nhưng thật ra người xưa còn dặn: xem nữ mệnh phải xem cung Điền Trạch. Nếu có Hình, Tù, ác sát, ám hao ngồi ở cung ấy thì đều chủ phá tài, nhà ngoại lụn bại, anh chị em vô tình.
Những điều nên nhớ
- Điền Trạch không ưa có Không, Kiếp: có thể bị trộm, hoặc phải bán nhà.
- Người trụ ngày có Kiếp Sát không nên dùng tên mình để mua bất động sản, cũng không nên đem bất động sản đi thế chấp.
- Điền Trạch có Hữu Bật hoặc Tả Phụ: người này rất yêu nhà, biết lo cho tổ ấm.
- Đại hạn đi qua Đà La thì phải dọn nhà. Một là có thể sự nghiệp thất bại, bán nhà, nhất định phải dọn. Hai là có thể mua nhà mới nên phải dọn, hoặc di dân ra nước ngoài.
- Điền Trạch ưa nhất Tham Lang cùng Hỏa Tinh, Linh Tinh, hoặc Vũ Khúc, Tham Lang cùng Hỏa Tinh, Linh Tinh: ắt phát tài.
- Điền Trạch ngồi ở tứ mã địa thì nên ở nông thôn.
Mỗi sao một kiểu nhà
- Tử Vi (và các sao tổ hợp theo nó), Thiên Đồng (và các sao tổ hợp theo nó): trong nhà bày biện nên hoa lệ, sặc sỡ nhiều màu.
- Thái Dương (và các sao tổ hợp theo nó): nên ở lầu cao, đất cao.
- Thái Âm (và các sao tổ hợp theo nó): nên ở tầng một hoặc tầng hai, đừng ở lầu cao.
- Thiên Đồng, Thái Âm: nên ở biệt thự, có vườn hoa, ao cá.
- Thiên Diêu: trong nhà có thể nuôi chim, bồ câu; nhà ở phải đề phòng dột mưa hoặc ngập nước.
- Thiên Hình: trong nhà có thể nuôi chó, khỉ.
- Thiên Cơ, Thiên Lương: vãn niên sẽ tậu sản.
- Dương Nhận: nhà gần nơi ồn ào.
Điền Trạch tốt thì cái gì cũng tốt, vì Điền Trạch là cung Quan Lộc của cung Phu Thê, là cung Phụ Mẫu của cung Tử Nữ, là cung Tài Bạch của cung Huynh Đệ.
Hỏa Tham tọa Điền Trạch, lầu cao mọc từ đất bằng.
Điền viên quý khí, người hợp với ruộng vườn
Có người sinh ra đã có lộc, có quý nằm ở nơi đất đai.
Sau Mệnh sáu chi là điền viên. Nếu ở đó có lộc, hoặc có quý nhân, thì gọi là "điền viên quý khí", chủ cát, chủ giàu, chủ vượng. Người này hợp làm ở đơn vị nông lâm, hoặc phục vụ cho hội nông nghiệp. Nếu không làm quan, tự mình kinh doanh nông trường, vườn cây, hoa viên, bất động sản, đều phát tài.
Năm Tân Sửu, giờ Ngọ
Một ông họ Liễu: sau Sửu sáu chi là Ngọ, quý nhân của Tân ở Ngọ. Ông hợp làm ở đơn vị nông lâm và hội nông nghiệp.
Năm Đinh Sửu, giờ Ngọ
Một ông họ Dư: sau Sửu sáu chi là Ngọ, lộc của Đinh ở Ngọ. Ông có điền viên quý khí, có thể đầu tư bất động sản, vườn cây ăn quả.
Điền Kiếp: ruộng vườn gặp sát thì chớ đầu tư
Cùng sáu chi ấy, nhưng nếu có sát tinh đứng đó thì đất đai chẳng còn là chốn nương thân.
Sau Mệnh sáu chi là điền viên. Nếu ở đó có Kiếp Sát, Không Vong, xung, khắc, hại, phá thì không thể đầu tư bất động sản.
Một ông họ Cao, năm Ngọ, ngày Hợi: sau Ngọ sáu chi là Hợi; người tuổi Ngọ gặp Hợi là Kiếp Sát, nên mệnh này không nên đầu tư bất động sản.
Năm nào bán điền sản
Có những năm, đất đai tự tìm đường rời khỏi tay người.
Vận gặp Đại Hao thì năm đó có thể bán đất đai nhà cửa. Tính theo năm sinh và Thái Tuế như sau: sinh năm Tý thì gặp năm Ngọ; Sửu gặp Mùi; Dần gặp Thân; Mão gặp Dậu; Thìn gặp Tuất; Tỵ gặp Hợi; Ngọ gặp Tý; Mùi gặp Sửu; Thân gặp Dần; Dậu gặp Mão; Tuất gặp Thìn; Hợi gặp Tỵ. Nếu năm ấy không bán điền sản thì cũng luận như phá tài.
Mệnh ốc sên không vỏ
Có người đi hết nửa đời mà vẫn chưa có nổi một mái nhà.
Cả đời bần khốn, phiêu linh, không có bất động sản. Tính theo năm sinh và giờ sinh: Giáp Thìn giờ Dần; Ất Tỵ giờ Mão; Bính Thân giờ Tỵ; Đinh Hợi giờ Ngọ; Mậu Tuất giờ Tỵ; Kỷ Sửu giờ Ngọ; Canh Thìn giờ Dậu; Tân Tỵ giờ Dậu; Nhâm Thân giờ Hợi; Quý Hợi giờ Tý.
Nửa đời cay đắng, một căn nhà khó cầu. Tuổi đã nửa trăm, không sức cưới vợ.
Những thế sao của cung Điền Trạch
Từ bãi đất trống đến căn nhà nhìn thấy cảnh cháy, mỗi cặp sao dựng nên một câu chuyện riêng của mái nhà.
Điền và Tài cùng ngồi tứ mã
Điền Trạch và Tài Bạch cùng ở Tỵ, Thân, Dần, Hợi: thành bại hưng vong chỉ trong khoảnh khắc.
Địa chủ cách
Điền Trạch có Vũ Khúc, Tham Lang, Hỏa Tinh (hoặc Linh Tinh) ở Mùi, Sửu; hoặc Tham Lang, Hỏa Tinh (hoặc Linh Tinh) ở Thìn, Tuất. Nên đầu tư bất động sản, mệnh này ắt phát tài.
Đào hoa mệnh
Điền Trạch có Tham Lang ở Ngọ, Thân, Thìn, Tuất, Dần, Tý. Người này nên giữ bốn điều: chớ ra bờ biển bơi lội, câu cá, tận lượng không đi thuyền; nên giữ mình sạch sẽ, biết tự thương mình; chớ tự làm ra vẻ đa tình; chớ ân cần dâng người phụ nữ, chớ khoe mẽ.
Trong nhà có người tự kết liễu đời mình
Điền Trạch ở Ngọ với can Bính hoặc Mậu; ở Mùi với can Đinh hoặc Kỷ; ở Sửu với can Quý; ở Tý với can Nhâm.
Thiên Tướng ở Dậu hoặc Mão
Một là nên ở nhà cũ, nhà tổ. Hai là nếu mua nhà mới, nên chú ý mương thoát nước, hoặc cảnh môi trường bẩn loạn, ồn ào.
Đột nhiên mua nhà, đột nhiên bán nhà
Điền Trạch ở Sửu với can Kỷ, hoặc ở Tý với can Mậu.
Trong nhà đề phòng trộm vặt
Điền Trạch ở các cung can Đinh: Đinh Tỵ có Cự Môn; Đinh Mùi có Thiên Đồng, Cự Môn; Đinh Dậu có Thiên Cơ, Cự Môn; Đinh Mão có Thiên Cơ, Cự Môn; Đinh Sửu có Thiên Đồng, Cự Môn; Đinh Hợi có Cự Môn. Nhất kỵ thêm Kiếp, Không.
Nhà ở gần nơi quá ồn
Điền Trạch có Thiên Cơ ở Mùi hoặc Sửu: nhà ở gần nơi quá ồn ào; nếu thêm Dương Nhận thì càng không yên.
Vì tài sản mà kiện tụng
- Điền Trạch có Quan Phù, ở cả mười hai cung.
- Điền Trạch ở Dậu hoặc Mão có Thiên Cơ, Cự Môn, Hóa Kỵ, sát tinh, Thiên Hình (cung can Đinh hoặc Mậu).
- Điền Trạch có Dương Nhận cùng Tử Vi ở Ngọ; Tử Vi, Phá Quân ở Mùi hoặc Sửu; Tử Vi, Tham Lang ở Dậu hoặc Mão; Tử Vi, Thiên Tướng ở Thìn hoặc Tuất; Tử Vi ở Tý.
- Điền Trạch có Ngũ Quỷ, ở cả mười hai cung.
Năm sinh hóa Kỵ ngồi Điền Trạch
Thị phi nhiều. Nếu lại tự hóa Kỵ, e có tai ương lao ngục.
Thiên Hình ngồi Điền Trạch
Điền Trạch có Thiên Hình ở cả mười hai cung: trong nhà có thể nuôi một con chó nhỏ. Nếu không có chó thì khỉ cũng được. Nếu ghét chó thì mua một con chó giả cũng được; chó giả là chó đồ chơi.
Nhà sẽ bị cháy
Điền Trạch có Thiên Hình, Hỏa Tinh (hoặc Linh Tinh) ở Mùi hoặc Sửu: nhà sẽ bị cháy.
Mất của hàng trăm triệu trong một đêm
Điền Trạch có Tử Vi, Tham Lang, Địa Kiếp ở Mão. Người này phá tài hàng trăm triệu: nhà máy bị nước lớn cuốn đi, máy móc, nguyên liệu, thành phẩm một đêm sạch trơn.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Bổ Mệnh Thư, quyển 3.
