Bài tổng quan
Cách chấm điểm hạn chuyển động và những dáng ngựa Thiên Mã
Gói hành trang đã xếp xong, con ngựa đã cất vó, nhưng điều chưa ai biết là chuyến đi này gần hay xa. Có một cách chấm điểm từng dấu hiệu chuyển động ngay trên hạn rồi cộng lại thành quãng đường. Nhưng chỉ cần một ngôi sao ngăn lối thì…
Chấm điểm để biết hạn nào có chuyển động
Nhìn một cái hạn, ta thường muốn biết trong thời gian ấy người ta có đi lại, dọn chỗ, xuất hành hay không, và đi gần hay đi xa. Phương pháp dưới đây là cách cho điểm: càng nhiều dấu hiệu chuyển động tụ lại ở đại hạn và tiểu hạn thì điểm càng cao, và điểm càng cao thì chuyến đi càng xa. Có thể làm theo ba bước: chấm đại hạn, chấm tiểu hạn, rồi cộng lại.
Chấm điểm ở đại hạn
Nếu đại hạn có các sao sau hội họp (kể cả xung chiếu): Tham Lang, Vũ Khúc, Cự Môn, Thiên Đồng, thì cho một điểm. Nếu thấy bộ Long Hà Phi, hoặc bộ Đào Hà Triệt, thì thêm một điểm rưỡi. Nếu đại hạn rơi vào cung Thiên Di (kể cả đại hạn đóng tại Mệnh vì có Di xung) thì thêm một điểm; theo ghi chú của sách, đó là các cung Phúc, Mệnh, Di, Phối. Cộng lại, đại hạn tối đa chỉ có ba điểm rưỡi. Kết luận tạm thời: một điểm là không đáng kể, hai điểm là mạnh, từ ba tới ba điểm rưỡi là rất mạnh.
Chấm điểm ở tiểu hạn
Tiểu hạn chấm tương tự: có Tham, Vũ, Cự, Đồng hội họp (kể cả xung chiếu) thì một điểm; có Long Hà Phi hoặc Đào Hà Triệt thì một điểm rưỡi; có bộ Phượng Mã Khách thì thêm một điểm rưỡi; tiểu hạn rơi vào Thiên Di (kể cả tại Mệnh vì có Di xung) thì thêm một điểm. Tiểu hạn cũng chỉ tính tối đa ba điểm rưỡi, và kết luận tạm thời như ở đại hạn.
Cộng hai hạn lại
Dưới hai điểm là yếu, không đáng kể. Từ hai tới ba điểm rưỡi vẫn xem là yếu. Từ bốn tới năm điểm là mạnh, đạt chuẩn chuyển động gần. Từ năm điểm sáu trở lên là rất mạnh, đạt chuẩn đi xa. Từ sáu điểm trở lên là quá mạnh; cao nhất là bảy điểm, đạt chuẩn đi rất xa.
Điểm thưởng và điểm bị trừ
Chưa đủ điểm hay đã đủ rồi vẫn còn được cộng thêm, bằng cách đặt bản đồ sao lưu động của năm và tháng lên đại hạn. Lấy ví dụ cụ thể của tác giả: trên bản đồ sao lưu động năm Kỷ Sửu, nếu đại hạn đóng ở cung Tý hoặc cung Mão thì thêm một điểm; trên bản đồ sao lưu động tháng Canh Ngọ, nếu đại hạn ở Thân, Tý, Thìn thì thêm một điểm. Nói gọn lại, đại hạn đóng ở Tý hay Mão được cộng hai điểm, ở Thân hay Thìn được một điểm; sau khi cộng điểm thưởng, cao nhất có thể lên tới chín điểm. Lưu ý các điểm thưởng này chỉ có giá trị cho tháng năm âm lịch năm Kỷ Sửu, vì mỗi năm mỗi tháng bản đồ sao lưu động khác nhau.
Nếu Mệnh có bộ Phượng Mã Khách hay Long Hà Phi, Đào Hà Triệt thì được thưởng thêm một điểm, vì những người này vốn có khuynh hướng hay đi lại. Thân cư Thiên Di cũng thưởng một điểm, vì người này tấm thân dễ bị động; đây là Thân bị động, khác với trường hợp trên là ý luôn luôn thích động. Ngược lại, nếu tại hạn hay cung Thiên Di hình thành các bộ Cự Kỵ, Cự Đà Kỵ, Kỵ Triệt thì bị trừ hai điểm. Các sao Kỵ Đà Triệt không nhất thiết cố định mà lưu động thấy xuất hiện ở tháng ấy cũng là khó chuyển động.
Vì sao những sao này lại là dấu hiệu chuyển động
Cái nào là cỗ xe, cái nào là con đường, cái nào là dấu chân còn lại trên cát.
Cự Môn chủ cự ly, khoảng cách đi xa, nhất là khi có Long Hà Phi (rồng chuyển) và Phượng Mã Khách (ngựa cất vó). Nhưng nếu Cự Môn gặp Kỵ, nhất là Kỵ Đà, thì dễ gây trở ngại; hoặc là bị uy hiếp, ép buộc mà đi, đi với tính chất bị xua đuổi. Vũ Khúc chủ dấu vết người đi xa để lại, như dấu chân trên cát, chứng tỏ người đó đã đi xa rồi, và hợp với cả hai nhóm sao chuyển động. Tham Lang và Thiên Đồng luôn nhị hợp nhau, có một chi tiết giống nhau: Tham Lang thường cùng tham gia, tham dự, tham quan; Thiên Đồng thì cùng với ai đó làm gì. Vì thế hai sao này đi có tính tập thể hay vì công việc chung, hay được đi nhờ, đi theo, nhất là khi gặp hai nhóm sao chuyển động kể trên.
Bộ Long Hà Phi là bộ rồng chuyển: Thanh Long là con rồng, Lưu Hà chủ sự chuyển động, Phi chủ sự bay. Gọi là rồng chuyển nghe hay ho ấn tượng, nhưng thực chất chủ việc thu xếp hành trang để đi lại, như câu “đây gói hành trang xếp lại cho tròn để anh đi nhé”. Bộ Đào Hà Triệt thì cố định cũng như lưu động hằng năm, tháng, ngày đều xuất hiện, khi không hình thành bộ Long Hà Phi (hoặc cả khi hình thành). Bộ sao này tự gây ra sự chuyển động. Trong tháng Canh Ngọ mà tác giả lấy làm ví dụ, bộ sao xuất hiện ở cả ba cung Hợi Mão Mùi, kích thích sự chuyển động của khá nhiều người; mạnh hơn nếu đó là tiểu hạn hay đại hạn ở cung Thiên Di, và còn mạnh hơn nữa khi có các chính tinh ưa động như Cự Môn, Vũ Khúc, Tham Lang, Thiên Đồng. Bộ Đào Hà Triệt còn mạnh thêm khi có bộ Khôi Việt hội họp, nên cung Mùi là mạnh nhất. Bộ Phượng Mã Khách là hình ảnh người khách ngồi trên mình ngựa (hoặc xe) đang chuyển động, lệch pha với Long Hà Phi: khi hai hạn chiếm đủ cả hai bộ, hoặc một hạn có bộ này mà cung Thiên Di có bộ kia, thì chuyển động rất mạnh. Trên bản đồ sao tháng Canh Ngọ, ba cung Thân, Tý, Thìn chịu tác động này; nếu đại hạn của bạn ở đó thì nói chung lợi cho đi lại. Đi sâu hơn thì xem lý do: đi vì thương nhớ như ở cung Thân (gặp Lộc Tồn), vì tương trợ như ở cung Tý (Tướng Quân), vì bị xúc phạm, hay vì đau yếu như ở cung Thìn (Bệnh Phù).
Để dễ hình dung, tác giả cho xem bản đồ sao lưu động của tháng Canh Ngọ, trong đó cung Mùi hiện ra mạnh nhất. Hãy hình dung tiểu hạn ở Mùi, đại hạn ở Thân. Tính chuyển động mạnh: Mùi là Thiên Di, lại có chính tinh ham đi; đại hạn cũng có nhóm sao ham chuyển động, nên sự đi lại lên cao.
Thiên Mã đi cùng những sao nào thì ra sao
Con ngựa cất vó là một chuyện, nhưng nó lên yên, xuống yên hay gãy chân giữa đường lại là chuyện khác hẳn.
Dưới đây là vài bộ sao về Thiên Mã thường gặp nhất khi xét chuyện đi lại; riêng về ngôi sao này, còn nhiều điều cần bàn thêm ở chỗ khác. Các sách Tử Vi gọi Hao Mã là dâm mã, nhưng nên quên chuyện ấy đi: nó chủ lộ phí, sự tốn kém về xe cộ hay thay đổi xe cộ. Mã Đà chủ xuống ngựa, coi như đi xong rồi; hoặc chạy một vòng thăm viếng, đi tuần, chứng tỏ có đi lại thăm viếng; cũng chủ sự hoàn tất của chuyến đi, đi rồi và xong việc ấy rồi. Các sách gọi chiết túc mã, ngựa què giò, thì đi đâu cũng lo ngay ngáy; hãy quên chuyện ấy.
Mã Kình chủ lên ngựa, tính chuyển động mạnh hơn: lên ngựa thì phải đi. Mã Triệt chủ ngựa trên đường, đi được nửa đoạn đường, còn đi, đang đi; nếu bị Kỵ thì nửa chừng phải quay lại, nhất là bộ Mã Binh Kỵ Triệt. Tuần Mã chủ đã đi xong trọn vẹn, hoàn thành nhiệm vụ tự đề ra hay do ai giao; đi và đã quay về. Cũng nên quên chuyện coi Mã Tuần, Mã Triệt là tử mã, để việc đi lại được an tâm.
Những trường hợp không nên đi: Mã Hỏa gợi hình ảnh xe cứu hộ, cứu thương, xe cứu hoả, loại xe chuyên dụng mà ngay người dùng nó còn gây ra tai nạn, huống chi ta; nên không đi lại thì tốt, vì dễ gặp nguy hiểm (xe cứu thương đưa về); nhưng ác thay khi gặp bộ này ta thường có việc khẩn phải đi, đi vì chuyện khẩn hay vì giận hờn tức mình nên dễ tai nạn. Mã Hình là con ngựa bị thương vì vật sắt nhọn, tay chân dễ thương tích, dao kéo của bác sĩ ghé thăm, đồng thời dễ vi phạm pháp luật khi đi lại, tức là phạm luật giao thông; nếu thêm Kỵ thì rách việc, nhận lỗi về mình để tránh sinh chuyện, đã sai còn cãi. Lộc Mã Tuế Không Kiếp: nếu thấy hình thành bộ này thì đi lại rất đáng sợ, không đi họa cũng đến, chủ sự sụp đổ; đó là bộ sao có Thiên Mã gây ấn tượng xấu nhất.
Cách làm: đặt bầu trời của năm, tháng lên hạn
Khi bàn cờ đã bày xong, điều còn lại là xem bầu trời mới của từng tháng đè lên nó thế nào.
Đến đây ta chỉ cần nắm một số chính tinh ưa chuyển động và một số bộ sao, cung Thiên Di, rồi khảo sát các sao lưu động của năm và tháng đặt lên đó để luận. Tác giả cho rằng không dùng lưu niên, lưu nguyệt theo cách cũ vì thiếu chính xác; qua nghiệm chứng ông mày mò phối hợp sao lưu động của năm tháng lên tiểu hạn, đại hạn và các cung, thấy vô cùng chính xác và dễ dàng. Tất cả đứng im tại chỗ, chỉ lấy bầu trời của tháng mới áp đặt vào. Muốn biết đi lại thì xem cung Di; quan tâm tai ách thì xem cung Tật; tiểu hạn không thấy thị phi mà cung Tật thì náo loạn cả lên. Chuyện tiền bạc thì xem cung Tài, hoặc nhóm sao tài lộc là Vũ Khúc, Thiên Lương may mắn, Thiên Đồng phát phúc; có được lưu Khôi Việt hay không, nếu có thì gọi là phát. Bởi thế kỵ gặp Không Kiếp lưu Khôi Việt, Kỵ Hình lại lưu thêm Khôi Việt.
Xung đột vì chuyện đi lại
Hai bộ sao giống hệt nhau, đứng đối diện nhau, không ai chịu nhường đường.
Ví dụ trong tháng năm Canh Ngọ: đại hạn và cả cung Thiên Di của bạn ở cung Dần, có bộ Lộc Mã cố định (chỉ tuổi Giáp mới có cách này), sẽ bị xung đột vì đi lại vì tại cung Thân hiện có bộ Lộc Mã y hệt xung chiếu. Hai bộ sao giống hệt nhau nhưng đứng ở vị trí xung chiếu thì gây mâu thuẫn. Tương tự, đại hạn, tiểu hạn hay cung Thiên Di đang ở Mão gặp Lưu Hà (chữ Canh an tại Mão) sẽ xung đột với đại hạn, cung Thiên Di đang ở Dậu có Lưu Hà cố định; tất nhiên người ấy tuổi Giáp mới có Lưu Hà ở đó. Đi lại là mối nguy cơ dễ gây té ngã rất cao. Trong cách Tang Mã hàm chứa sự té ngã, nó chủ tang tích ở tay chân. Ta quan phòng nó khi có bộ sao cùng tên, tức Lưu Tang Mã ở dạng lưu động, xuất hiện ở vị trí xung chiếu hay ở cung Tật Ách; tức là bàn tới vấn đề dưới dạng tai ách, có khi là tai ách của người thân.
Bài viết này có thể gây khó khăn cho người mới học Tử Vi, nhưng không khó mấy cho các bạn đã có trình độ mà chưa có cơ sở. Hôm nay chưa hiểu thì ngày mai sẽ hiểu; tháng này chưa hiểu thì tháng sau; có khi phải nhiều năm sau. Từ đó, hy vọng bạn hiểu rõ khái niệm đi lại và nhóm sao cần gặp, cũng như thấy rằng cung cần quan tâm là Thiên Di có động đậy hay không.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
