Bài tổng quan
Ranh giới giữa lá số trung bình và lá số cực xấu
Không phải ai cũng có lá số tối hảo hay cực xấu rõ rệt — phần đông rơi vào khoảng giữa, nơi sinh vượng lẫn với bại tuyệt, phú quý lẫn với dở dang. Đi hết ranh giới đó, khoa Tử Vi còn dừng lại ở một câu hỏi ít ai ngờ: sao trong lá số có mô tả được nhan sắc con người…
Điều kiện tối hảo về âm dương, ngũ hành (tiếp)
Những lợi điểm về ngũ hành
Trước hết là tương sinh giữa Bản Mệnh và Cục. Nếu hành Cục sinh hành Mệnh thì Mệnh được lợi. Nếu hành Mệnh sinh hành Cục thì kém hơn nhưng cũng còn tốt. Nếu cả 2 đồng hành thì trung bình.
Kế đến là tương sinh ngũ hành tuần tự giữa cung Mệnh và chính tinh thủ Mệnh, rồi giữa chính tinh này và Bản Mệnh. Ví dụ cung Mộc sinh sao Hỏa, sao Hỏa sinh lại Mệnh Thổ. Bản Mệnh được 2 hệ cấp phù sinh. Nếu cung Mệnh vô chính diệu thì chỉ cần cung Mệnh có hành sinh Bản Mệnh: trường hợp kém tốt.
Thứ ba là tương sinh giữa hành của cung và hành sao tọa thủ. Ở bất luận cung nào, nếu hành cung phù sinh hành sao, bất luận chính hay phụ tinh, thì tốt cả. Theo qui tắc này, sao Hỏa ở cung Mộc thì thịnh hơn ở những cung khác. Nếu 2 hành tương hòa thì kém tốt.
Những lợi điểm về sinh, vượng địa của cung an Mệnh
Trong quyển Tử-Vi Hàm Số trang 48 của tác giả, bảng liệt kê lợi địa có chỗ được hiệu chỉnh theo bảng dưới đây, xét ra hợp lý hơn.
| Bản Mệnh | Sinh địa | Vượng địa | Bại địa | Tuyệt địa |
|---|---|---|---|---|
| Mộc | Hợi (Âm Thủy, nước lạnh) | Dần (Dương Mộc) / Mão (Âm Mộc) | Tý (Dương Thủy, nước nóng) | Thân (Dương Kim, kim cứng) |
| Hỏa | Dần (Dương Mộc, cây to khô) | Tị (Âm Hỏa) / Ngọ (Dương Hỏa) | Mão (Âm Mộc, cây nhỏ tốt tươi) | Hợi (Âm Thủy, nước lạnh) |
| Thổ | Tị (Âm Hỏa, lửa ấm) | Thìn, Tuất (Dương Thổ) / Sửu, Mùi (Âm Thổ) | Ngọ (Dương Hỏa, lửa nóng) | Dần (Dương Mộc, cây to lớn) |
| Kim | Thìn, Tuất (Dương Thổ, đất nóng) | Thân (Dương Kim) / Dậu (Âm Kim) | Sửu, Mùi (Âm Thổ, đất lạnh) | Ngọ (Dương Hỏa, lửa nóng) |
| Thủy | Dậu (Âm Kim, kim lỏng) | Hợi (Âm Thủy) / Tý (Dương Thủy) | Thân (Dương Kim, kim đặc) | Thìn, Tuất (Dương Thổ, đất nóng) |
Cung an Mệnh có thể là:
Sinh địa, tức là thuận âm dương, thuận ngũ hành.
Vượng địa, tức là chỉ cần thuận ngũ hành.
Tuyệt địa, tức là nghịch âm dương, nghịch ngũ hành.
Cung Mệnh chỉ lợi khi ở vào 2 trường hợp sinh và vượng địa. Ví dụ: Mệnh Mộc chỉ sinh địa khi gặp Âm Thủy, nước lạnh, cây tươi tốt: Mệnh Hỏa chỉ sinh địa nếu gặp Dương Mộc, cây to và khô, dễ sinh hỏa lâu dài: Mệnh Thổ chỉ sinh địa khi gặp Âm Hỏa, lửa ấm, thấm thuần lòng đất vừa phải: Mệnh Kim chỉ sinh địa nếu gặp Dương Thổ, đất nóng ở sâu, chỗ ở của kim khí: Mệnh Thủy chỉ sinh địa khi gặp Âm Kim, tức là kim khí trong trạng thái chảy.
Trường hợp vượng địa kém tốt hơn, chỉ cần ngũ hành tị hòa giữa Bản Mệnh và cung Mệnh, có thể ở Âm hay Dương cung. Có thể nói thêm rằng những người tuổi Dương thì hòa với cung Dương, tuổi Âm hòa với cung Âm. Ví dụ như Dương Nam (hay Dương Nữ) mà Mệnh Mộc thì tốt nếu cung Mệnh đóng ở Dần, Dương Mộc: Âm Nam (hay Âm Nữ) mà Mệnh Mộc cũng tốt nếu cung Mệnh đóng ở Mão, Âm Mộc. Dương Mộc, Dương Nam, Dương Nữ, Mệnh Mộc mà cung Mệnh đóng ở Mão, Âm Mộc thì kém hơn: Âm Nam, Âm Nữ, Mệnh Mộc mà cung Mệnh đóng ở Dần, Dương Mộc cũng vậy.
Nếu sinh địa lợi bao nhiêu thì tuyệt địa lợi bấy nhiêu. Gặp tuyệt địa, Bản Mệnh bị khắc cả Âm Dương lẫn Ngũ Hành. Ví dụ như Mệnh Hỏa cung Hợi, Âm Thủy, nước lạnh sẽ dập tắt lửa nóng: Mệnh Kim cư Ngọ, Dương Hỏa, lửa nóng đốt mất chất kim khí, Kim không còn trọn vẹn. Trong những trường hợp tuyệt địa, nguyên tắc thuần cách bị phá tán bằng cả Âm Dương và Ngũ Hành nghịch lý, cực kỳ bất lợi cho Mệnh.
Đối với bại địa, còn có tương thuận về ngũ hành giữa Bản Mệnh và cung Mệnh. Nhưng nguyên tắc Âm Dương bị nghịch lý. Ví dụ người Mệnh Mộc đóng ở Tý là Dương Thủy, nước nóng, sẽ không lợi vì nước nóng làm cây héo. Dù sao, bại địa còn nhẹ hơn tuyệt địa vì cây héo nhưng không hẳn là chết. Trong trường hợp này, nếu Mệnh là loại thảo mộc, nhỏ như Bình địa mộc (cây cỏ ở đồng bằng) hay Dương liễu mộc (cây dương liễu) sẽ bất lợi hơn loại cây lớn như Đại lâm mộc (cây trong rừng lớn) hay Tùng Bách mộc (cây tùng, cây bách). Trong cách bại địa, dù sao cũng còn có đường sinh khả hữu, còn gặp tuyệt địa thì rất ngặt nghèo, tuyệt đường sinh lộ.
Sự phân tích trên cho thấy khoa Tử-Vi cũng khá tinh vi trong nhiều trường hợp.
Điều kiện tối hảo về cung cường
Lá số tốt đòi hỏi những cung cường phải tốt: đó là những cung Phúc, Mệnh, Thân, Quan, Tài, Di cho nam giới và những cung Phúc, Mệnh, Thân, Phu, Tài cho nữ giới.
Cung tốt bao hàm nhiều điều kiện:
Chính tinh toạ thủ phải miếu, vượng hay đắc địa.
Có nhiều cát tinh hợp vị trí đóng.
Tránh được hung sát tinh không hợp cách.
Nếu vô chính diệu thì hội Tứ Không, Tam Không hoặc ít ra là Nhị Không.
Điều kiện tối hảo về cách
Khoa Tử-Vi có những cách sau đây: Tử, Phủ, Vũ, Tướng cách. Sát, Phá, Liêm, Tham cách. Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương cách. Nhật, Nguyệt cách. Cự, Nhật cách. Vô chính diệu cách.
Lá số tốt phải có những đặc điểm sau:
Phải hội đủ cách, có nghĩa là phải đủ các sao trong một cách, có thể dư nhưng không được thiếu.
Phải đắc địa, nghĩa là các sao trong cách phải miếu, vượng hay đắc địa, nhất là những sao của cung cường.
Nếu thiên về ưu cách càng hay. Khoa Tử-Vi có xu hướng coi Tử, Phủ, Vũ, Tướng như một mưu cách, trội hơn những cách khác.
Phải có phụ tinh tốt trợ giúp cách, đặc biệt là quý cục và phú cục trợ cách.
Điều kiện tối hảo về sao
Chính tinh đã được nói ở phần cách. Còn đối với phụ tinh, cũng phải có những lợi điểm sau:
Phụ tinh phải hợp cách với chính tinh, nghĩa là văn tinh đi chung, võ tinh đi chung, theo nguyên tắc thuần cách văn, thuần cách võ. Nếu gặp phối cách thì không được chỏi quá.
Có nhiều sao tốt đi kèm.
Sao tốt phải hợp vị (tài tinh ở Tài, Điền, quý quyền, dũng tinh ở Mệnh, Quan, phúc tinh ở Phúc, giải tinh ở Tật).
Sao tốt phải đắc địa, hợp hành với cung và chính tinh. Nếu chính tinh xấu, phụ tinh phải khắc hành chính tinh.
Có nhiều sao may mắn. Ví dụ như sao giải, sao phúc, sao trợ …
Có nhiều sao giáp tốt đẹp hay nhị hợp tốt đẹp.
Các phụ tinh phải hợp thành cách hay có ý nghĩa phú, quí, thọ, đủ mạnh để chế giải nhiều sao xấu nếu có.
Tất cả điều kiện về ngũ hành, âm dương, cung, cách sao kể trên ban cho lá số một trội cách tốt, một bối cảnh tốt hầu như toàn diện khả dĩ bù chế được nhiều bất lợi cục bộ. Dường như chính trội cách tốt đẹp này mới thật là đáng kể cho một lá số tốt. Trong một cái tốt chung dù có vài cái xấu riêng, những bất lợi sẽ được giảm thiểu nhiều, không mấy di hại đến toàn thể cục diện.
Trái lại, trong một lá số xấu chung mà có một vài cái tốt riêng, điều này không làm tăng lợi ích bao nhiêu. Cái bối cảnh chung hầu như là căn bản tham chiếu để đánh giá sự tốt xấu riêng của từng lãnh vực. Vì vậy có quan điểm cho rằng một lá số tốt phải có sao tốt rải đều trong các cung cường khả dĩ hội chiếu qua lại lẫn nhau, chớ không phải sao tốt tập trung thật nhiều trong 1 hoặc 2 cung để rồi gặp sao xấu hội tụ những cung khác.
Lá số trung bình
Tối hảo là ngoại lệ hiếm hoi. Phần lớn những lá số người xem gặp hằng ngày rơi vào một khoảng giữa, nơi tốt xấu chan hoà chứ không nghiêng hẳn về bên nào.
Lá số trung bình không hội đủ hết các lợi điểm của lá số tối hảo, tức là trong đó có tốt, xấu lẫn lộn, thuận nghịch chan hoà, theo luật tương đối của vũ trụ và con người.
Về mặt âm dương, ngũ hành
Lá số trung bình chỉ thuận lý được một phía, hoặc thuận âm dương thì nghịch ngũ hành, hoặc thuận ngũ hành thì nghịch âm dương, hoặc nếu gặp nghịch lý âm dương thì sẽ được cứu gỡ bằng sinh địa hay vượng địa cung Mệnh v.v…
Về mặt các cung
Lá số trung bình có cung hay cung dở như được cung Mệnh thì kém cung Thân hay ngược lại được Thân thì kém Mệnh. Giữa phú và quí, lá số trung bình có thể có phú không có quí, hay có quí mà thiếu phú, hoặc có phú quí lẫn lộn mà không cao lắm.
Về mặt cách
Lá số trung bình không có nhiều phụ tinh tốt, hoặc có mà hãm địa, gặp phối cách tương đối nghịch, gặp cát tinh không nhiều, hoặc không hợp vị, hoặc phải giáp những sao bất lợi. V.v…
Vì có nhiều hình thái của mức trung bình cho nên rất khó đề ra những qui tắc cụ thể khả dĩ áp dụng chung cho mọi trường hợp.
Lá số trung bình là thông dụng nhất, rất thường gặp. Nếu tạm suy ra vài định tắc tổng quát, có thể nói rằng trong các yếu tố của hạnh phúc, số trung bình phải có 1 hay 2 yếu tố. Cụ thể như giữa Phú, Quí, Thọ lá số trung bình phải có:
Hoặc là Phú, Thọ.
Hoặc là Quí, Thọ.
Hoặc là Quí, Thọ vừa phải.
Hoặc là cực Phú mà kém Thọ.
Hoặc là rất Thọ mà kém Phú, Quí.
Có được 1 hoặc 2 yếu tố kể ra cũng tạm thời chấp nhận được là trung bình. Do đó, có thể có 2 trường hợp trung bình: trung bình chung tức là có đủ 3 yếu tố nhưng cả 3 đều không sáng chói; và trung bình riêng, tức là có 1 trong 3 cái rất đẹp, 2 cái còn lại rất dở, hoặc có 2 cái trung bình, 1 cái dở.
Lá số cực xấu
Ở đầu bên kia của quang phổ, là những lá số mà mọi tiêu chuẩn của sự tối hảo đều bị đảo ngược.
Những tiêu chuẩn của lá số cực xấu có tính cách đảo ngược với những tiêu chuẩn của lá số tối hảo.
Về âm dương, ngũ hành
Âm Dương nghịch lý: tuổi Dương mà Mệnh đóng ở cung âm hay ngược lại, tuổi Âm, Mệnh đóng ở dương cung. Chính tinh có âm dương tinh khắc với âm dương tinh của cung toạ thủ: dương tinh ở âm cung hay âm tinh ở dương cung.
Ngũ hành tương khắc: Mệnh khắc Cục hay Cục khắc Mệnh. Cung Mệnh khắc chính diệu thủ Mệnh, chính tinh của Mệnh khắc Bản Mệnh.
Cung Mệnh, cung Thân ở vào bại địa hay tuyệt địa.
Về các cung
Những cung quan trọng – Phúc, Mệnh, Thân, Quan, Tài, Di, Phu Thê – xấu vì gặp chính tinh tọa hãm địa, thiếu cát tinh, giải tinh mạnh, gặp phải hung sát tinh không hợp cách.
Về các cách
Không hội đủ bộ sao trong 1 cách. Sao trong cách hãm địa, hoặc bị Tuần, Triệt trấn thủ, thiếu phụ tinh tốt ứng chiếu.
Về các sao
Phụ tinh không hợp cách với Mệnh. Thiếu cát tinh ở những cung cường. Cát tinh không hợp vị. Cát tinh bị hãm địa, khắc ngũ hành với cung. Thiếu sao may mắn, sao giải mà lại gặp nhiều sao xấu nặng. Giáp cách không có gì làm tốt.
Tóm lại, lá số cực xấu đồng qui nhấn mạnh đến sự bạc phúc, bạc phú, bạc quí, bạc thọ. Con người không thành công về mặt nào, cũng khó hành nhân lại gặp rất nhiều hoàn cảnh hiểm nghèo, khó khăn, thường là hạng cặn bã của xã hội như trộm cướp, du đãng hiếp dâm, phiến loạn, yểu tử, giang hồ, sát nhân, đồng thời phải gánh hết hậu quả của cá tính xấu và hành vi xấu của mình.
Tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng lá số cực xấu cũng có lợi điểm nào đó cho đương số: người này có thể là "xếp chúa" trong một băng đảng, có thể là vua con đồ, vua gian ác như Kiệt, Trụ.
Quan niệm thẩm mỹ của luật Tử-Vi
Tối hảo, trung bình hay cực xấu đều là những thước đo cho vận mệnh. Còn cái đẹp hình dung của con người thì khoa Tử-Vi nhìn nhận ra sao?
Tử-Vi học và Nhân tướng học có nhiều liên quan. Cả 2 khoa đều khởi nguyên từ cách bói toán thời tiền Tần: đó là Kinh Dịch. Cả 2 đều phát sinh từ những công trình nghiên cứu phái Tượng Số, do một triết gia nhà Hán là Đổng Trọng Thư sáng lập. Phái này chuyên khảo cứu quy luật biến hoá của vũ trụ để suy diễn ra quy luật biến hoá của quốc gia và của con người, từ đó mới rút tỉa ra những khám phá về bói toán. Tử-Vi học và Nhân tướng học đều mượn lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành làm nền tảng triết lý cho bộ môn. Đến đời nhà Tống, phái học Tượng Số rất thịnh hành, cho nên các khoa bói toán đã được phát minh thêm hoặc khai triển thêm. Các học sĩ, đạo sĩ đều am tường những khoa bói toán, có người kiêm cả hai, ba môn. Đó là trường hợp của Trần Đoàn, thủy tổ khoa Tử-Vi, lại biết và sáng tác cả về Nhân tướng học. Quyển sách nhân tướng đầu tiên của Trung Hoa cũng do Trần Đoàn biên khảo.
Tuy nhiên, dù có chung nguồn gốc, học phái và có đạo có chung thủy tổ, nhưng khoa nhân tướng lại đóng góp rất ít cho Tử-Vi học. Thật vậy, các ý niệm tướng mạo trong Tử-Vi rất nghèo: mặc dù chính tinh nào cũng có ý nghĩa tướng mạo, nhưng các nét tướng thiếu phong phú và thiếu rõ rệt.
Còn trên phương diện thẩm mỹ, nói về cái đẹp, dù khoa Tử-Vi có thực tiễn, nghĩa là cũng có lưu ý đến, nhưng phạm vi cái đẹp của Trung Hoa rất phiến diện, hẹp hòi. Thật vậy, hầu hết các sao nhan sắc chỉ nói đến tướng mặt của phụ nữ mà không nói đến cái đẹp của thân hình. Những khái niệm về ngực, eo, mông không bao giờ được đề cập. Nếu so sánh với thẩm mỹ quan La-Hy thời đó ta thấy Hy-lạp và La-mã quan niệm cái đẹp đầy đủ hơn, cả cho phái nữ lẫn phái nam, cả về nét mặt lẫn thân hình. Hoạ phẩm và điêu khắc phẩm của La-Hy rất táo bạo, dám trình bày hình khỏa thân của Vénus, của Hercule, trong khi khoa Tử-Vi vào hoạ phẩm Trung Hoa chỉ tô điểm riêng khuôn mặt của phụ nữ, sau khi cho ăn mặc rất kín đáo: chỉ có đầu cổ, tay chân là lộ diện. Vì vậy, người phụ nữ trong Tử-Vi không có vòng số 1, số 2 và số 3, mà chỉ có hình trị tròn nhạt nhẽo.
Thẩm mỹ quan Trung Hoa rất nặng về đạo đức, không khêu gợi, xem việc "lột trần" người phụ nữ như một "công xúc tu sĩ" (attentat à la publique), một điều khả ố. Điều đó không có nghĩa là cổ nhân Trung Hoa không khảo cứu nét dâm, bằng chứng là sao dâm trong Tử-Vi rất hùng hậu và tỉ mỉ. Nhưng cái dâm đó không được nghệ thuật hoá như ở La-Hy, nó thuộc về khoái lạc thầm kín chớ không phải nghệ thuật công khai.
Còn nói chi đến phái nam, cách đẹp không được Tử-Vi mô tả rõ ràng, được xem như là không quan trọng bằng cái đẹp về quyền quí, về khoa bảng.
Mặt khác, cho dù có chú trọng đến cái đẹp của phụ nữ, thẩm mỹ quan Trung Hoa về tướng mặt cũng rất sơ sài. Khoa Tử-Vi không mô tả cái đẹp, không phân biệt các cách đẹp, và dĩ nhiên không nêu tiêu chuẩn của vẻ đẹp nữ phái. Thành thử, không ai có thể hình dung được những biểu hiện cụ thể của nhan sắc. Phải lấy trí tưởng tượng phong phú của mỗi người mà tổ túc: cái đẹp của Tử-Vi vốn thiếu sót trầm trọng những tính từ. Mà đã dùng tưởng tượng để phân định thì quả là một điều khó khăn và võ đoán.
Dù sao, ta cũng không nên đòi hỏi qua nhiều nơi một khoa học nhân văn, chuyên khảo sát đời người hơn là tướng người: Khoa Tử-Vi không phải là khoa nhân tướng, không phải là khoa hội hoạ hay điêu khắc và càng không phải là bộ lịch Playboy. Vì thế, đừng nên tìm các nét tướng cụ thể trong khoa Tử-Vi. Những ý nghĩa tướng mạo phô diễn bởi các sao Tử-Vi bao hàm nhiều sai số, cho nên không có giá trị bao nhiêu. Thiết tưởng, những ai chuyên chú về cái đẹp hình thức (beauté plastique) có thể thấy nơi khuyết điểm này một lãnh vực để canh tân, để thích thời khoa Tử-Vi cho thế kỷ 20.
Dù sao, cũng cần biết qua các sao nhan sắc trong khoa Tử-Vi để có một ý niệm về cái đẹp sơ khoáng, phiến diện và đạo đức trong bộ môn này.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
