Bài tổng quan
Bảng số sao cung trung bình và cực xấu trong Lý số học
Phần đông nhân loại không mang bảng số cực tốt, cũng chẳng rơi vào cực xấu, mà đứng ở một khoảng giữa mênh mông nơi Phú, Quý, Thọ cứ so le, thiếu hụt lẫn nhau. Nhưng ngay bên dưới cái khoảng giữa ấy vẫn còn một tầng đáy, nơi mọi tiêu chuẩn của bảng số cực tốt bị đảo ngược không chừa một kẽ hở...
Không phải ai sinh ra cũng mang một bảng số cực tốt hay cực xấu. Tuyệt đại đa số con người rơi vào khoảng giữa, nơi tốt xấu đan xen, thuận nghịch chan hòa theo đúng luật tương đối vốn chi phối cả vũ trụ lẫn con người. Nhưng ngay trong cái khoảng giữa mênh mông ấy, khoa Lý số học vẫn phân định được ranh giới rõ ràng, và tận cùng phía đối lập với bảng số cực tốt là một loại bảng số hoàn toàn đảo ngược, mang tên bảng số sao cung cực xấu.
Sau khi đã bàn kỹ về bốn lớp tiêu chuẩn làm nên một bảng số cực tốt, gồm Âm Dương Ngũ Hành, cung, cách và sao, câu hỏi tự nhiên đặt ra là: vậy còn lại tuyệt đại đa số những bảng số không đạt đến mức cực tốt ấy thì sao? Câu trả lời nằm ở hai mức bậc còn lại trong thang phân loại: mức trung bình, chiếm số đông áp đảo, và mức cực xấu, nằm ở đầu kia của thang bậc, hoàn toàn đối nghịch với cực tốt.
Bảng số sao cung trung bình: nơi phần đông nhân loại cư ngụ
Một bảng số sao cung trung bình không hội đủ hết mọi lợi điểm của bảng số cực tốt, mà mang trong mình sự lẫn lộn giữa tốt và xấu, giữa thuận và nghịch. Sự pha trộn này không phải khiếm khuyết mà chính là luật tương đối tự nhiên: nếu ai cũng cực tốt hay cực xấu thì thế gian đã chẳng còn cái gọi là số phận đa dạng, muôn hình muôn vẻ như vẫn thấy trong đời sống thường ngày.
Về mặt Âm Dương, Ngũ Hành
Bảng số sao cung trung bình thường chỉ thuận lý được một phía chứ không thuận trọn cả hai chiều như bảng số cực tốt. Hoặc thuận Âm Dương thì lại nghịch Ngũ Hành, hoặc thuận Ngũ Hành thì lại nghịch Âm Dương, hai vế cứ bù trừ cho nhau chứ không cùng chiều tuyệt đối. Có một trường hợp đặc biệt đáng chú ý: nếu chẳng may gặp phải nghịch lý về Âm Dương, đương số vẫn có thể được cứu gỡ phần nào nhờ cung an Mệnh rơi đúng vào sinh địa hay vượng địa xét theo Ngũ Hành, như một cánh cửa phụ mở ra bù đắp cho cánh cửa chính đang khép hờ.
Về mặt các cung
Bảng số sao cung trung bình thường có cung hay cung dở lẫn lộn với nhau: được cung Mệnh thì lại kém cung Thân, hoặc ngược lại được cung Thân thì lại kém cung Mệnh, không mấy khi cả hai cùng đẹp song song. Đây là một khác biệt căn bản so với bảng số cực tốt, nơi cả cung Mệnh lẫn cung Thân đều phải vững vàng cùng lúc; còn ở mức trung bình, đương số thường phải chấp nhận một nửa đời sống thuận lợi, nửa còn lại chật vật, tùy theo cung nào mạnh hơn. Giữa hai giá trị phú và quý cũng vậy, bảng số sao cung trung bình có thể có phú mà không có quý, tức giàu nhưng không sang; hoặc có quý mà thiếu phú, tức sang nhưng không giàu; hoặc có phú có quý lẫn lộn nhưng cả hai đều không đạt đến mức cao lắm, chỉ dừng ở tầm vừa phải, đủ ăn đủ mặc, có chút danh vọng nhưng không hiển hách.
Về mặt cách
Bảng số sao cung trung bình thường không có nhiều phụ tinh tốt, hoặc có phụ tinh tốt nhưng lại hãm địa, mất bớt sức mạnh vốn có. Có khi gặp phối cách tương đối nghịch, tức văn tinh võ tinh lẫn lộn theo chiều bất lợi chứ không tương trợ nhau. Cát tinh xuất hiện không nhiều, hoặc có mặt nhưng không hợp vị, đứng sai chỗ sở trường. Đôi khi còn phải chịu cảnh giáp những sao bất lợi đứng kề hai bên, khiến cung chính dù bản thân không quá xấu vẫn bị ảnh hưởng lây.
Chính vì tính chất phổ biến của nó, bảng số sao cung trung bình đáng được nhìn kỹ hơn qua lăng kính của ba giá trị cổ điển nhất trong đời người: phú, quý và thọ.
Ba yếu tố hạnh phúc và các tổ hợp của mức trung bình
Bảng số sao cung trung bình là loại thông dụng nhất, rất thường gặp trong thực tế luận đoán, đến mức có thể nói đây mới chính là số phận của tuyệt đại đa số con người. Nếu tạm suy ra một vài định tắc tổng quát, có thể nói rằng trong các yếu tố làm nên hạnh phúc một đời người, mức trung bình chỉ cần đạt được một hoặc hai yếu tố là đủ để được xem là chấp nhận được, không cần trọn vẹn cả ba như bảng số cực tốt.
Cụ thể, xét riêng ba giá trị Phú, Quý, Thọ, bảng số sao cung trung bình có thể rơi vào một trong sáu tổ hợp sau. Thứ nhất là có Phú và có Thọ nhưng thiếu Quý, tức giàu và sống lâu nhưng không địa vị. Thứ hai là có Quý và có Thọ nhưng thiếu Phú, tức có địa vị và sống lâu nhưng không giàu có. Thứ ba là có cả ba yếu tố Quý, Phú, Thọ nhưng chỉ ở mức vừa phải, không cái nào nổi trội hẳn. Thứ tư là cực Phú, tức giàu có tột bậc, nhưng chỉ đạt mức Thọ vừa phải mà không có Quý. Thứ năm là cực Quý, tức địa vị tột bậc, nhưng lại kém Thọ. Thứ sáu là rất Thọ, sống rất lâu, nhưng lại kém cả Phú lẫn Quý.
Chỉ cần đạt được một hoặc hai trong ba yếu tố kể trên, một bảng số đã có thể tạm thời được chấp nhận xếp vào hàng trung bình. Từ đó, có thể phân ra hai trường hợp trung bình khác nhau về bản chất. Trường hợp thứ nhất gọi là trung bình chung, tức đương số có đủ cả ba yếu tố Phú, Quý, Thọ nhưng không yếu tố nào thật sự sáng chói, tất cả đều ở mức vừa phải, đồng đều với nhau. Trường hợp thứ hai gọi là trung bình riêng, tức trong ba yếu tố có một cái thật sự nổi trội, đẹp đẽ hẳn lên, còn hai cái còn lại lại rất kém cỏi; hoặc một biến thể khác là có hai yếu tố ở mức trung bình, chỉ một yếu tố còn lại là dở.
Sự phân biệt giữa trung bình chung và trung bình riêng cho thấy ngay cả trong cùng một mức gọi chung là trung bình, vẫn còn vô số sắc thái khác nhau, tùy vào cách phân bố ba yếu tố Phú, Quý, Thọ trong từng bảng số cụ thể. Đây cũng là lý do vì sao khi luận đoán một lá số trung bình, người xem số không thể chỉ dừng ở kết luận chung chung, mà phải đi sâu xem đương số thuộc dạng trung bình chung hay trung bình riêng, và nếu là trung bình riêng thì yếu tố nào đang nổi trội, yếu tố nào đang khuyết hẳn, mới mong đưa ra được lời khuyên thiết thực cho đương số.
Bảng số sao cung cực xấu: đảo ngược hoàn toàn tiêu chuẩn cực tốt
Ở đầu bên kia của thang bậc, đối lập hẳn với bảng số cực tốt, là bảng số sao cung cực xấu. Những tiêu chuẩn của loại bảng số này mang tính cách đảo ngược hoàn toàn so với các tiêu chuẩn đã nói ở bảng số cực tốt, cứ chỗ nào cực tốt đòi thuận thì cực xấu lại nghịch, chỗ nào cực tốt đòi đủ thì cực xấu lại thiếu.
Về Âm Dương, Ngũ Hành
Trước hết là Âm Dương nghịch lý: người tuổi Dương mà cung Mệnh lại đóng ở cung Âm, hay ngược lại người tuổi Âm mà cung Mệnh lại đóng ở cung Dương. Kế đến, Chính Tinh tọa thủ mang Âm Dương tính khắc hẳn với Âm Dương tính của cung mình đang đứng: Dương tinh lại rơi vào Âm cung, hay Âm tinh lại rơi vào Dương cung. Về Ngũ Hành, xảy ra tình trạng tương khắc: Bản Mệnh khắc Cục, hoặc Cục khắc lại Bản Mệnh. Tệ hơn nữa là khi Chính Tinh của cung Mệnh lại đi sinh cho cung an Mệnh, hoặc Bản Mệnh phải sinh nuôi ngược lại cho Chính Tinh thủ Mệnh, tức dòng chảy tương sinh đi lộn chiều so với hướng có lợi. Cũng có thể xảy ra cảnh cung Mệnh khắc ngược lại chính diệu thủ Mệnh, hay Chính Tinh của Mệnh quay lại khắc Bản Mệnh. Và cuối cùng, cung Mệnh cùng cung Thân lại đúng vào thế bại địa hay tuyệt địa, tức những vị trí bất lợi nhất đã nói ở phần bốn cấp đất của cung an Mệnh.
Về các cung
Những cung quan trọng bậc nhất như Phúc, Mệnh, Thân, Quan, Tài, Di và Phu Thê đều trở nên xấu vì cùng lúc gặp phải nhiều nghịch cảnh: Chính Tinh tọa thủ hãm địa, suy yếu hẳn về sức mạnh; thiếu vắng cát tinh, giải tinh mạnh mẽ để nâng đỡ; lại còn gặp phải hung sát tinh không hợp cách, tức hung tinh xuất hiện mà không có điều kiện chế hóa đi kèm, chỉ thuần gây hại chứ không hề có mặt tích cực nào.
Về các cách
Bảng số sao cung cực xấu không hội đủ bộ sao cần thiết trong một cách cục, tức cách bị khuyết hẳn những sao chủ chốt, chẳng khác nào một đội hình ra trận mà thiếu mất tướng cầm đầu, dù quân số còn lại có đông cũng khó lòng xoay chuyển cục diện. Những sao còn sót lại trong cách ấy lại hãm địa, hoặc bị Tuần, Triệt trấn thủ ngay tại chỗ, khiến sức mạnh vốn có bị chặn đứng, ví như một dòng nước đang chảy mạnh bỗng bị đắp đập ngăn lại giữa chừng. Đã vậy còn thiếu hẳn phụ tinh tốt ứng chiếu từ xa để bù đắp, khiến cách cục trở nên trơ trọi, không còn chỗ nương tựa, phải tự mình gánh chịu mọi bất lợi mà không có sự trợ giúp nào từ những cung lân cận.
Về các sao
Nếu ở bảng số cực tốt, phụ tinh phải hợp cách, hợp vị, hợp hành với Chính Tinh để cộng hưởng sức mạnh, thì ở bảng số cực xấu, gần như mọi điều kiện ấy đều bị đảo ngược cùng lúc, không chừa lại một khe hở nào để đương số bấu víu. Phụ tinh trong bảng số cực xấu không hợp cách với Chính Tinh của Mệnh, tức đi sai hướng, không nương tựa được vào nhau. Những cung cường quan trọng lại thiếu hẳn cát tinh trấn giữ. Cát tinh nếu có mặt cũng không hợp vị, đứng sai chỗ sở trường. Tệ hơn, cát tinh ấy còn bị hãm địa, lại khắc Ngũ Hành với cung mình đang tọa thủ, coi như vừa yếu vừa lạc lõng. Bảng số cực xấu cũng thiếu hẳn sao may mắn, sao giải nạn, trong khi lại phải hứng chịu rất nhiều sao xấu nặng nề tụ hội. Ngay cả thế giáp cách, đáng lẽ có thể là chỗ nương tựa cuối cùng, cũng không có gì làm tốt, chỉ toàn sao bất lợi đứng chầu hai bên.
Khi tất cả những nghịch lý ấy cộng dồn lại trên cùng một bảng số, hậu quả giáng xuống đời người không còn là những trắc trở nhỏ lẻ mà trở thành một cảnh ngộ bi đát toàn diện.
Hậu quả chung của một bảng số cực xấu
Tóm lại, bảng số sao cung cực xấu đồng quy nhấn mạnh đến sự bạc phúc, bạc phú, bạc quý, bạc thọ, tức thiếu hụt trầm trọng ở cả bốn phương diện làm nên một đời người trọn vẹn. Con người mang bảng số này không thành công về bất cứ mặt nào, thậm chí khó lòng thành nhân theo đúng nghĩa, lại còn phải đối mặt với rất nhiều hoàn cảnh hiểm nghèo, khó khăn chồng chất suốt cả cuộc đời.
Trong những trường hợp cực đoan nhất, bảng số cực xấu còn gắn liền với hạng người bị xem là cặn bã của xã hội, như kẻ trộm cướp, hạng du đãng, kẻ hiếp dâm, phường phiến loạn, người yểu tử, kẻ giang hồ lang bạt hay thậm chí kẻ sát nhân. Đồng thời, chính những con người này còn phải tự gánh chịu toàn bộ hậu quả do cá tính xấu và hành vi xấu của bản thân mình gây ra, một vòng luẩn quẩn giữa số mệnh và hành vi cứ mãi níu kéo lẫn nhau, khó lòng thoát ra: cá tính xấu do bảng số cực xấu hun đúc nên lại đẻ ra hành vi xấu, hành vi xấu lại kéo theo hậu quả xấu, hậu quả xấu lại củng cố thêm cho cá tính vốn đã lệch lạc từ đầu, cứ thế xoay vần không lối thoát nếu không có một nghị lực phi thường để tự mình bẻ gãy vòng xoáy ấy.
Cũng cần nói thêm, giữa bảng số cực xấu và bảng số trung bình kém vẫn có một ranh giới nhất định, dù đôi khi mờ nhạt. Một bảng số trung bình kém vẫn còn giữ được một hai yếu tố nào đó của Phú, Quý, Thọ, dù không sáng chói; còn bảng số cực xấu thì gần như trắng tay ở cả bốn phương diện phúc, phú, quý, thọ cùng lúc, không có điểm tựa nào để đương số bấu víu. Chính sự trắng tay toàn diện này mới là đặc điểm phân định rạch ròi giữa mức cực xấu với mọi mức độ trung bình dù kém đến đâu.
Nhìn lại trọn vẹn ba mức độ, từ cực tốt đến trung bình rồi đến cực xấu, có thể thấy khoa Lý số học đã dựng nên một thang bậc liên tục, không hề cắt rời cứng nhắc mà chuyển tiếp mềm mại từ mức này sang mức khác, giống như một dải màu loang từ trắng sang đen chứ không phải hai mảng màu tách biệt hẳn nhau. Phần đông nhân loại đứng ở khoảng giữa mênh mông của mức trung bình, chỉ một số ít vươn tới cực tốt hoặc rơi xuống cực xấu. Chính sự phân bố ấy mới phản ánh đúng thực tế muôn màu muôn vẻ của đời sống con người, chứ không phải một công thức máy móc chia đôi thế gian thành người hoàn toàn may mắn và người hoàn toàn bất hạnh.
Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn)
