Bài tổng quan
Ngũ hành vượng suy và sức mạnh đảo chiều của Triệt Tuần
Một người Mộc mạnh mà thiếu hẳn chất Thủy, cổ thư nói thẳng sẽ sinh huyết bệnh — ngũ hành trong Tử Vi không chỉ đoán vận mà còn đoán cả tạng phủ. Nhưng khi một chính tinh miếu vượng bỗng gặp Triệt hoặc Tuần án ngữ, cả bộ khung vượng suy ấy có thể lật ngược hoàn toàn...
Ngũ hành gán cho từng chính tinh một tạng phủ, một tính khí. Nhưng muốn biết bệnh phát vào lúc nào, phải quay về một quy luật gốc hơn nữa: cái vòng xoay Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tuyệt mà mọi hành trong trời đất đều phải trải qua.
Ngũ hành tiêu trưởng: vượng, tướng, hưu, tù, tuyệt
Ngũ hành tiêu trưởng liệt phân như sau: Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tuyệt.
| Hành đang Vượng | Tướng | Hưu | Tù | Tuyệt |
|---|---|---|---|---|
| Mộc | Hỏa | Thủy | Kim | Thổ |
| Hỏa | Thổ | Mộc | Thủy | Kim |
| Kim | Thủy | Thổ | Hỏa | Mộc |
| Thủy | Mộc | Kim | Thổ | Hỏa |
| Thổ | Kim | Hỏa | Mộc | Thủy |
Thí dụ: người Mộc mạnh mà thiếu chất Thủy sẽ bị huyết bệnh. Người Thổ mà Hỏa thiếu là khí thương bệnh. Nếu Kim hư là thương quan, vì hàn tắc lãnh khái (bệnh ho). Người Kim mạnh mà bị Hỏa khắc thì hay bị ho ra máu, nhiệt tắc phong đàm (bệnh đờm) hay ho lao. Kim Thủy cố hương nhi thận kinh hư, như người mạnh Kim bị Hỏa khắc, người Thủy Thổ khắc dễ bị mắc bệnh thận và thần kinh. Cũng như mạnh Thổ mà bị Mộc khắc là tỳ bị hư (lá lách). Người Mộc bị Kim khắc là cân động cốt thống (đau gân và nhức xương).
Trên đây là nguyên gốc bệnh đã có sẵn trong thân thể, khi lưu niên vận hạn tới các năm, thời nên xem xét để biết năm ấy thuộc ngũ hành nào, hiệp lại với hành của bản Mệnh để luận xét, căn cứ vào định luật Vượng, Tướng, Tuyệt, tất nhiên sẽ biết bệnh hoạn ra sao, cũng như định luật này cùng chung áp dụng đối với tinh tú vậy.
Ngũ hành mở lối để đọc thân bệnh, còn muốn đọc tính lý của từng vì sao thì phải quay lại gốc, nơi người xưa gọi là "định lý cát hung".
Luận chư tinh cách: định lý cát hung
Tinh đẩu là các vì sao mà Hi Di tiên sinh xem ở tượng trời có ảnh hưởng trực tiếp với con người, lập thành khoa Đẩu Số vào năm tháng ngày giờ và biết được họa phúc thịnh suy. Các tinh tú hoặc hiện thực, hoặc tượng hình hay lý khí, xếp thành một quy luật rất tài tình, từ phương vị miếu vượng hay bại huyệt, cho đến danh biểu các vì sao. Lấy căn bản là sao Tử Vi chủ tể, thường gọi là Đế Cực.
Tử Vi tinh
Tử: được định nghĩa là thanh xích chi gian (xanh và đỏ thẫm hợp lại) tức là màu tím hồng. Vi: tốt diệu, tối tiểu, ẩn dã. Cực linh động, cực bé nhỏ không thể trông thấy được. Tử Vi: vi thiên đình trung hữu ngũ đế tọa, hằng trung chí thiên hữu tam năng tam hành dã. Tử Vi là tòa thiên đình, trong có năm vị vương: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ chủ trì, luôn luôn có mặt ở khắp trời, gồm ba quyền và ba vị.
Nên linh động hiểu nghĩa chữ Tử Vi, không nên quá hiện thực Tử Vi là một ông vua, nên suy ra cho cung Ngọ là thiêu hỏa (hơi nóng) nên ngũ đế tọa ở Tử Vi sẽ được sinh hóa dễ dàng, vì vậy Tử Vi cư Ngọ miếu vượng là ý nghĩa thế.
Thiên Phủ tinh và lẽ miếu hãm
Thiên: một là Bắc Cực thần chi biệt danh, là tên riêng của thần Bắc Cực. Hai là viết âm đức, thái nhất, thiên nhất, địa nhất, gồm các đức tính của thái cực của trời và đất. Ba là tả tử cung môn lập, thừa sự thiên vương đại đế vị, cư tại phía trái, thừa hành các công việc của Tử Vi đại đế. Bốn là tri nhân cát hung, biết người lành dữ. Năm là diệc tại Thiên Ất quý nhân, là thần phúc hay giúp đỡ.
Phủ: chưởng tổ miếu chi thủ tàng, là thần đứng đầu coi kho tàng. Bang quốc chi mạnh thủ, văn tịch các nước. Đinh điền bộ tịch gia đăng ư Thiên Phủ, nhân đinh điền bộ đều ở Thiên Phủ cả. Vì vậy Tử Vi là Nam Bắc đẩu, dương thổ, mà Thiên Phủ là Nam đẩu âm thổ, phải tương ứng cùng nhau trên mười hai cung, để hòa hợp cùng các sao khác kết thành những bộ lớn nhỏ khác, xấu tốt là tùy theo tính chất và phương vị các sao.
Về khoa Đẩu Số, mỗi sao đều có phương vị miếu hãm và bản chất riêng, miếu là tốt và hãm là xấu. Thí dụ: các chính tinh đóng ở nơi miếu vượng, gặp các sao tốt cư chiếu phù trì nữa mới là thực tốt. Nhưng nếu đóng ở nơi tốt lại gặp phải hai sao Tuần Triệt thì lại xấu, vì đã bị khắc chế. Tử Vi là ông vua, thì ông vua phải ngồi ở chốn cung điện có hai hàng văn võ phù trì, có quân tính canh gác; nếu ông vua lại ngồi ở quán nước, không ở cung này tất sẽ ở cung khác, không có kẻ hộ vệ tất chỉ một tên cao bồi cũng hiếp đáp được.
Đây là chỗ khó khăn của người mới nhập môn: hơn một trăm vì sao, an trên mười hai cung, không ở cung này tất sẽ ở cung khác, không thể bỏ đi một vị nào được, nên các sao kết hợp ở cung này đang tốt mà thành xấu, vì gặp các sao ác sát hay Triệt Tuần án ngữ.
Phân chia tinh đẩu
Các sao được chia thành nhóm, có tính chất thiện ác, hoặc phù trì hay hãm hại lẫn nhau.
Quý tinh hay tôn tinh: là các sao chủ ảnh hưởng đến sự giàu có của cải súc tích, ruộng cả ao sâu, nhà cao cửa rộng.
Nhóm văn tinh: văn tinh là các sao ảnh hưởng về quyền chức, quan tước, danh phận về đường hoạn lộ.
Nhóm tài tinh: tài tinh là các sao ảnh hưởng đến sự giàu có của cải súc tích, ruộng cả ao sâu, nhà cao cửa rộng.
Nhóm văn tinh: văn tinh là các sao ảnh hưởng đến sự học hành, văn chương thư tịch.
Nhóm phúc thiện tinh: là các sao chuyên giải trừ tai nạn, vận hạn, và tăng thêm sự tốt đẹp lên.
Nhóm hung sát: hung sát tinh là các sao chuyên tác hại, đưa tới những sự hao tán tiền của, trộm cướp, tai nạn, yểu triết, hay những sự việc chẳng lành, thường gọi là hung tinh.
Nhóm tiện tinh: tiện tinh là các sao ảnh hưởng tới sự nghèo hèn, ngu dốt, mờ ám, thiếu thông minh.
Nhóm hoặc thiện hoặc hung: là các sao khi gặp sao thiện thì hóa thiện, khi gặp sao ác thì hóa hung ác.
Phản định luật
Các sao được chia từng nhóm có tính chất riêng, có vị trí miếu vượng, không phải là định luật cố hữu được, vì còn có phản định luật nữa. Hai sao Triệt Lộ Tuần Không khi gặp các sao chính tinh miếu vượng, thời làm cho các sao này chẳng những không còn tính chất tốt nữa, lại còn hóa ra xấu, là tùy theo vị trí. Một sao cư cung hãm địa là xấu, nhưng ngược lại nếu gặp Triệt Tuần án ngữ lại hóa ra tốt.
Hung cát biến hóa
Hơn nữa phải căn cứ các sao cư chiếu mà luận tốt xấu. Một là đa hung thiểu cát biến vi hung, là nhiều sao hung ác mà gặp ít sao tốt thì sẽ hóa ra hung. Hai là đa cát thiểu hung biến thành cát, là nhiều sao tốt mà gặp ít sao hung thì sẽ biến thành tốt. Đây là một định luật của khoa Tử Vi đã làm cho người nhập môn không hiểu, lẩn quẩn để rồi coi câu phú này cũng như trăm ngàn câu phú khác, hóa thành chán nản.
Vì vậy các tinh đẩu phải căn cứ vào cả một hệ thống lý luận. Hãy đơn giản một giả thuyết: oai quyền không ai bằng một ông vua, nếu như thất thời thì chỉ một tên "cùi bắp" cũng hà hiếp được. Sao Tử Vi cư Ngọ là ông vua, Thất Sát Dần Thân là thần dũng tướng, nhưng nếu ngộ Triệt Tuần thuộc ngũ hành bị khắc chế, chẳng những không còn là vua tài giỏi, tướng hùng dũng nữa, mà chỉ là những tên ngu độn ôm hận suốt đời.
So sánh tinh đẩu
Một định luật khác cũng quan trọng không kém: phải luận các sao theo địa vị lớn nhỏ, so sánh cát tinh với cát tinh xem sao nào lớn hơn, sao nào nhỏ hơn. Thí dụ: một võ sinh bao giờ cũng phải phục tòng ông võ sư; một người trung học phải kém người đại học.
So sánh hung tinh với hung tinh: một chú cao bồi phải phục tòng một chúa đảng; một tướng cướp phải phục tòng một đại tướng.
Có một cặp sao khiến người mới học Đẩu Số vò đầu bứt tai nhất: Triệt Lộ và Tuần Không, hai lưỡi dao có thể chém đứt cả một đời vượng khí.
Luận Triệt Lộ Tuần Không
Nên hiểu ý nghĩa hai sao này, vì rất quan trọng cho việc đoán trước các chính tinh hay hung tinh khi gặp hai sao Triệt Tuần.
Triệt và Tuần
Triệt thuộc Kim đới Thủy, là triệt trảm, là chém đứt ra từng mảnh, từng khúc, ngăn chặn ra, phân ra không để cho liền lạc với nhau. Tuần thuộc Hỏa đới Mộc, là vây hãm lại, bao chặt lấy. Nên Mộc, Hỏa, Kim là ba hành khi gặp phải Triệt Tuần rất quan trọng, không còn quyền uy, khả năng hữu hiệu, trái lại còn u tối đi nữa, là tùy theo vị trí miếu hãm của các sao. Thí dụ: Thất Sát Dần Thân là nhất sinh tước lộc vinh hoa, tứ phương cũng phục anh hùng, nhưng gặp phải Triệt Tuần là kiếm gãy.
Ở Tử Vi, Triệt Tuần đóng thuộc vị trí hai cung, nhưng các sao khác chỉ ở một cung. Vậy phải xem xét Triệt Tuần ảnh hưởng cung nào nặng cung nào nhẹ, phải căn cứ vào âm dương lý theo định luật sau đây.
Định lý Triệt Tuần theo âm dương
Triệt Tuần theo định lý phân chia ảnh hưởng theo cung: dương hành tam thất (3/7), âm quy nhị bát (2/8). Thí dụ: Triệt Tuần ở hai cung Dần Mão. Người sinh thuộc Dương thì cung Dần ảnh hưởng bảy phần, cung Mão ảnh hưởng ba phần. Người sinh thuộc Âm thì cung Mão chịu ảnh hưởng tám phần, cung Dần chịu ảnh hưởng hai phần. Do thế, cũng một Triệt Tuần mà cung Mệnh của người Dương ở cung Dần thì bị hại lớn vì chịu bảy phần, nếu ở cung Mão thì chịu ba phần. Trái lại, cung Mệnh của người Âm ở cung Mão lại chịu tám phần, nếu ở cung Dần chỉ chịu hai phần ảnh hưởng thôi.
Âm dương rất quan trọng để xét Triệt Tuần, vì dương thuận mà âm nghịch. Người Dương theo định luật thuận, khởi Mệnh cư cung Dần, mà Triệt Tuần cư Dần Mão là bị Triệt Tuần chặn lại, cản trở không đi được, vì Triệt Tuần ở phía trước mặt. Mệnh cư cung Mão là Triệt Tuần ở phía sau lưng, nên ít bị cản trở. Nên trong phú đoán có câu: Triệt Tuần đương đầu, thiếu niên tân khổ, mà trái lại không thấy lao tâm khổ trí, lại vẫn phát sinh phú quý, tọa hưởng kỳ thành nhung lụa. Tướng quân ngộ Triệt trước miền, ra đường gặp giặc mình liều tan thây: nếu người Dương Mệnh ngồi cung Mão có Tướng Quân ngộ Triệt, thời Triệt kia đâu có đủ sức mà làm hại Tướng Quân, vì Triệt ở sau lưng ông Tướng Quân. Nhưng nếu người Âm gặp Tướng Quân ngộ Triệt mà Mệnh cư cung Mão, ấy là Triệt cản Tướng Quân, vì Triệt ở phía trước mặt nên phú đoán rất hay, vì Tướng Quân kia không cụt cũng què.
Tam hành kỵ Triệt Tuần
Những sao thuộc ba hành Kim, Hỏa, Mộc là ba hành rất sợ Triệt Tuần. Ví như sao Mộc là cây mà gặp Thổ, sao Kim mà gặp Hỏa, sao Hỏa mà gặp Thủy, sẽ bị khắc chiết mà hết ảnh hưởng. Theo định lý Tử Vi thì Sát Phá Tham tối kỵ Triệt Tuần, vì sao Thất Sát thuộc Kim và Tham Lang thuộc Mộc, còn sao Phá Quân thì ít sợ Triệt Tuần, vì Phá Quân thuộc Thủy. Tử Phủ Vũ Tướng không sợ Triệt Tuần lắm, vì Tử Phủ cách thiên sang hành Thổ nhiều hơn. Riêng sao Thiên Phủ là kho lẫm, thì sợ Tuần mà không sợ Triệt lắm, vì ngộ Triệt thì chỉ bị trộm cắp, sứt mẻ ít thôi, nếu ngộ Tuần là kho rỗng. Cũng như sao Vũ Khúc sợ Triệt Tuần, vì Vũ Khúc thuộc Kim. Riêng hai hành Thổ và Thủy thì ít sợ Triệt Tuần hơn.
Triệt Tuần ảnh hưởng các cung xung hợp
Các cung xung hợp chịu ảnh hưởng nặng nhẹ của Triệt Tuần cũng phải căn cứ vào âm dương mà luận. Thí dụ: Dần, Mão, Thân, Dậu là bốn cung xung chiếu mà Triệt Tuần cư Dần Mão, người Dương thì cung Dần chịu bảy phần, chiếu sang cung Thân phải chịu ảnh hưởng nặng; cung Mão chỉ chịu ảnh hưởng ba phần, cung Dậu chiếu thuộc Âm nên chỉ chịu ảnh hưởng chút đỉnh mà thôi. Người Âm thì ngược lại: cung Mão thuộc Âm chịu ảnh hưởng tám phần, chiếu sang cung Dậu chịu ảnh hưởng nặng; cung Dần thuộc Dương chịu hai phần, chiếu sang cung Thân thì ảnh hưởng không còn bao nhiêu. Phải tùy thuộc vào Âm hay Dương mà định ảnh hưởng: người sinh Dương thì các cung thuộc Dương xung chiếu hay tam hợp chịu ảnh hưởng nhiều; người Âm thì các cung thuộc Âm xung chiếu hay tam hợp chịu ảnh hưởng nhiều.
Luận về tinh đẩu thời không một sao nào ảnh hưởng quyền năng hung cát có thể lớn như hai sao Triệt Tuần, nên Triệt Tuần cư hai cung, chiếu hai cung, lại còn ảnh hưởng ở các cung xung chiếu và tam hợp nữa. Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng, là ba cung tam hợp có các sao ác sát, hay là ba sao chính tinh hãm địa Sát Phá Tham rất xấu, tối kỵ, nhưng khi gặp được một sao Triệt cũng khá bình yên được. Sao Tuần là Tuần Không cũng phá được hết các sự tốt đẹp: nếu tứ chính giao phù là Mệnh, Quan, Tài, Di có sao tốt hợp Lộc cách mà gặp Tuần cũng phá hết tốt, tứ chính giao phù kỵ nhất Không chi trực phá là vậy.
Đảo nghịch của Triệt Tuần
Hai sao Triệt Tuần ví như bộ thắng của chiếc xe hơi, khởi hành mà thắng lại thời đi sao được, xe đang chạy vùn vụt, thắng lại là yên ngay. Nên mười bốn chính tinh, kể cả các sao ác sát, cư nơi miếu địa, mà gặp Triệt Tuần là hết ảnh hưởng. Chính tinh cư nơi hãm địa thời ảnh hưởng thật dữ, nhưng nếu gặp Triệt Tuần thì trái lại là tốt. Cũng như các sao hung sát nhập miếu, thời ví như người làm giặc nhưng lại thành công là cách hung tính nhập miếu, phát dã như lôi, lại không nên gặp Triệt Tuần.
Nên ở phản định lý có câu: nhược phùng bại địa chuyên khán phù trì chi diệu, định hữu kỳ công. Là sao chính tinh cư nơi hãm địa mà gặp được Triệt Tuần thì ngược lại là tốt, sẽ lập được công nghiệp rực rỡ, là kỳ cách vậy. Thí dụ: không một sao nào xấu hơn sao Liêm Trinh và Tham Lang cư ở hai cung Tỵ Hợi, phú đoán đã có câu:
Liêm Tham Tỵ Hợi, hình ngục nan đào.
Liêm Tham Tỵ Hợi khôn bàn, chàng Tiêu thuở trước tân toan ngục hình.
Là Liêm Tham Tỵ Hợi thì hạ tiện, không tránh được tai nạn, ra vô chốn ngục tù, nhưng nếu gặp được Triệt Tuần thì ngược lại là người phú quý, văn võ song toàn. Tất cả các tính lý hung hãn, ngục hình không còn, và sự quý hiển hoặc thiên sang văn hay võ là tùy theo các sao phù mà nhận xét.
Thời gian của sao Triệt Tuần
Tam thập niên tiền quan Triệt
Tam thập niên hậu khán Tuần.
Hai sao Triệt hay Tuần đều có ảnh hưởng cả cuộc đời, nhưng sao Triệt tác động mạnh mẽ nửa cuộc đời trước, cũng như Tuần ảnh hưởng mạnh nửa cuộc đời sau. Phải nhận xét nếu Tham Liêm gặp Triệt, nửa cuộc đời trước được bình an, nhưng nửa đời sau sẽ lâm nạn. Liêm Tham gặp Tuần, nửa cuộc đời sau sẽ tốt, không sợ hung hãn. Nguyên tắc chung của hai sao Triệt Tuần, với thời gian tính, ví như người mắc bệnh lao, tuy chữa khỏi bệnh nhưng sau đó cũng bị giảm sức khỏe, và vẫn phải phòng sự tái phát của bệnh.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
