Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Quan niệm thẩm mỹ và các sao chỉ sắc đẹp trong Lý số học

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202613 phút đọc2 lượt đọc
Quan niệm thẩm mỹ và các sao chỉ sắc đẹp trong Lý số học

Đọc hết danh sách những sao được gán cho ý nghĩa nhan sắc, người ta chỉ thấy vài nét chung chung lặp đi lặp lại: da trắng, mặt đầy, dáng cao. Vì sao một khoa học tinh vi bậc nhất về vận trình đời người lại tỏ ra vụng về đến vậy khi phải vẽ nên một gương mặt đẹp...


Một khoa chuyên bàn về vận mệnh con người, đến một lúc nào đó cũng phải quay sang câu hỏi tưởng chừng phù phiếm: người mang bảng số này trông ra sao, đẹp hay không đẹp? Nhưng khi lật lại từng ngôi sao được xem là chỉ về nhan sắc, người đọc kỹ tính sẽ nhận ra ngay một nghịch lý: khoa Lý số học tinh vi bậc nhất về vận trình đời người lại tỏ ra vụng về đến bất ngờ khi phải mô tả một gương mặt đẹp.

Sau khi đã đi hết mọi tiêu chuẩn để phân định một bảng số cực tốt, trung bình hay cực xấu, khoa Lý số học không dừng lại ở đó mà còn dành hẳn một chương riêng để bàn về một khía cạnh rất đời thường: hình thức bên ngoài của con người. Đây là lúc khoa học vốn khô khan về những con số, những cung, những cách bỗng phải chạm trán với một địa hạt hoàn toàn khác, nơi cảm quan thẩm mỹ và định kiến văn hóa đóng vai trò không kém gì các quy luật sinh khắc Âm Dương Ngũ Hành.

Quan niệm thẩm mỹ của Lý số học

Lý số học và Nhân tướng học vốn có quan hệ mật thiết với nhau, bởi cả hai khoa đều khởi nguyên từ một cội nguồn xa xưa: Kinh Dịch thời tiên Tần. Cả hai đều phát sinh từ những công trình nghiên cứu của phái Tượng Số, do một triết gia đời Hán tên Đổng Trọng Thư sáng lập. Phái này chuyên khảo cứu quy luật biến hóa của vũ trụ để từ đó suy diễn ra quy luật biến hóa của quốc gia và của con người, và chính từ nền tảng ấy mới rút tỉa ra những khám phá về Lý số học. Đến đời nhà Tống, khoa Tướng Số trở nên rất thịnh hành, khiến các học sĩ, đạo sĩ đều am tường cả hai khoa, thậm chí có người kiêm luôn cả hai, ba môn cùng lúc. Chính Hi Di, thủy tổ của khoa Lý số học, cũng là người biết và sáng tác cả về Nhân tướng học; quyển sách nhân tướng đầu tiên của Trung Hoa cũng do chính Hi Di biên khảo mà thành.

Tuy nhiên, dù có chung nguồn gốc, chung học phái và chung thủy tổ, khoa Nhân tướng lại đóng góp rất ít cho khoa Lý số học. Các ý niệm về tướng mạo trong Lý số học thật ra rất nghèo nàn: dù mỗi Chính Tinh đều mang một ý nghĩa tướng mạo riêng, nhưng những nét tướng ấy đều thiếu hẳn sự phong phú và thiếu cả sự rõ rệt cần thiết để hình dung ra một gương mặt cụ thể.

Trên phương diện thẩm mỹ, phạm vi cái đẹp mà người Trung Hoa xưa quan niệm cũng rất phiến diện, hẹp hòi. Hầu hết các sao nhan sắc chỉ nói đến tướng mặt của phụ nữ mà hoàn toàn không đề cập đến cái đẹp của thân hình. Những khái niệm về ngực, về eo, về mông không bao giờ được nhắc tới trong bất kỳ đoạn văn nào. Nếu đem so sánh với quan niệm thẩm mỹ Hy Lạp và La Mã thời cổ đại, có thể thấy rõ nền văn minh Hy La quan niệm cái đẹp đầy đủ hơn hẳn, áp dụng cho cả phái nữ lẫn phái nam, và bao quát cả nét mặt lẫn thân hình. Họa phẩm và điêu khắc phẩm của Hy La rất táo bạo, dám trình bày hình khỏa thân của nữ thần Vénus, của lực sĩ Hercule, trong khi khoa Lý số học cùng nền hội họa Trung Hoa chỉ tô điểm riêng khuôn mặt của người phụ nữ, sau khi đã cho ăn mặc rất kín đáo, chỉ để lộ ra đầu, cổ, tay và chân. Vì vậy, người phụ nữ trong khoa Lý số học không hề có vòng số một, vòng số hai hay vòng số ba như cách hình dung hiện đại, mà chỉ hiện ra như một hình trụ tròn nhạt nhẽo, thiếu hẳn đường nét gợi cảm.

Thẩm mỹ quan của người Trung Hoa xưa rất nặng về đạo đức, không hề khêu gợi, thậm chí còn xem việc lột trần thân thể người phụ nữ như một hành vi xúc phạm đến sự trang nghiêm, một điều đáng bị coi là khả ố. Điều đó không có nghĩa là cổ nhân Trung Hoa không hề khảo cứu về nét dâm dục nơi con người; trái lại, những sao chỉ về nét dâm trong khoa Lý số học lại rất hùng hậu, được mô tả tỉ mỉ đến từng chi tiết. Nhưng cái dâm ấy không hề được nghệ thuật hóa như trong văn hóa Hy La; nó chỉ thuộc về khoái lạc thầm kín, riêng tư, chứ tuyệt nhiên không được nhìn nhận như một hình thức nghệ thuật công khai, phô diễn trước công chúng.

Nắm được cái khung quan niệm thẩm mỹ khắt khe và hẹp hòi ấy rồi, người đọc mới đủ sức lý giải vì sao khi lật sang danh sách các sao được cho là chỉ về sắc đẹp, hình ảnh hiện lên lại nhạt nhòa, thiếu sức sống đến vậy.

Các sao chỉ sắc đẹp: một bảng liệt kê sơ khoáng

Một đặc điểm đáng chú ý là rất hiếm khi thấy có sự biến đổi tướng mạo riêng cho từng phái đối với cùng một ngôi sao. Trong khoa Lý số học, diện mạo của con trai và con gái được mô tả gần như giống hệt nhau; nếu có phân biệt chăng nữa thì cũng chỉ trông chờ vào trí tưởng tượng phiêu lưu của chính người giải đoán mà thôi. Để độc giả thấy rõ sự sơ khoáng này, có thể thử liệt kê toàn bộ ý nghĩa tướng mạo của các sao khi đắc địa, không theo bất kỳ thứ tự xấu đẹp nào, chỉ đơn thuần trình bày nguyên trạng.

Hầu hết các sao đắc địa đều phảng phất nét đẹp chung cho cả hai phái. Sao Thiên Tướng chỉ người đẹp đẽ uy nghi, có tinh thần khí sắc, tầm vóc cao vừa, da trắng, mặt đẹp, dáng đi oai vệ. Sao Thái Âm chỉ người to lớn, hơi cao, da trắng, mặt vuông đầy đặn, đôi mắt sáng đẹp. Sao Phá Quân chỉ người to lớn, thân hình cao vừa tầm, da hồng hào mặt đầy, nhưng mắt lộ và lông mày thưa. Sao Tham Lang chỉ người vạm vỡ, da trắng, mặt đầy, có nhiều lông, tóc và râu rậm rạp. Sao Thiên Cơ chỉ người có thân hình cao, xương cốt lộ rõ, da trắng, mặt dài nhưng vẫn đầy đặn. Sao Thiên Đồng chỉ người có thân hình nở nang nhưng hơi thấp, chân tay ngắn, da trắng, mặt vuông và đầy. Sao Thiên Lương chỉ người thon thả, da trắng, vẻ mặt thanh tú, khôi ngô, hàm răng đều và đẹp; riêng nếu là phụ nữ thì được mô tả tươi đẹp như hoa. Sao Chủ Tinh chỉ người cao ráo, đẫy đà, da hồng, mặt đầy. Sao Vũ Khúc chỉ người nở nang, cao vừa tầm, nặng cân, đầu và mặt dài, vẻ mặt uy nghi, giọng nói to vang.

Bên cạnh nhóm Chính Tinh, một số phụ tinh cũng được gán cho ý nghĩa nhan sắc. Sao Văn Xương cùng Văn Khúc chỉ người có vẻ mặt thanh tú, khôi ngô, hợp với quý tướng. Long Trì cùng Phượng Các chỉ nhan sắc đẹp, da hồng hào, dáng vẻ thanh tú. Thanh Long chỉ người phương phi, có tú khí, mang cốt cách sang trọng. Sau cùng, cặp sao Đào Hoa và Hồng Loan chỉ người rất đẹp, trong đó Đào Hoa thiên về nhan sắc còn Hồng Loan thiên về sự duyên dáng. Ngoài những sao kể trên, có thể còn một số sao nhỏ khác mang ý nghĩa nhan sắc, nhưng ý nghĩa của chúng không có gì độc đáo nên không đáng ghi lại chi tiết.

Qua toàn bộ sự liệt kê này, có một điểm đáng chú ý: chỉ riêng hai sao Liêm Trinh và Thất Sát, dù ở vị trí đắc địa đi nữa, cũng không hề được xếp vào hàng đẹp. Đây là ngoại lệ hiếm hoi trong cả danh sách vốn dĩ đã khá dễ dãi khi gán ý nghĩa đẹp cho phần lớn các sao đắc địa còn lại.

Bốn kết luận rút ra từ bảng liệt kê

Nhìn lại toàn bộ bảng liệt kê trên, có thể rút ra bốn nhận xét chung. Thứ nhất, khoa Lý số học tỏ ra rất nghèo nàn về phương diện tướng mạo, các mô tả lặp đi lặp lại quanh quẩn vài đặc điểm như da trắng, mặt đầy, dáng cao, không đủ sức vẽ nên một chân dung sống động. Thứ hai, khoa Lý số học cũng rất sơ sài về cách đẹp, không hề phân tích các dạng đẹp khác nhau như đẹp sắc sảo, đẹp phúc hậu, đẹp kiêu sa mà chỉ gói gọn trong vài tính từ chung chung. Thứ ba, khoa Lý số học không phân biệt nam nữ trong việc mô tả cái đẹp, mà lấy chung một tiêu chuẩn để áp dụng cho cả hai phái, khiến hình ảnh con trai và con gái đẹp trở nên na ná nhau. Thứ tư, khoa Lý số học cũng không quan tâm đến sự thay đổi tướng mạo qua thời gian, mà chỉ nêu ra những nét tướng cố định của một thời kỳ nhất định trong đời người, như thể một người đẹp thì đẹp mãi từ lúc sinh ra đến khi già đi, không hề có sự biến chuyển theo năm tháng.

Từ bốn nhận xét ấy, một câu hỏi lớn hơn tất yếu phải được đặt ra: vì sao một khoa học vốn tinh vi bậc nhất về vận mệnh con người lại thất bại thảm hại đến vậy khi bàn về nhan sắc?

Vì sao Lý số học thất bại khi mô tả nhan sắc

Tóm lại, có thể nói khoa Lý số học đã thất bại trong việc định nghĩa và mô tả tướng mạo cùng cái đẹp con người. Nhiều câu hỏi tự nhiên được đặt ra để lý giải sự thất bại này. Phải chăng nhan sắc vốn muôn hình vạn trạng, và nhất là cái đẹp cái xấu vốn tùy thuộc nhãn quan của từng người, nên không thể nào phản ánh một cách cụ thể, chính xác được? Phải chăng vì khoa Lý số học chỉ chú trọng đến vận trình đời người nên không mấy quan tâm đến nét tướng bên ngoài? Phải chăng khoa Lý số học không xem dung mạo là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công, mà chỉ xem học vấn, quan trường, tiền bạc mới thật sự là những yếu tố quyết định hơn cả? Phải chăng, đến đời Hi Di, Nhân tướng học và Lý số học đã không còn liên quan mật thiết với nhau nữa để trở thành hai chuyên khoa riêng biệt, mỗi bộ môn mang một khảo hướng và một đối tượng nghiên cứu của riêng mình? Và phải chăng, khi Hi Di vay mượn các ý niệm của Nhân tướng học đem vào Lý số học, ông chỉ làm một việc thêu hoa trên gấm cho thêm phần hào nhoáng, phong phú về hình thức, chứ kỳ thật trong thâm tâm không thật sự chú ý đến bông hoa được thêu ấy?

Dù lý do là gì, một di sản khô khan về nhân tướng còn sót lại trong khoa Lý số học như thế cũng không giúp khai triển thêm được điều gì phong phú hơn. Vả chăng, di sản đó đôi khi còn chứa sẵn sai lầm, vì trong thực tế vẫn có trường hợp sao đắc địa mà người mang số ấy lại không đẹp, hoặc ngược lại sao hãm địa mà người vẫn đẹp như thường. Cái tốt hay cái xấu của một ngôi sao trong khoa Lý số học chỉ nói lên sự hay dở về phương diện vận trình đời người, chứ không hẳn đã bao hàm luôn cả cách đẹp hay cách xấu về tướng mạo. Chính vì đối tượng thật sự của khoa Lý số học là đời người chứ không phải là tướng người, cho nên phần nói về hình tướng trong khoa này vốn dĩ ít giá trị thực tiễn. Trên cái khảo hướng như vậy, rất khó cho những ai không am hiểu về nhân tướng học có thể khai triển và canh tân thêm lĩnh vực tướng mạo trong khoa Lý số học, trừ phi họ chấp nhận lòe bịp người khác một cách may rủi, hên xui.

Ngành Nhân tướng học vốn dĩ là một ngành phức tạp, có khảo hướng riêng biệt, với những tiêu chuẩn đánh giá vô cùng phong phú, tỉ mỉ đến từng đường nét trên gương mặt và thân thể con người. Cái phức tạp, cái phong phú ấy, khoa Lý số học đã không hội nhập nổi vào hệ thống của mình. Hi Di, dù có gán ghép Nhân tướng học vào Lý số học, nhưng lại không diễn xuất được hậu quả thực tế của tướng mạo lên đời người một cách thuyết phục. Việc ghép Nhân tướng học vào Lý số học, xét cho cùng, chỉ là một sự gả bán ép buộc, giống như lấy vuông đậy vào nồi tròn, chứ kỳ thật cuộc hôn phối giữa nhân tướng và lý số trong khoa Lý số học đã là một thất bại rõ ràng.

Khi bày ra khoa Lý số học, Hi Di đã mang một tham vọng quá lớn lao, muốn biến khoa này thành một hệ thống tính toán có thể nói lên mọi sự việc, mọi hình tướng, mọi cá nhân, mọi đời người, mọi lĩnh vực, mọi thời kỳ cùng một lúc. Bộ óc của tiên sinh dù có tinh vi đến đâu, vẫn không thể thâu tóm hết những uẩn khúc quá đỗi phức tạp của nhân sinh, của nhân tính, của nhân tướng, và của mối tương quan chằng chịt giữa ba yếu tố nhân tướng, nhân tính và nhân sinh ấy với nhau. Ý thức hệ của khoa Lý số học, nếu quả thật có tồn tại, cũng chỉ có giá trị trong phạm vi nhân sinh và nhân tính mà thôi, chứ khó lòng vươn xa sang địa hạt nhân tướng. Cho đến nay, vẫn chưa từng thấy ai thành đạt trong việc tổng hợp trọn vẹn một khoa Lý số học nhân tướng đúng nghĩa. Hễ ôm đồm quá nhiều thì ắt sẽ đuối sức trước sự đa mang ấy. Đó chính là khuyết điểm của Hi Di trên phương diện này, một khuyết điểm mà có lẽ không riêng gì ông mà bất cứ ai ôm tham vọng thâu tóm trọn vẹn con người vào một hệ thống duy nhất cũng khó lòng tránh khỏi.

Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn