Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Cổ nhân xem quẻ: chuyện Tô Đông Pha, Thiệu Khang Tiết và lá số Hitler

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Cổ nhân xem quẻ: chuyện Tô Đông Pha, Thiệu Khang Tiết và lá số Hitler

Một người nô bộc mặt mày thanh tú được quẻ rất tốt mà chết non, ba anh em nhà họ Tô gặp hào đẹp mà vẫn gặp họa. Cổ nhân kể lại để dặn một điều, và một lá số thời nay lại cho thấy điều ấy đúng đến đâu...


Một lá số đã được viết lại bằng cả lịch sử

Lá số của Adolf Hitler, nam sinh ngày 20 tháng 4 năm 1889, giờ Dậu, theo nguồn Astrodatabank xếp hạng AA, dựa trên sổ rửa tội của nhà thờ. Cuộc đời chính trị của người này có những mốc đã được ghi chép đầy đủ, nên rất tiện để đặt cạnh quẻ Hà Lạc.

Các mốc chính từ 1919 đến 1945: năm 1919 đến 1922 gia nhập rồi chỉ huy đảng Quốc xã còn sơ khai. Năm 1923 đảo chính ở bang Bavière thất bại, bị tù; những năm 1923 đến 1924 học trong tù. Năm 1925 đến 1928 lập lại trật tự trong đảng và viết cuốn Mein Kampf. Năm 1929 đến 1932 đảng lớn mạnh. Năm 1932 ra tranh cử tổng thống, về nhì, nhưng sau đó đảng về nhất trong bầu cử Quốc hội. Năm 1933 được đề cử làm thủ tướng. Năm 1933 đến 1934 phá vỡ nền dân chủ, lập ra nền đệ tam Cộng hòa nhưng thực chất là độc tài đảng trị. Năm 1939 Thế chiến thứ hai nổ ra, những năm 1939 đến 1940 thắng lớn. Năm 1941 bị chặn đứng ở Nga. Từ 1942 đến 1945 thua dần cho đến khi Berlin bị bao vây thì tự sát.

Lá số lập ra sao

Năm Kỷ Sửu thuộc khí xuân phân, tiết Thanh Minh; tháng Mậu Thìn, nguyệt lệnh là quẻ Đại Tráng; ngày Bính Dần; giờ Đinh Dậu. Tổng số Âm là bốn mươi, tổng số Dương là ba mươi chín. Hóa Công là Chấn, nguyên khí là Ly và Cấn. Quy ra được quẻ Tiên Thiên là Tỉnh, Nguyên Đường ở hào một; quẻ Hậu Thiên là Tụng, hào bốn.

Xét kỹ thì chỉ có nguyên khí Ly ở các quẻ Hỗ, cả Tiên Thiên lẫn Hậu Thiên. Tổng số Âm Dương cũng chỉ bán hợp: Dương cao hợp thời nhưng Âm khá cao thì không hợp. Lại còn lời hào xấu. Vậy có phần bất hợp lý với công danh sự nghiệp lớn lao như của nhân vật này.

Đi vào từng thể cách

Hai mươi thể cách xếp ra, có cái được điểm, có cái bị trừ, và kết quả không đơn giản như cái nhìn đầu tiên.

Tuy nhiên, khi đi vào chi tiết mười việc phải xem, thì thấy như sau.

  • Tên quẻ tốt: Tỉnh là cái giếng, chỉ cái hồn của cộng đồng.
  • Hào vị ở hào sơ là kém.
  • Lời hào đã nói xấu: giếng đầy bùn không uống được; giếng bỏ hoang cũ không có bóng chim.
  • Không có yểm trợ, vì hào ứng ở hào bốn cũng là Âm.
  • Không được cộng điểm đáng vị.
  • Không có chúng theo, nhưng cũng không bị chúng ghét.
  • Về nạp giáp: tuy không nạp giáp năm sinh với quẻ Tỉnh, nhưng lại hợp tháng sinh. Lời xưa chép rằng sinh tháng ba là cách công danh phú quý.
  • Số thuận mùa sinh ở mặt Dương, không được ở mặt Âm.
  • Về thể: bát quái gồm Tốn, Khảm, rồi hậu vận thêm Càn. So với tuổi Kỷ Sửu và mạng Hỏa thì được nhiều điểm tốt.
  • Về lý, cách xem không khác phần thể, nhưng nhấn mạnh vào bát quái của Nguyên Đường Tiên Thiên so với can của tuổi. So Tốn với Kỷ: như gió làm nổi bụi quét đất, chuyện ồn ào sôi động mà cũng vất vả, ứng với cuộc đời của người này. Lại phải xem bát quái của Kỷ có hợp với mùa sinh không: Tốn hợp với hạ hay xuân, mà người này sinh vào cuối xuân, vậy là hợp.

Soát lại thì Nguyên Đường Hậu Thiên đắc nguyên khí nhờ nằm trong quẻ Hỗ Ly. Hậu vận vì thế khá hơn tiền vận, đúng với một người bị tù đày, lang thang lúc trẻ mà lên đến tột đỉnh từ tuổi trung niên.

Kết luận: lá số xấu mà có công danh

Tổng kết lại, thấy đây là lá số xấu nhưng có công danh phú quý, nhờ điểm nạp giáp. Kể ra thì được bốn trên tám điểm; các điểm về đáng vị và chúng chỉ như thưởng hay phạt thêm, vì đa số người không được tính tốt hay xấu ở đó. Hóa Công và nguyên khí cũng không phải quá kém. Kết luận nên phê là bất hợp cách nhưng có công danh phú quý.

Vậy lời xưa chép ra sao khi mệnh bất hợp cách? Hào một quẻ Tỉnh ở Tiên Thiên: thấp kém, ô nhiễm tối tăm, thành bại chẳng ra sao; hoặc có bệnh kiết lỵ, lại khí tức ở trên, có thể giảm thọ. Hào bốn quẻ Tụng ở Hậu Thiên: hay chơi nước chịch, phạm thượng, không xét nghĩa lý để tu tỉnh, khó an lành. Thật hợp với cuộc đời người này lúc trẻ, cũng như lúc nắm quyền bính.

Những năm bản lề đối chiếu với từng quẻ

Người này bắt đầu đi lên từ năm 1929, lúc bốn mươi tuổi, nghĩa là vào đại vận hào sáu quẻ Tỉnh, từ bốn mươi đến bốn mươi lăm tuổi. Lời hào rất tốt, hợp lòng người, được hào ba yểm trợ, mà hào này lại được nguyên khí Ly ở quẻ Hỗ. Lời hào ba cho thấy đám đông tìm được một minh chủ.

Đi vào từng năm: năm 1932 tuy thua cử tổng thống nhưng đảng thắng cử Quốc hội, nên sau đó được cử lập nội các vào tháng 1 năm 1933. Năm 1932 ở quẻ Vô Vọng hào bốn, lời hào khá tốt, nói về cái may bất ngờ, lại có nguyên khí Cấn. Năm 1933 ở quẻ Phệ Hạp hào năm, nói về khả năng phá vỡ, bẻ gãy, ứng với chuyện đảng chiếm lấy chính quyền sau khi đã nắm quyền trong tay, lật đổ chế độ cũ lập nên Đệ tam Đế chế; ngoài hào vị, lời hào tốt lại còn có nguyên khí Ly.

Đại vận gây chiến và niên vận cuối cùng

Đại vận gây ra Thế chiến thứ hai, từ 1939 đến 1945, nằm ở đại vận hào bốn quẻ Tụng rồi hào năm quẻ Tụng, tức 1944 đến 1945. Hào bốn tuy hào vị và lời hào không bằng, nhưng được yểm trợ và nhất là được nguyên khí. Hào năm tuy hào vị tốt nhưng không ứng viện, và nhất là không có Hóa Công lẫn nguyên khí; cả hai nằm trong quẻ Càn nên so với tuổi Kỷ thì cả hung lẫn cát đều có. Lời khuyên ở Hậu Thiên, tức hào bốn quẻ Tụng, là nên tránh tranh đấu, giành giựt. Đương nhân không theo lời khuyên mà càng cố ta đây đúng ở hào năm thì càng xa với thực tế, nên kết cục phải bi thảm.

Niên vận 1945 rơi vào quẻ Bĩ hào năm; lời xưa ghi số xấu thì tổn vong, hình khắc, và cũng không có phúc thần.

Bài học rút ra

Từ đó học được một số điều: hào vị không bằng phúc thần, và nhất là lời hào không phải lúc nào cũng đúng, như hào năm quẻ Tụng mà mệnh bất hợp cách cũng khá tốt. Vậy lời hào không có tính quyết định trong thành bại, nhưng có lẽ đi ngược với lời thì hỏng, đi theo lời thì thành, hoặc nếu số xấu cũng sẽ được châm chước.

Nhắc lại lời của Nguyên Đường Hậu Thiên hào bốn quẻ Tụng: chẳng thể tranh chấp, trở lại mệnh của mình, thay đổi được thì an, đoán mở ra thì tốt. Nhưng nhân vật này quá tham vọng, muốn làm bá chủ châu Âu, đánh cả phe cộng sản lẫn các nước phương Tây là Mỹ, Anh, Pháp, nên đã làm ngược lời khuyên; hậu quả là đi theo hướng bất hợp cách và phải chấp nhận cái giá phải trả.

Những lời luận số của nho gia xưa

Ngày trước người ta mang lá số đến hỏi các bậc thầy, và câu trả lời không phải lúc nào cũng làm họ yên lòng.

  1. Có người mang số đến hỏi Thiệu Khang Tiết: ít người đi tới được hào năm Hậu Thiên, đến hào bốn là đã có thể đoán được sinh tử rồi; thế mà có người chưa đầy hai mươi tuổi đã chết, lại có người thọ đến tám chín mươi tuổi, là vì sao? Tiên sinh đáp: các trường hợp đã được dạy hết, chỉ vì xem chưa kỹ, nên về xem lại, khỏi phải bàn luận.
  2. Trình Y Xuyên nói: ta có một người nô bộc tuổi Dương nam, mặt mày thanh tú, số được ngôi hào bốn quẻ Càn. Vậy mà hỏi ra thì cha nó mất sớm, đến mười chín tuổi nó cũng chết bất ngờ. Đó là người tầm thường được quẻ rất tốt cũng đáng ngại.
  3. Tô Đông Pha đi đến tuế vận gặp quẻ Bĩ, vậy mà ba ông họ Tô ở triều đều gặp xui xẻo, ngộ biến, là vì sao? Ông Tô nói: ta tuy ngồi được hào vị đẹp, nhưng hành niên nửa xấu nửa tốt, cát hung ngang nhau, nên xảy ra như thế, chẳng hận gì cả.
  4. Sơn Cốc bảo với Bản rằng: tôi hiện ngồi hào hai quẻ Truân, phải hết mười năm mới được về. Khi tiên sinh bị an trí ở Dung Châu, liền bảo con rằng trước đây ta ngồi hào hai quẻ Truân, nay lại ngồi hào thượng quẻ Phục, mê Phục thì hung, thôi hết về rồi. Sau quả ông mất ở đó.
  5. Phú Trịnh Công gặp hào lưu niên xấu, liền viết lên vách để con cháu nhìn thấy mà đề phòng cẩn thận.
  6. Lý Văn Tĩnh Công ngồi hào hai quẻ Khôn, đến năm gặp hào bốn quẻ Ly, (phần như, tử như, khí như), bèn bảo người nhà: sang năm ta chết. Quả nhiên vậy.
  7. Phạm Văn Chính Công ngồi hào hai quẻ Đại Hữu, ứng với xe lớn chở nặng, biết mình có tài kinh bang tế thế, liền ra giúp nước. Quả có thế thật.
  8. Tư Mã Ôn Công nói: xem quẻ phải xem Đại Tượng, để theo đó mà tu tâm dưỡng tính thì mới làm được điều lành, tránh được điều dữ.

Mỗi câu chuyện chỉ dài vài dòng, nhưng người xưa kể lại để dặn một điều: số không phải thứ đọc một lần rồi xong, mà là thứ phải xem đi xem lại cho kỹ, cho đến khi hiểu hết các trường hợp mà nó chứa.

Điểm chung của tám câu chuyện

Đọc lần lượt tám câu chuyện, thấy chúng cùng chỉ về một hướng. Có người được ngôi hào đẹp mà vẫn gặp xui xẻo, vì hành niên nửa tốt nửa xấu, nên hào vị đẹp chưa đủ. Có người tầm thường nhận một quẻ quá tốt mà vẫn yểu mệnh, vì phận không chịu nổi quẻ. Có người nhìn thấy trước năm hạn nên viết lên vách dặn con cháu, hoặc thấy trước năm mất mà báo người nhà, hoặc biết mình có tài kinh bang tế thế nên ra giúp nước. Tất cả những người ấy không đọc quẻ bằng mặt chữ mà bằng lý: quẻ ấy đặt vào người ấy, vào năm ấy, ra điều gì.

Lời Tư Mã Ôn Công gói lại điều đó: xem quẻ phải xem Đại Tượng, rồi theo đó tu tâm dưỡng tính. Quẻ không chỉ để biết trước, mà để biết đường tu sửa mình, làm điều lành và tránh điều dữ.

Chín điều phải xét cho kỹ

Phàm coi quẻ phải xét cho kỹ: quẻ có hợp lý hay không, tức thuận hay nghịch; ngôi hào vị nào, tốt hay xấu; người có quẻ thuộc loại nào, tiểu nhân hay quân tử. Lấy tên quẻ mà tìm hiểu số mệnh không bằng lấy lý mà tìm hiểu số mệnh.

Dĩ danh tầm số bất nhược dĩ lý tầm số.

Một thời vận đang tốt có thể biến ra xấu, đang bị chế khắc có thể dùng được việc. Sự co giãn theo biến hóa, không lấy lý mà suy thì không nhìn thấy rõ ràng.

Khuất thân hữu biến, phi dĩ lý suy, cố nan đồng kiến.

Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc