Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Quẻ Lý, quẻ Sư, quẻ Đại Hữu và lá số nhà văn Tản Đà

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202615 phút đọc2 lượt đọc
Quẻ Lý, quẻ Sư, quẻ Đại Hữu và lá số nhà văn Tản Đà

Dẫm lên đuôi cọp mà cọp không cắn, lui quân mà không lỗi, có lớn mà vẫn khiêm cung: ba lời quẻ ngắn như ba câu thơ, đặt cạnh những cuộc đời có thật. Còn một người cầm bút, mỗi năm một quẻ, mỗi năm một bản thảo đi lạc... Quẻ nói gì, đời trả lời ra sao?


Dẫm lên đuôi cọp mà cọp không cắn: quẻ Lý và một cuộc đời

Có những lá số người đời đã biết cả hành trình, nên việc đặt quẻ Hà Lạc cạnh cuộc đời thật cho thấy lời quẻ có nói trúng hay không. Hồ Chí Minh là người được quẻ Thiên Trạch Lý, Nguyên Đường chủ mệnh ở hào năm.

Người xưa đặt lời cho quẻ Lý chỉ bằng bảy chữ Hán, dịch là dẫm lên đuôi cọp mà cọp không cắn, hanh thông.

Lý hổ vĩ, bất điệt nhân, hanh.

Nghe hoang sơ, đơn giản như thế, nhưng đó là cả một triết lý cao sâu, khái quát một minh triết: lấy nhu thắng cương, lấy yếu thắng mạnh. Phải làm thế nào thì dẫm lên đuôi cọp mà vẫn an toàn? Chỉ mấy chữ ấy mà nói lên tính cách con người, bản lĩnh con người, cái tài đức hơn đời của người. Hồ Chí Minh chính là như thế. Cuộc đời với bản lĩnh lấy nhu thắng cương, lấy yếu thắng mạnh bắt nguồn từ triết lý cao sâu ấy, và đó cũng là tính cách Việt, bản lĩnh Việt, sức sống Việt.

Năm 1946, khi sang Pháp, Người giao việc nước cho Phó Chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng. Giữa tình hình nước sôi lửa bỏng, cụ Huỳnh hỏi: khi có biến thì làm thế nào? Chủ tịch trả lời: lấy cái bất biến ứng với vạn biến. Nghĩa là lấy cái mềm ứng xử với cái cứng, lấy cái bất biến đối phó với vạn cái biến. Câu ấy chính là một minh triết bắt nguồn từ vận mệnh của người: lấy nhu thắng cương.

Hậu vận từ năm 1942 là quẻ Cách

Hậu vận của Hồ Chí Minh bắt đầu từ năm 1942 với quẻ Trạch Hỏa Cách, chủ mệnh ở hào hai. Cách là cải cách, cách mạng. Lời hào hai nói rằng: đã chuẩn bị lâu ngày rồi, hãy liệu cải cách, tiến lên thì tốt, không lỗi. Cải cách theo vận mệnh Hồ Chí Minh là làm cách mạng; thực tế đời sống đã diễn ra đúng như thế.

Có một điều thú vị là năm 1010 vua Lý Thái Tổ quyết định dời đô, ban hành Chiếu dời đô, câu cuối là một câu hỏi: ý các khanh ra sao? Các nhà văn, nhà sử học đều bình rằng đó là câu hay nhất trong cả bài Chiếu, vì câu hỏi ấy đã đi vào lòng dân và biến thành ý chí của quân thần, của nhân dân. Chín trăm ba mươi lăm năm sau, năm Ất Dậu 1945, mười lăm ngày sau Tổng khởi nghĩa ngày 19 tháng 8 ở Hà Nội, ngày 2 tháng 9, tại quảng trường Ba Đình sát gần Hoàng thành xưa, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Vừa đọc được vài câu, giữa chừng Người bỗng dừng lại vài giây và hỏi: tôi nói đồng bào nghe rõ không? Hàng vạn người trên quảng trường đồng thanh reo lên: rõ ạ. Rồi họ im phắc nghe tiếp.

Câu hỏi đột ngột từ trái tim người lãnh đạo ấy bỗng mang tính minh triết cao sâu: sự gặp nhau đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa nguyên thủ và nhân dân. Giây phút ấy cũng chứng kiến cuộc gặp nhau giữa hai nguyên thủ cách nhau gần nghìn năm trong những câu nói gần giống nhau. Đây không phải tình cờ, mà là sự gặp nhau về ý chí, gặp nhau về thời cơ, trong một chữ thời của trời đất núi sông.

Quẻ Sư của vị tướng cầm quân

Mệnh nào thì đời ấy: sáu hào của một quẻ có thể chứa sẵn cả một học thuyết quân sự.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc tròn một trăm tuổi, được lập quẻ Kinh Dịch cho cuộc đời và thấy một điều vô cùng kinh ngạc trong số mệnh. Tiền vận bốn mươi hai năm của ông là quẻ thuần Khảm. Hậu vận từ năm 1953 là quẻ Địa Thủy Sư, ở hào năm.

Sư là đám đông, là quân đội. Tượng quẻ là trong đất có nước tụ lại. Quẻ này phản ánh cuộc đời người có số mệnh điều khiển đám đông; nếu tham gia quân đội thì trở thành người chỉ huy; người được quẻ này thường trước gian nan, sau thành công. Người quẻ Sư hào năm có thiên chức chỉ huy, thích ứng nhanh với chiến trận, thu nhận nhanh binh pháp, binh thư, nghệ thuật hành quân, dụng tướng, dụng hiền. Mệnh thế nào thì cuộc đời thế ấy: ông trở thành vị tướng cầm quân suốt hai cuộc kháng chiến cứu nước.

Với mệnh trời cho, những gì thuộc về quẻ Sư đã tiềm ẩn trong vô thức của ông và nhập vào những ứng biến của ông khi chỉ huy chiến dịch. Chỉ xin nêu một ví dụ: hào bốn quẻ Địa Thủy Sư chỉ vỏn vẹn bốn chữ là lui quân không lỗi. Cả quẻ Dịch chỉ có sáu hào mà người xưa dành hẳn một hào nói về việc lui quân, đủ biết vấn đề ấy quan trọng đến dường nào trong học thuyết quân sự. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi vừa lên mặt trận, thấy tập đoàn cứ điểm của địch đã được tăng cường mà việc chuẩn bị chiến trường của quân ta chưa đạt yêu cầu, ông quyết định chuyển từ phương án đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc. Đã kéo pháo vào nay lại kéo pháo ra, củng cố lại trận địa, lui để tiến, chia giai đoạn đánh công kiên, bóc từng mảng cứ điểm của địch. Chủ trương ấy phù hợp với thực tế chiến trường, được Đảng ủy mặt trận tán thành, cán bộ chiến sĩ chấp hành nghiêm chỉnh và biến thành sức mạnh đi đến thắng lợi cuối cùng. Kinh Dịch bảo lui quân thế không lỗi; không khác gì trời đất đã mách bảo từ trong số mệnh.

Quẻ Đại Hữu của nhà toán học

Giáo sư Ngô Bảo Châu được quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu, Nguyên Đường chủ mệnh ở hào năm. Quẻ Đại Hữu nói người ấy sở hữu rất lớn, nói gọn là có lớn, cũng hiểu là có lòng khoan dung rộng lớn. Tượng quẻ là lửa ở trên trời. Người quẻ Đại Hữu bên ngoài thì phát triển mạnh mẽ, bên trong thì chứa chất hàm súc. Chữ có lớn ở đây có hai nghĩa: một là có lớn về vật chất, là người giàu có; hai là có lớn về trí tuệ, là người sang trọng. Ngô Bảo Châu thuộc lớp người thứ hai này.

Người quẻ Đại Hữu có lúc như chiếc bánh xe lớn chở nặng, đi chốn nào cũng được, sẵn sàng gánh vác công việc to lớn nặng nhọc. Có lúc như được phúc trời ban xuống, là người có uy danh, có lòng chí thành, được tin dùng, có thể tiếp xúc với các bậc đại nhân, nguyên thủ. Mệnh như thế, nên việc một người Việt Nam giỏi toán được giải thưởng Fields danh giá dường như có mệnh trời trong đó.

Có một cuộc gặp huyền diệu giữa hai mốc thời gian. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Tổng khởi nghĩa của toàn dân thành công, cả dân tộc bước vào kỷ nguyên lịch sử mới. Ngày 19 tháng 8 năm 2010, lúc mười hai giờ năm mươi lăm phút, Ngô Bảo Châu được trao giải Toán quốc tế Fields, giải có tầm cỡ Nobel; Việt Nam là nước châu Á thứ hai có sự kiện này. Mọi người Việt trong và ngoài nước đều vui mừng xúc động. Trong đó có một tín hiệu tỏa sáng về một thời kỳ mới đã bắt đầu, mà ngày 19 tháng 8 gợi ra: một cuộc tổng khởi nghĩa, một cuộc cách mạng, ít nhất trong giáo dục, văn hóa, khám phá khoa học, phát hiện và sử dụng hiền tài, mà hiền tài là nguyên khí quốc gia. Đây không phải tình cờ, mà cũng là sự gặp nhau về ý chí và thời cơ trong một chữ thời của trời đất núi sông.

Duy có một điều trời đất bảo thêm. Với Ngô Bảo Châu, tuy số mệnh cực tốt như thế, nếu không có một sự đam mê hết mình, nếu không có những người thầy, những môi trường toán như anh đã trải nghiệm, thì liệu có ngày mười chín tháng tám ấy hay không? Từ vận người đến vận nước vẫn còn một khoảng cách dành cho ý chí con người, bản lĩnh con người, kể cả cái gọi là may mắn. Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tấm gương.

Lá số nhà văn Tản Đà

Một lá số có nhà văn nổi tiếng làm chủ, còn lại bản thảo, thơ văn và hành trình để đối chiếu từng năm một.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889, giờ Tý, tức ngày 20 tháng 4 năm Kỷ Sửu. Là âm nam, mệnh Hỏa, sinh vào giờ khí Dương. Bốn trụ là năm Kỷ Sửu, tháng Kỷ Tị, ngày Ất Mùi, giờ Bính Tý.

Trị số Âm cộng được ba mươi tám, trừ ba mươi còn tám, là quẻ Cấn. Trị số Dương cộng được ba mươi sáu, trừ hai mươi lăm còn mười một, bỏ hàng chục lấy một, là quẻ Khảm. Quẻ Tiên Thiên là Sơn Thủy Mông, Hỗ Tiên Thiên là Địa Lôi Phục; quẻ Hậu Thiên là Địa Sơn Khiêm, Hỗ Hậu Thiên là Lôi Thủy Giải; quẻ Hỗ Nhân Quả là Trạch Lôi Tùy, đổi dấu các hào hai, ba và sáu. Nguyên Đường Tiên Thiên ở hào hai.

Các đại vận

Tiền vận gồm: chín năm từ 1889 đến 1897, hào hai Dương; sáu năm 1898 đến 1903, hào ba Âm; sáu năm 1904 đến 1909, hào bốn Âm; sáu năm 1910 đến 1915, hào năm Âm; chín năm 1916 đến 1924, hào sáu Dương; sáu năm 1925 đến 1930, hào một Âm. Hậu vận có Nguyên Đường ở hào năm quẻ Khiêm, gồm: 1931 đến 1936 hào năm Âm; 1937 đến 1942 hào sáu Âm; 1943 đến 1948 hào một Âm; 1949 đến 1954 hào hai Âm; chín năm 1955 đến 1963 hào ba Dương; 1964 đến 1969 hào bốn Âm. Hóa Công là Chấn, nằm ở quẻ Hỗ Tiên Thiên và Hỗ Hậu Thiên; Thiên Nguyên Khí là Ly, không có; Địa Nguyên Khí là Cấn, có ở Tiên Thiên và Hậu Thiên. Đây là mệnh hợp cách ở mức trung bình.

Lời giải cho cả đời

Hào Nguyên Đường có vị hào và lời hào tốt, có yểm trợ. Sinh vào tháng nguyệt lệnh, có quần chúng hỗ trợ, có ưu tiên về năng lượng Hóa Công và nguyên khí của đất, tức Địa Nguyên Khí. Mệnh Hỏa sinh tháng tư, ánh mặt trời chói rực; được quẻ Khôn thì tốt, nhưng gặp quẻ Khảm là bị nước dập lửa, không tốt, dễ gặp phản phúc; gặp quẻ Càn, quẻ Chấn cũng không tốt.

Quẻ trời đất cho là Sơn Thủy Mông, Nguyên Đường hào hai. Tượng quẻ là dưới núi, suối mới chảy ra, chưa có hướng nhất định. Người quẻ Mông chan hòa trong thế giới trẻ thơ, dễ đi sâu vào khoa nhi đồng, giáo dục, tâm lý học trẻ em, có mệnh làm thầy giáo. Người quẻ Mông như con suối mới xuất hiện dưới núi, còn ngơ ngác trước nhiều ngả đường nên không tránh khỏi sa vào vũng nước quanh co bùn nhơ, tham vàng bỏ nghĩa, bỏ gốc theo ngọn, bỏ chính theo tà, bị khốn trong vòng hôn ám, hối tiếc. Nhưng núi ở trên, suối ở dưới, nên nhất định suối sẽ thành sông; quẻ Mông vẫn hanh thông. Người quân tử xem quẻ này mà quyết tâm nuôi dưỡng tính tình, đức độ để định hướng cho đời mình. Châm ngôn người quẻ Mông là bốn chữ giữ nết nuôi đức, hoặc hòa ánh sáng với bụi đời.

Quẻ Hỗ của quẻ Mông là Địa Lôi Phục. Phục là trở lại. Người quẻ Mông cần biết rằng với quẻ Phục, khí Dương bắt đầu sinh, rất tốt, nhưng cần giữ gìn sự yên tĩnh cho khí Dương sinh như người mẹ bảo vệ bào thai. Nên tĩnh, không nên động; cảnh giác trước mọi cám dỗ và trở lại với điều thiện. Người xưa có thơ rằng tiến lui ý chưa quyết, lòng ngờ việc chưa thành, muốn nên danh và lợi thì đợi buổi nhất dương sinh. Ý nói, hằng năm việc lớn nên đợi đến tháng mười một, khi lệnh tháng là quẻ Phục, mà quẻ ấy tiềm ẩn trong quẻ Mông.

Nguyên Đường chủ mệnh hào hai chi phối những năm tiền vận: những năm tốt lành, có năng lượng phấn đấu, cương cường sáng suốt, bao dung những người dưới còn mờ tối, mở đường cho bản thân và xã hội. Phận dưới mà gánh vác việc trên, hướng phấn đấu làm thầy thiên hạ. Sẽ trở nên bậc hiền tài lớn, đại lượng, bao dung mọi việc, giữ hòa khí với mọi người, trung hiếu vẹn toàn; hoặc ít nhất cũng khởi gia lập nghiệp, vợ đảm con quý. Thực tế, Tản Đà là người học hành quảng bác, sớm ra đời gánh vác việc lớn, khởi gia lập nghiệp.

Sáu năm từ 1910 đến 1915, hào năm Âm quẻ Mông

Đại vận từ hai mươi hai đến hai mươi bảy tuổi là hào năm Âm quẻ Sơn Thủy Mông: có lòng chí thành, biết trọng người tài; trẻ tuổi minh mẫn, dễ thành tài khi còn trẻ, nhờ phúc tổ được chọn ra đảm nhiệm việc lớn, công việc trôi chảy. Khi gặp khó khăn thì biết an phận thủ thường, hòa ánh sáng với bụi đời, không điều tiếng gì. Thực tế những năm này ông ra Hà Nội, tuy không vào trường học làm quan nhưng sớm được chọn vào việc làm báo.

  • Năm Canh Tuất 1910, hào năm quẻ Phong Thủy Hoán: năm gặp cảnh phân tán, phải có chí lớn mới cứu được thời hoán tán; rút quân về, mở rộng đức ra. Diễn biến nhân quả ở hào năm quẻ Kiển: người quân tử gặp gian nan, mừng được giúp sức. Thực tế do thi hỏng năm trước, năm này ông về quê, ra sức học hành, mở rộng đức, quyết định không thèm làm quan nữa mà nghiên cứu văn chương Đông Tây, được các anh giúp đỡ.
  • Năm Tân Hợi 1911, hào sáu thuần Khảm: vô tài mà ở chỗ cực hiểm tất nguy vong, nên ẩn cư nơi sơn lâm. Diễn biến nhân quả là hào sáu quẻ Tiệm: chim hồng bay bổng tầng mây, vượt ra ngoài thường tình. Thực tế đó là năm gian nan, lo chuyện làm ăn, đi đây đi đó, nhưng trong lòng thư thái khác thường.
  • Năm Nhâm Tý 1912, hào một quẻ Thủy Trạch Tiết: năm này phải tự mình tiết chế, giữ chừng mực; không ra khỏi cửa thì không lỗi; học rộng cổ kim, thấu lẽ thông biến. Diễn biến nhân quả là hào một quẻ Gia Nhân: giữ chính được đạo nhà thì chẳng khiếm khuyết gì. Thực tế ông về ấp Cổ Đăng với anh là Nguyễn Thiện Kế, trong cơn tâm bệnh đã tự tiết chế bằng cách nhịn ăn cơm chỉ uống rượu, sau lại chỉ ăn thịt, rồi mới tập ăn cơm trở lại; trong khi đó vẫn chăm đọc sách, học cả văn phương Tây, mà vẫn giữ nghiêm đạo nhà.
  • Năm Quý Sửu 1913, hào hai quẻ Thủy Lôi Truân: năm gặp gian truân đòi hỏi tài kinh luân, tổ chức lại cuộc sống; trong xóm làng là người hiền sĩ, nơi hang núi vẫn giữ tiết nghĩa của kẻ sĩ nghèo. Diễn biến nhân quả là hào hai quẻ Tiểu Súc: cùng một đường, cùng đi. Thực tế năm nay ông viết tập sách đầu tay Quý Sửu niên Tản Đà văn tập; bản thảo lưu lạc mãi hai phần ba thế kỷ sau mới đến tay người con cả là ông Nguyễn Khắc Xương, dày bốn mươi trang, chép ba mươi ba bài văn xuôi và chín bài thơ.
  • Năm Giáp Dần 1914, hào ba quẻ Thủy Hỏa Ký Tế: hoàn thành nhiều việc như người đã qua sông, phải nhớ như người cầm quân không được khinh địch; có tài nhưng vội thì khó thành công. Diễn biến nhân quả là hào ba quẻ Trung Phu: như người không có chủ định. Thực tế ông viết bản thảo thứ hai dày dặn hơn, Tản Đà Nhi Giáp Dần văn tập, dày một trăm lẻ bốn trang, chép ba mươi bài văn xuôi và năm bài thơ; có lẽ do tác động của quẻ Ký Tế mà đầu đề tập văn thêm chữ Nhi, tỏ sự khiêm cung như người cầm quân không khinh địch. Việc này cũng chỉ để chơi, không có chủ định, và bản thảo ấy cũng lưu lạc.
  • Năm Ất Mão 1915, hào bốn quẻ Trạch Hỏa Cách: năm có việc đổi mới cái mệnh của mình; hối hận tiêu hết, có lòng chí thành, trên dưới đều tin theo, đổi mệnh được, rất tốt. Diễn biến nhân quả là hào bốn quẻ Lý: tôn kính người trên, được toại ý. Thực tế Đông Dương tạp chí đăng những bài văn xuôi đầu tay của ông với lời khen trọng hậu, mở riêng một mục dành cho ông mang tên Một lối văn xuôi, sau đổi thành Tản Đà văn tập.

Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc