Bài tổng quan
Quẻ Hỗ trong lòng quẻ và cách chia vận xuống tuần, ngày, giờ
Bóc đi hai hào ngoài cùng của một quẻ, bên trong còn lại hai quẻ khác đang nương vào nhau mà đứng. Từ lõi ấy, một năm được chia nhỏ thành tháng, thành tuần sáu ngày, thành từng canh giờ... mỗi mảnh một quẻ riêng.
Quẻ Hỗ: cái lõi nằm trong lòng quẻ chính
Quẻ Tiên Thiên hay quẻ Hậu Thiên đều ôm trong lòng một quẻ phụ. Quẻ phụ ấy gọi là quẻ Hỗ, làm nhiệm vụ thêm ý nghĩa hoặc bổ khuyết cho quẻ chính, nên đọc quẻ chính mà bỏ quẻ Hỗ thì mới thấy một nửa câu chuyện.
Muốn tìm quẻ Hỗ, bỏ hào một và hào sáu của quẻ chính đi. Còn lại bốn hào ở giữa, từ đó thấy hiện ra hai quẻ Hỗ, một quẻ nội và một quẻ ngoại. Cũng như bóc lớp vỏ cây thì lộ ra phần gỗ bên trong, một khúc dưới và một khúc trên. Gọi là Hỗ vì hai quẻ ấy giúp nhau qua nhau: hai hào ở giữa được dùng chung làm ranh giới để cả hai cùng thành lập.
Lấy quẻ Thiên Trạch Lý làm mẫu
Quẻ Lý có Càn ở trên, Đoài ở dưới. Bỏ hào một và hào sáu đi thì còn hào hai, ba, bốn, năm. Đếm ba hào hai, ba, bốn lập thành quẻ Hỗ nội, đó là quẻ Ly. Đếm ba hào ba, bốn, năm lập thành quẻ Hỗ ngoại, đó là quẻ Tốn. Hai quẻ ấy cùng mượn chung hai hào ba và bốn, nên mới nói là giúp nhau mà thành.
Lấy thêm một quẻ khác để thấy cách làm lặp đi lặp lại. Quẻ Địa Trạch Lâm có Khôn ở trên, Đoài ở dưới. Bỏ hào một và hào sáu, hào hai là Dương, hào ba và hào bốn là Âm: ba hào ấy làm nên Hỗ nội là Chấn. Hào ba, bốn, năm đều là Âm, làm nên Hỗ ngoại là Khôn. Quẻ Hỗ của Lâm vì thế là quẻ Địa Lôi Phục. Phép tước hào một, hào sáu, rồi đọc hai nhóm ba hào chồng lên nhau, chỉ có vậy mà dùng được cho mọi quẻ.
Mười bốn quẻ cho một năm, và quẻ Hỗ đi kèm mỗi quẻ
Một năm tưởng chỉ có một quẻ, vậy mà mở ra thành một dãy: quẻ cho nửa năm đầu, quẻ cho nửa năm sau, rồi mười hai quẻ riêng cho từng tháng.
Khi đã có quẻ Tiên Thiên (đồng thời là quẻ của năm) cùng quẻ Hậu Thiên, rồi mười hai quẻ tháng sinh ra từ các hào chủ, thì việc dự đoán cho các tháng của một năm dùng tới mười bốn quẻ. Lấy năm Mậu Ngọ có quẻ Địa Trạch Lâm làm mẫu, mười hai quẻ tháng xếp như sau.
Tháng giêng ứng với hào chủ của quẻ Tiên Thiên, được quẻ Lôi Trạch Quy Muội. Tháng hai là hào kế tiếp, được quẻ Thủy Trạch Tiết. Tháng ba lại hào kế tiếp, được quẻ Sơn Trạch Tổn. Tháng tư được quẻ Địa Thủy Sư. Tháng năm được quẻ Địa Lôi Phục. Tháng sáu được quẻ Địa Thiên Thái. Sang nửa năm sau, tháng bảy ứng với hào chủ của quẻ Hậu Thiên, được quẻ Trạch Địa Tụy. Tháng tám được quẻ Trạch Vi Đoài, tháng chín được quẻ Trạch Hỏa Cách, tháng mười được quẻ Thủy Lôi Truân, tháng mười một được quẻ thuần Chấn, tháng chạp được quẻ Thiên Lôi Vô Vọng.
Vai trò của từng quẻ trong dãy mười bốn quẻ ấy như sau:
- Quẻ Tiên Thiên, đồng thời là quẻ của năm, phản ánh khái quát sáu tháng đầu năm và cũng khái quát cả năm.
- Quẻ Hậu Thiên phản ánh khái quát sáu tháng cuối năm.
- Mười hai quẻ tháng phản ánh từng tháng một.
- Ngoài ra, mỗi quẻ trên đều có quẻ Hỗ đi kèm, phản ánh diễn biến nhân quả của từng thời vận.
Nghĩa là mỗi tháng đọc ít nhất hai tầng: quẻ tháng cho biết dáng vẻ chung của tháng, còn quẻ Hỗ nằm trong lòng quẻ tháng cho biết nhân quả ngầm bên dưới.
Tháng của Hà Lạc tính theo tiết lệnh, năm nhuận không làm rối
Các tháng kể trên là tháng âm lịch nhưng khởi đầu vào ngày tiết lệnh, chứ không phải ngày mồng một. Vì toán Hà Lạc tính tháng theo tiết lệnh nên năm nhuận không ảnh hưởng gì đến tháng Hà Lạc: năm nhuận tuy có mười ba tháng, vẫn chỉ có mười hai tiết lệnh làm chuẩn cho các tháng.
Ngày tiết lệnh nên ghi bằng ngày dương lịch, vì khoa học tính ngày tiết khí theo lịch mặt trời là chuẩn xác. Một số nhà làm lịch đổi sang ngày âm lịch chỉ để người đọc đỡ nhầm lẫn; thực ra họ vẫn phải bắt đầu từ ngày giờ chuyển tiết khí theo dương lịch.
Mệnh trời từng tuần: sáu ngày một quẻ
Theo công thức của toán Hà Lạc, mỗi người có thể biết trước mệnh trời của mình cho từng tuần, tức nó ứng với quẻ gì trong Kinh Dịch, nội dung tốt xấu diễn biến ra sao. Nhờ đó mà chủ động trước những diễn biến thực tế: có khi biến xấu thành tốt, hoặc làm cái xấu giảm bớt, hoặc tránh được cái nguy.
Tuần Hà Lạc ở đây có sáu ngày, ứng với sáu hào trong một quẻ. Một tháng chia thành năm tuần, mỗi tuần sáu ngày, vừa đủ ba mươi ngày.
Cách đi từ quẻ tháng sang quẻ tuần
Tính vận tuần bắt đầu từ quẻ tháng. Tuần đầu tiên của tháng là ngày tiết lệnh của tháng đó. Chẳng hạn tuần đầu tiên của tháng giêng năm Mậu Ngọ là ngày Lập Xuân mồng bốn tháng hai dương lịch năm 1978.
Từ quẻ tháng, lần lượt lập ra năm quẻ Hà Lạc khác nhau. Mỗi quẻ quản sáu ngày, mỗi hào là một ngày. Bắt đầu từ hào chủ, đi lên theo thứ tự, hết sáu hào là hết quẻ. Sang ngày thứ bảy lại bắt đầu từ hào chủ của một quẻ mới, là tuần mới. Cứ thế đến hết năm quẻ là vừa đủ một tháng.
Ngày thứ nhất trong tuần ứng với một hào chủ mệnh. Hào đó chi phối cả tuần sáu ngày, và trực tiếp chi phối chính cái ngày thứ nhất ấy. Các ngày sau diễn ra tiếp theo thứ tự; khi đến hào sáu mà chưa hết sáu ngày thì trở về hào một.
Người từng làm bài toán này kể rằng họ học Dịch bằng cách làm bài toán Hà Lạc, đối chiếu quẻ Dịch với năm của đời người, tháng của đời người, tuần của đời người, thậm chí đến ngày của đời người. Hầu hết các quẻ Dịch đã đi qua trong đời họ đều như thế, và họ hỏi còn cách nào học thiết thực hơn, linh diệu hơn.
Vận ngày: mỗi hào là một ngày, mỗi quẻ giữ sáu ngày
Từ quẻ tháng đi xuống thêm một bậc nữa là tới từng ngày, và ở bậc này sự chính xác của tiết lệnh càng quan trọng.
Vận ngày cũng bắt đầu từ quẻ tháng. Ngày đầu tiên của tháng là ngày tiết lệnh. Từ quẻ tháng lần lượt lập ra năm quẻ Hà Lạc tuần khác nhau; mỗi quẻ tuần quản sáu ngày, mỗi hào là một ngày, bắt đầu từ hào chủ và đi lên cho đến hết sáu hào là hết quẻ. Sang ngày thứ bảy lại bắt đầu từ hào chủ của quẻ mới. Đủ năm quẻ tuần là vừa một tháng.
Từng bước lập quẻ ngày
Bước một: từ hào chủ của quẻ tháng, chọn hào kế tiếp một vị trí. Nếu hào chủ là hào năm thì chọn hào sáu; nếu hào chủ là hào sáu thì hào kế tiếp là hào một. Biến hào kế tiếp đó, Âm thành Dương hoặc Dương thành Âm, được một quẻ mới.
Bước hai: ghi ngày đầu tiên của tháng, tức ngày tiết lệnh, vào vị trí tương ứng với hào vừa biến để nhớ. Nên ghi ngày dương lịch cho dễ theo dõi. Ngày thứ hai thuộc về hào kế tiếp; đến hào sáu thì trở về hào một; hết sáu hào là vừa hết sáu ngày.
Bước ba: trở về quẻ tháng, chọn hào kế tiếp của hào vừa biến, biến hào đó thành quẻ mới. Quẻ này quản sáu ngày của lượt thứ hai, bắt đầu từ hào chủ của quẻ mới, ghi ngày tương ứng vào hào chủ ấy rồi ghi các ngày sau vào các hào theo hướng đi lên, đến hào sáu thì tiếp sang hào một.
Cứ làm như thế cho đến hết tháng, nghĩa là đến sát ngày tiết lệnh của tháng sau, vừa đủ ba mươi ngày. Lưu ý rằng tháng dương lịch có tháng ba mươi, có tháng ba mươi mốt ngày, riêng tháng hai có hai mươi tám hoặc hai mươi chín ngày, nên ghi ngày cho đúng với thực tế.
Với năm Mậu Ngọ, quẻ tháng giêng là Lôi Trạch Quy Muội chủ mệnh hào bốn, và quẻ tuần thứ nhất là thuần Đoài, quản sáu ngày từ Lập Xuân mồng bốn tháng hai đến ngày chín tháng hai năm 1978. Bảng của tháng ấy ghi cho mỗi ngày một hào ứng và một quẻ chủ, năm tuần liền nhau, cho đến ngày mồng sáu tháng ba, ngày tiết Kinh Trập, khi tháng Hà Lạc mới bắt đầu.
Vận giờ: mười hai canh, mười hai quẻ
Cách tính quẻ cho từng giờ trong ngày phỏng theo cách tính quẻ cho tháng. Giờ Hà Lạc khác giờ đồng hồ chuẩn, vì vậy nên theo cách tính giờ của Bát Môn Thần Khóa: ngày luôn bắt đầu từ mười một giờ đêm của chính ngày ấy và kết thúc ngay trước mười một giờ đêm của ngày sau.
Quy tắc: bắt đầu từ quẻ vận ngày. Mỗi vận giờ tiềm ẩn trong một quẻ Hà Lạc, tức một quẻ Dịch. Lần lượt biến các hào của quẻ vận ngày, Âm thành Dương, Dương thành Âm, để tìm quẻ cho sáu giờ đầu của ngày là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị. Lấy hào chủ mệnh của quẻ ngày, biến hào ấy thành quẻ mới, xếp quẻ mới vào đúng vị trí hào vừa biến; hào vừa biến là hào chủ của quẻ mới, và quẻ ấy là quẻ giờ Tý.
Kiểm tra sẽ thấy: quẻ giờ Tý trùng với quẻ vận ngày khi quẻ ngày là hào Âm, hoặc là hào Dương gặp Âm tuế; quẻ giờ Tý khác quẻ vận ngày khi quẻ ngày là hào Dương gặp Dương tuế.
Sáu giờ đầu và sáu giờ cuối
Lấy quẻ ngày là Địa Trạch Lâm chủ mệnh hào bốn Âm. Biến hào bốn thành Dương, được Lôi Trạch Quy Muội, giờ Tý. Hào kế tiếp là hào năm Âm, biến thành Dương được Thủy Trạch Tiết, giờ Sửu. Cứ biến tiếp: giờ Dần được Sơn Trạch Tổn, giờ Mão được Địa Thủy Sư, giờ Thìn được Địa Lôi Phục, giờ Tị được Địa Thiên Thái. Hết hào sáu thì quay về hào một, như cách đếm các hào của quẻ tháng.
Với sáu giờ cuối ngày là Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, coi quẻ ngày là quẻ Tiên Thiên của sáu giờ đầu rồi dùng phép đảo quẻ và biến hào để tìm quẻ Hậu Thiên: quẻ nội Tiên Thiên đảo thành quẻ ngoại Hậu Thiên, quẻ ngoại Tiên Thiên đảo thành quẻ nội Hậu Thiên, hào chủ mệnh đi theo sang quẻ Hậu Thiên và biến thể. Với ví dụ trên được quẻ Hậu Thiên Trạch Lôi Tùy chủ mệnh hào một Dương. Biến hào một thành Âm được Trạch Địa Tụy, giờ Ngọ. Rồi biến lần lượt: giờ Mùi được thuần Đoài, giờ Thân được Trạch Hỏa Cách, giờ Dậu được Thủy Lôi Truân, giờ Tuất được thuần Chấn, giờ Hợi được Thiên Lôi Vô Vọng.
Như vậy việc dự đoán cho các giờ của quẻ ngày gồm mười bốn quẻ: quẻ Tiên Thiên, đồng thời là quẻ ngày, phản ánh khái quát sáu giờ đầu và cả ngày; quẻ Hậu Thiên phản ánh sáu giờ cuối; mười hai quẻ giờ phản ánh từng giờ; và mỗi quẻ còn có quẻ Hỗ phản ánh diễn biến nhân quả của từng giờ. Giờ kể trên là giờ âm lịch nhưng nên tính bằng giờ Bát Môn.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
