Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Phá Quân, Văn Xương, Thiên Diêu và cách đọc Lộc Tồn theo Phan Tử Ngư

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề01/10/202617 phút đọc3 lượt đọc
Phá Quân, Văn Xương, Thiên Diêu và cách đọc Lộc Tồn theo Phan Tử Ngư

Một ông họ Liễu sinh ngày Tân, giờ Dậu, giàu sang song toàn; nhưng đổi ngày thành Tân Tỵ thì nghèo khốn không chịu nổi. Phan Tử Ngư gọi đó là sai một chữ, cách luận hoàn toàn khác. Mỗi kiểu Lộc Tồn từ đó lại có một số phận riêng...


Phá Quân: sao hao tổn, bất lợi lục thân

Phá Quân hóa khí là hao, bất lợi cho lục thân. Sao này thích giúp người ác, thích bắt giết động vật, thiếu lòng nhân nghĩa, coi người thân là ác, đối đãi cốt nhục vô tình; người cuồng ngạo, tâm tính đa nghi. Chỉ Thiên Phủ chế được cái ác của nó, Lộc Tồn trừ được cái cuồng.

Đồng cung với Tử Vi, chủ có uy nghiêm nhưng tính ưa dâm. Gặp Thiên Phủ thì tuy giàu có mà trong lòng gian trá. Đồng cung Liêm Trinh gia sát thì có kiện tụng, hoặc tự hại mình. Đồng cung Văn Xương thì phòng thủy ách, lại lao lục bôn ba. Chỉ ở Tý hoặc Ngọ mới có thể trông đợi phú quý.

Phá Quân tọa Quan Lộc mà có sát tinh thì e sa cơ nơi đầu đường; Phá Quân không mừng đồng cung Đà La, e đi xin ăn. Tính Phá Quân dễ mừng dễ giận, chợt thiện chợt ác, không kham kết hôn, không kham làm bạn. Phá Quân Kình Dương thì nữ mệnh rước ong dẫn bướm, chơi với lửa tự thiêu. Phá Quân tọa Mệnh hợp làm vận động viên, hợp phát triển về thể thao.

Sao hao tổn đi cùng chữ nghĩa thì thành cảnh nghèo của người đọc sách.

Văn Xương: sao khoa giáp, công danh và danh dự

Văn Xương chủ khoa giáp, công danh, danh dự. Văn Xương tọa Mệnh hoặc Thân, chủ người mày thanh mắt đẹp, thông minh, nho nhã, học nhiều tài nhiều, tài ăn nói tốt, trọng thể diện, thích trang điểm, nhiều ảo tưởng, không sát thực tế, thích việc lớn công lớn, cô ngạo, ít tình, phản ứng nhanh, có tinh thần ham học.

Văn Xương đồng cung với Phá Quân thì nghèo, nghèo kiểu học giả, nghèo kiểu nghệ sĩ, lại sợ nước. Văn Xương mừng đồng cung với Thiên Đồng, Thiên Lương, Vũ Khúc, Thiên Tướng, Tử Vi, Quý nhân…, chủ người quả quyết, thông minh, không hồ đồ. Văn Xương cũng mừng đồng cung với Tả Phụ hoặc Hữu Bật, hợp làm người phát ngôn của cơ quan chính phủ.

Văn Xương – Tham Lang đồng cung thì ngoài đẹp trong rỗng, phòng thủy ách. Văn Xương không mừng đồng cung Liêm Trinh, chủ người khoa trương, không sát thực tế, nên phòng yểu thọ; thuật Đăng hạ nói phải phòng tan xương nát thân.

Nữ mệnh có Mệnh tọa Văn Xương, hoặc Thân tọa Văn Xương, hoặc năm chi có Văn Xương, ngoài những điều trên còn thêm: tính như nước, như hoa dương liễu, thấy khác nghĩ đổi, ái tình không chuyên, sáng ba chiều bốn, ba bốn tháng hoặc ba bốn năm lại đổi một người bạn trai. Phải trải qua bể dâu rồi mới có thể nguội lòng.

Muốn tìm Văn Xương trên lá số thì phải biết nó nằm ở đâu theo can của năm sinh.

Cách an Văn Xương

  • Can Giáp: Tỵ.
  • Can Ất: Ngọ.
  • Can Bính và Mậu: Thân.
  • Can Đinh và Kỷ: Dậu.
  • Can Canh: Hợi.
  • Can Tân: Tuất.
  • Can Nhâm: Dần.
  • Can Quý: Mão.

Mệnh được Văn Xương, hợp nghiên cứu và trước tác

Theo năm sinh Giáp đến Quý, địa chi mang Văn Xương lần lượt là Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Thân, Dậu, Hợi, Tuất, Dần, Mão. Theo kiểm chứng của Phan Tử Ngư, Văn Xương ngồi trụ ngày là tốt nhất, trụ giờ thứ nhì, trụ thai lại thứ nhì sau. Mệnh được Văn Xương hợp nghiên cứu, trước tác, làm thầy giáo, văn nghệ, đoán mệnh. Ví dụ một người sinh năm Giáp, trụ ngày có Tỵ: mệnh này hợp đào sâu, nỗ lực tự tu, trước tác, dịch thuật, nghệ thuật, đoán mệnh.

Văn Xương ngồi trụ ngày

Văn Xương ngồi trụ ngày thì vợ hiền thục. Thập tự do Phan Tử Ngư dẫn: năm Canh Ngọ, ngày Tân Hợi. Người sinh năm Canh có Văn Xương ở Hợi, mệnh này vợ rất hiền thục.

Các thế Văn Xương thường gặp

  • Thiên Phủ – Văn Xương (ở nhiều cung, có khi cùng Vũ Khúc, Tử Vi, Liêm Trinh): yêu thì xem như bảo bối tim gan, hận thì nghiến răng nghiến lợi.
  • Văn Xương (ở Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Dần, Mão): đại tiểu hạn gặp thì lợi cho thi cử.
  • Thiên Đồng – Văn Xương (ở nhiều cung, có khi cùng Thái Âm hoặc Thiên Lương): đại tiểu hạn gặp thì có tin vui tiền của, có vinh dự đăng khoa, cát tường như ý, hỷ khí dương dương.
  • Thiên Tướng – Văn Xương (ở nhiều cung, có khi cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc, Tử Vi): nữ mệnh được chồng sủng ái sâu đậm.

Thiên Diêu: sao của nét duyên và rượu

Thiên Diêu tọa cung Thiên Di thì có quý nhân giúp. Thiên Diêu tọa cung Điền Trạch thì thích ở nhà trò chuyện với người, trong nhà hợp nuôi chim, bồ câu…; phòng thủy tai hoặc dột nước, dột mưa.

Thiên Diêu tọa Mệnh thì chín sớm, phong nhã, hài hước, thích trò chuyện, cao ngạo, khéo xét lời nói sắc mặt, khiến người yêu mến. Thiên Diêu tọa Phúc Đức thì hợp âm nhạc, ca hát, thân bận tâm loạn, tình cảm bị quấy nhiễu. Thiên Diêu tọa Phu Thê thì nhân duyên tốt. Thiên Diêu tọa Tật Ách thì thận suy. Thiên Diêu tọa Tài Bạch thì vì rượu mà phá tài, không được đầu cơ.

Thiên Diêu đồng cung Kình Dương thì e chết vì nước, và phải phòng yểu thọ. Thiên Diêu đồng cung Hàm Trì, hoặc với Hồng Loan, thì nhu cầu tính sinh hoạt nhiều.

Các thế Thiên Diêu thường gặp

  • Thiên Diêu tọa Mệnh tại Mùi hoặc Sửu: đắm đuối rượu sắc, đa nghi bệnh nặng, tâm tính âm độc, khó làm nên chuyện.
  • Thiên Diêu tại Tý hoặc Hợi: tình cảm khó tránh trắc trở.
  • Thiên Diêu – Hồng Loan (ở mười hai cung): dục tính rất mạnh.

Lộc Tồn: gốc hưởng thụ cả đời

Người xưa bàn mệnh, trước hết trọng Lộc Tồn, bởi Lộc là gốc hưởng thụ cả đời của ta, là nguồn nuôi mệnh, cũng như cá, cá không có nước thì không sống.

Người đời nay hiểu Lộc Tồn chưa đủ sâu, tưởng cứ có Lộc Tồn là mệnh tốt, là có tiền. Thực ra Lộc Tồn có thể chủ cát, chủ quý, chủ phú, nhưng cũng chủ nghèo, chủ hung, chủ tăng ni.

Bước đầu để nhận biết Lộc Tồn là xem năm trụ thập tự của mệnh này có Lộc Tồn hay không. Nếu không có thì khỏi bàn; nếu có thì xem tiếp can của nó có quan hệ gì.

Lộc Tồn theo can năm sinh và can của từng trụ

Theo năm sinh, trụ mang Lộc mỗi kiểu một tình trạng:

  • Năm Giáp: Giáp Dần là đại cát, Trường sinh lộc, giàu sang có thể trông đợi; Bính Dần cát, Phúc tinh lộc, chủ phú; Mậu Dần cát, Phục mã lộc, chủ phú; Canh Dần là Lộc đầu đới quỷ, hung, lại chủ phá, chủ nghèo; Nhâm Dần là Tiệt lộ Không vong, nghèo, hợp tăng ni.
  • Năm Ất: Ất Mão cát, Hỷ thần lộc, chủ phú; Đinh Mão Tiệt lộ Không vong, chủ nghèo, hợp tăng ni; Kỷ Mão cát, Tiến thần lộc, giàu sang có thể trông đợi; Tân Mão là Phá lộc, chủ nghèo; Quý Mão hung, trước giàu sau nghèo.
  • Năm Bính: Ất Tỵ cát, Chính ấn lộc, chủ phú; Đinh Tỵ là Kiếp lộc, chủ nghèo; Kỷ Tỵ cát, Cửu thiên khố lộc, chủ phú; Tân Tỵ là Kiếp tài lộc, chủ nghèo; Quý Tỵ hung, Kiêu lộc, được tài không chính đại quang minh.
  • Năm Đinh: Giáp Ngọ cát, chủ quý; Bính Ngọ hung, Kiếp Dương lộc, chủ nghèo; Mậu Ngọ hung, Thương Dương lộc, phòng đao thương, hôn nhân biến động; Canh Ngọ Tiệt lộ Không vong, chủ tăng ni; Nhâm Ngọ cát, chủ quý.
  • Năm Mậu: Ất Tỵ chủ quý; Đinh Tỵ cát, chủ phú; Kỷ Tỵ cát, Cửu thiên khố lộc, chủ phú; Tân Tỵ Tiệt lộ Không vong, hợp tăng ni; Quý Tỵ cát, chủ phú.
  • Năm Kỷ: Giáp Ngọ cát, chủ quý; Bính Ngọ cát, chủ quyền; Mậu Ngọ hung, Kiếp Dương lộc, chủ nghèo; Canh Ngọ Tiệt lộ Không vong, hợp tăng ni; Nhâm Ngọ cát, chủ phú.
  • Năm Canh: Giáp Thân Tiệt lộ Không vong, hợp tăng ni; Bính Thân hung, Quỷ đầu lộc; Mậu Thân hung, Kiêu đầu lộc; Canh Thân cát, Trường sinh lộc; Nhâm Thân cát, chủ phú.
  • Năm Tân: Ất Dậu là Phá lộc, chủ nghèo; Đinh Dậu cát, chủ phú; Kỷ Dậu Tiệt lộ Không vong, chủ nghèo, hợp tăng đạo; Tân Dậu cát, chủ phú; Quý Dậu chủ phú.
  • Năm Nhâm: Ất Hợi cát, chủ quý, chủ gặp hung hóa cát; Đinh Hợi cát, chủ phú; Kỷ Hợi cát, chủ quý; Tân Hợi cát, chủ phú, chủ vinh, áo gấm về làng; Quý Hợi hung, chủ nghèo.
  • Năm Quý: Giáp Tý chủ quý, bảng vàng đề tên; Bính Tý chủ phú; Mậu Tý Tiệt lộ Không vong, chủ nghèo, hợp tăng ni; Canh Tý cát, chủ nắm quyền; Nhâm Tý là Kiếp Dương lộc, chủ nghèo, chủ hung.

Mệnh ngồi lộc của năm sinh

Mệnh ngồi trên lộc của năm sinh thì đáng giàu sang. Lộc của từng can nằm ở: Giáp tại Dần, Ất tại Mão, Bính và Mậu tại Tỵ, Đinh và Kỷ tại Ngọ, Canh tại Thân, Tân tại Dậu, Nhâm tại Hợi, Quý tại Tý.

Sáu điều cần biết về Lộc Tồn

Tử Vi Đẩu Số xưa không những luận Thiên Mã sơ lược, mà luận Lộc Tồn cũng giản lậu. Nay có sáu điều:

  • Can của cung nơi Lộc Tồn ngồi, nếu hóa Kỵ nhập Mệnh, thì mệnh này cả đời nghèo.
  • Can của cung nơi Lộc Tồn ngồi, nếu hóa Lộc nhập cung Điền, thì mệnh này ắt giàu.
  • Lộc Tồn tọa cung Nô Bộc là mệnh lao lục.
  • Lộc Tồn tọa cung Tật Ách thì thuở nhỏ nhiều tai ương.
  • Lộc Tồn cùng Hóa Lộc giáp Mệnh là bậc phú ông. Nếu cung Tài Bạch có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, cung Phúc Đức có Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, cũng là phú ông.
  • Lộc gặp xung phá thì trong cát có hung. Phàm Lộc Tồn bị cung đối xung bằng các sát tinh hoặc hóa Kỵ, sự việc sẽ có biến đổi bất ngờ.

Nhân sinh tòng hà luận cát hung,
Hựu hiềm vận hạn lộc mã xung.
Lộc phùng xung phá mã phùng tuyệt,
Phú quý chi nhân diệc luận hung.

Ý của bốn câu: bàn cát hung của đời người, còn ngại vận hạn đi vào chỗ Lộc và Mã bị xung; Lộc gặp xung phá, Mã gặp tuyệt, thì người giàu sang cũng phải luận là hung.

Lộc gặp Đế Vượng, Lộc Mã giáp Mệnh

Lộc Tồn gặp Đế Vượng (tại Ngọ, Dậu, Mão, Tý) thì đủ tiền của, là mệnh phú ông, mệnh thọ bà. Lộc Tồn cùng Thiên Mã giáp Mệnh (Mệnh ở Thìn hoặc Tuất, Lộc Tồn tại Dậu hoặc Mão, Thiên Mã tại Tỵ hoặc Hợi) thì không quý cũng giàu.

Cửu thiên lộc, cửu địa lộc

Phàm mệnh có Lộc rồi hai “thìn” phía sau thì giàu sang có thể trông đợi, gọi là cửu thiên lộc:

  • Năm Giáp: Sửu. Năm Ất: Dần. Năm Bính: Thìn. Năm Đinh: Tỵ. Năm Mậu: Thìn.
  • Năm Kỷ: Tỵ. Năm Canh: Mùi. Năm Tân: Thân. Năm Nhâm: Tuất. Năm Quý: Hợi.

Phàm mệnh có Lộc rồi ba “thìn” phía sau, như người sinh năm Giáp mà năm chi có Tý, thì giàu sang có thể trông đợi, gọi là cửu địa lộc:

  • Năm Giáp: Tý. Năm Ất: Sửu. Năm Bính: Mão. Năm Đinh: Thìn. Năm Mậu: Mão.
  • Năm Kỷ: Thìn. Năm Canh: Ngọ. Năm Tân: Mùi. Năm Nhâm: Dậu. Năm Quý: Tuất.

Lộc Tồn đạp nhau

Mệnh được Lộc Tồn đạp nhau thì cả đời hưởng phúc. Bởi người ở đời không nhất định phải cầu vinh hoa phú quý, vì người vinh hoa phú quý có thể cũng có những nỗi lo giấu kín, khổ não, tiếc nuối khó nói ra. Người thông minh rộng lượng chỉ cầu có phúc; người có phúc dù không vinh hoa phú quý, chỉ cần sống an nhàn thoải mái, còn cầu gì nữa?

Một bà họ Ngô có thập tự: năm Nhâm Ngọ, giờ Đinh Hợi. Lộc của Nhâm ở Hợi, giờ ngồi lộc của năm; lộc của Đinh ở Ngọ, Mệnh ngồi lộc của giờ. Đó gọi là “song lộc đạp nhau”, mệnh này có phúc.

Người có tiền

Ngày ngồi bản lộc: phàm trụ ngày ngồi bản lộc thì hợp kinh thương, ắt giàu. Ông họ Trịnh có trụ ngày Ất Mão. Bản lộc chỉ có bốn ngày: Giáp Dần, Ất Mão, Canh Thân, Tân Dậu.

Thai ngồi lộc năm sinh: năm Giáp đến Quý, trụ thai lần lượt là Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý. Thai ngồi hợp lộc: năm Giáp đến Quý, trụ thai lần lượt là Hợi, Tuất, Thân, Mùi, Thân, Mùi, Tỵ, Thìn, Dần, Sửu.

Lộc của ngày đạp lên giờ

Ngày sinh Giáp đến Quý, giờ sinh lần lượt là Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý. Ông họ Liễu có ngày Tân, giờ Dậu. Lộc của ngày đạp lên giờ thì không quý cũng giàu, thậm chí giàu sang song toàn.

Nhưng nếu ông ấy có trụ ngày Tân Tỵ thì lại nghèo khốn không chịu nổi. Sai một chữ, cách luận hoàn toàn khác.

Chi của năm ngồi lộc của giờ

Có một lá số với chi của năm là Tý, can của giờ là Quý. Chi của năm ngồi lộc của giờ thì giàu sang có thể trông đợi.

Làm sao biết người này sẽ phát tài

Mã đầu đới tài: ông Chu Tam Bảo có năm Canh Ngọ, giờ Giáp Thân. Ông hợp kinh thương, sẽ phát tài, và còn có vợ nhỏ.

Nữ mệnh đới lộc thì có tiền

Một chị họ Lưu có năm Canh, tháng Thân (ngày, giờ và thai đều có Thân). Người sinh năm Canh có lộc ở Thân, năm chi có Thân, tức đới lộc, chủ giàu. Phan Tử Ngư dẫn thêm: Thân cũng chủ lấy được chồng tốt, người chồng chính phái, có nghề nghiệp đứng đắn, vợ chồng ân ái.

Theo năm sinh Giáp đến Quý, địa chi cần có lần lượt là Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý.

Minh lộc và hợp lộc

Mệnh được minh lộc: lộc của Đinh ở Ngọ; giờ ngồi lộc của năm thì ắt giàu, ngày ngồi lộc của năm cũng luận như vậy.

Mệnh được hợp lộc: được lộc là cát, hợp lộc càng đẹp, ngồi trụ giờ là tốt nhất. Hợp lộc của từng năm sinh: Giáp ứng Tân Hợi, Ất ứng Giáp Tuất, Bính ứng Mậu Thân, Đinh ứng Tân Mùi, Mậu ứng Nhâm Thân, Kỷ ứng Ất Mùi, Canh ứng Kỷ Tỵ, Tân ứng Nhâm Thìn, Nhâm ứng Bính Dần, Quý ứng Kỷ Sửu.

Giáp lộc và ám đới

Phàm lộc đều cát. Giáp lộc hoặc ám đới còn cát hơn minh lộc. Cổ thư nói: Khoa mừng hiện rõ, Lộc mừng giáp ngầm.

Ví dụ một: năm Giáp, ngày Sửu, giờ Mão. Lộc của Giáp ở Dần, năm chi không có Dần nhưng có Sửu và Mão kẹp Dần ở giữa; gọi là “giáp lộc” hoặc “đới lộc”.

Ví dụ hai: năm Bính Ngọ, tháng Thìn. Thập tự nhìn không nổi bật, nhưng là người chất vàng chồng ngọc. Lộc của Bính ở Tỵ, Ngọ và Thìn kẹp Tỵ ở giữa, giàu sang đáng khen đến mức người ta ghen tị.

Thiên lộc mệnh

Phàm lấy can của năm sinh cộng năm: Giáp cộng năm là Mậu, lộc của Mậu ở Tỵ, người tuổi Giáp thấy Tỵ tức được Thiên lộc, kinh thương ắt giàu. Lại như ông họ Chu có năm Canh, giờ Dần: Canh lấy Giáp làm Thiên lộc, lộc của Giáp ở Dần, năm chi có Dần, mệnh được Thiên lộc, giàu sang có thể trông đợi.

Theo năm sinh Giáp đến Quý, địa chi cần có lần lượt là Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ. Một là ngồi trụ giờ thì tốt nhất; hai là ngồi trụ ngày thì thứ nhì; ba là ngồi trụ tháng thì lại thứ nhì sau.

Ám hợp Thiên lộc

Mệnh được Thiên lộc ắt giàu, ám hợp Thiên lộc càng cát. Ông họ Lưu có năm Bính, giờ Tỵ. Bính lấy Canh làm Thiên lộc, lộc của Canh ở Thân, năm chi không có Thân nhưng có Tỵ; Tỵ và Thân ám hợp với nhau.

Giờ ngồi lộc của năm, Mã ám hợp

Có một lá số với năm Nhâm Thìn, giờ Hợi (ngày và thai cũng Hợi). Lộc của Nhâm ở Hợi, Mã của Thìn ở Dần, Dần hợp với Hợi. Nhà của mệnh này chất vàng chồng ngọc, không quý cũng giàu.

Mệnh được quan lộc

Mệnh có Quan, lại được lộc của chính Quan ấy, chủ người này giàu sang có thể trông đợi. Ít nhất cũng không đến nghèo khốn. Nữ mệnh càng cát, được lộc của chồng, tức là tiền chồng kiếm được đều đưa cho nàng.

Ví dụ: người sinh năm Giáp, Giáp lấy Tân làm Quan, lộc của Tân ở Dậu, năm chi có Tân Dậu, chủ có khoa danh, chức quan, bổng lộc, văn chương tốt, hoặc âm nhạc tốt…

Một cô họ Chu có thập tự: Canh Tý, Kỷ Mão, Ất Mùi, Giáp Thân, Canh Ngọ. Canh lấy Đinh làm Quan, can không có Đinh, nhưng trụ ngày Ất Mùi có Mùi đới can Đinh, nên có chồng. Canh lấy Đinh làm Quan, lộc của Đinh ở Ngọ, năm chi có Ngọ, nên cô ăn được lộc của chồng, được tiền của chồng, được sủng ái, chủ có phúc.

Lộc kim dư

Ở trước Lộc ba “thìn”. Ví dụ người sinh năm Giáp, lộc Giáp ở Dần, trước Dần ba vị là Thìn, năm chi có Thìn thì cả đời không túng, trong nhà sớm có xe kiệu, sống thoải mái. Hoặc chủ người này có triển vọng, mệnh con cưng xuất sắc.

Theo năm sinh: năm Giáp ứng Thìn, Ất ứng Tỵ, Bính ứng Mùi, Đinh ứng Thân, Mậu ứng Mùi, Kỷ ứng Thân, Canh ứng Tuất, Tân ứng Hợi, Nhâm ứng Sửu, Quý ứng Dần.

Thuật Đăng hạ hết lời khen lộc kim dư:

Mệnh đắc lộc kim dư,
Kham xưng kiều kiều nhi.
Nhược phi học vấn hảo,
Dã chủ danh thanh mỹ.
Nam mệnh thú mỹ thê,
Nữ mệnh giá lương phu.
Gia trung sinh hoạt hảo,
Nhất sinh hưởng thụ túc.
Nô bộc xa mã toàn,
Kim ngân tài bảo đa.

Ý của bài: mệnh được lộc kim dư đáng gọi là con cưng; nếu không học giỏi thì cũng danh tiếng đẹp; nam cưới vợ đẹp, nữ gả chồng hiền; sinh hoạt trong nhà tốt, cả đời hưởng phúc đủ đầy; kẻ hầu, xe ngựa đủ cả, vàng bạc của quý nhiều.

Người cát tường: lộc ở trước, mã ở sau

Có một lá số với năm Tân Tỵ, ngày Tuất (giờ cũng Tuất). Lộc của Tân ở Dậu, Mã của Tỵ ở Hợi; sinh giờ Tuất hoặc ngày Tuất thì lộc ở trước, mã ở sau, mệnh này mọi việc cát tường.

Phu thê đương phối cát tường nhân.

Nghĩa là vợ chồng nên kết đôi với người cát tường.

Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Bổ Mệnh Thư, quyển 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề