Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Trọng văn khinh võ và những sao chủ về học vấn

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202615 phút đọc4 lượt đọc
Trọng văn khinh võ và những sao chủ về học vấn

Người có Khôi, Việt mà gặp Hóa Kỵ chỉ thành kẻ sĩ ẩn dật, bất đắc chí như Trần Tế Xương; còn Lục Vân Tiên hay Bùi Kiệm cũng hiện ngay trong cách đoán chuyện thi cử. Khoa Tử Vi dành cả một hệ thống sao cho đường khoa bảng, trong khi sao chỉ võ học lại quá ít. Vì sao vậy…


Quan niệm khoa bảng trong Tử Vi

Muốn hiểu vì sao một lá số thấy học vấn là thấy phú quý, phải nhìn lại chỗ đứng của kẻ sĩ trong xã hội xưa.

Xã hội Trung Hoa rất trọng kẻ sĩ, được xếp hạng đầu, trước nông, công, thương. Danh sĩ vừa chỉ người học trò, vừa chỉ nhà trí thức.

Thông thường, giới sĩ làm quan được làng nước trọng vọng hơn, vì họ đạt được hoài bão của mọi công dân Trung Hoa là đắc khoa, đắc dụng, mang sở học phụng sự xã hội, có quyền hành, thế lực. Những kẻ sĩ ẩn dật cũng được trọng vọng không kém. Đa số loại này cáo quan về làng giáo hóa môn sinh. Xã hội ngày xưa trọng chữ nghĩa nên rất kính thầy.

Thoát thai từ quan niệm văn hóa đó, khoa Tử Vi cũng quý trọng sĩ, nhất là kẻ đắc thời. Thật vậy, trong lá số Tử Vi, chính tinh đắc địa đều có nghĩa phú quý rất mạnh. Chỉ khi nào hãm địa thì mới có ý nghĩa doanh thương. Phú quý ở đây là sự giàu sang do học vấn và chức tước mang lại, chớ không phải do thương mại kinh doanh.

Mặt khác, vì Tử Vi thiên về thế tục, cho nên coi trọng kẻ sĩ ngoài đời hơn là kẻ sĩ tu đạo. Các sao đắc địa mang nặng ý nghĩa vinh hoa, được coi như tiêu chuẩn thành công của người đời. Không có sao nào đề cập đến thế lực, uy tính người đạo.

Theo truyền thống văn hóa, kẻ sĩ chỉ đắc thời bằng con đường khoa bảng, học vấn. Khoa Tử Vi đã dành nhiều sao chỉ khoa giáp, gọi chung là văn tinh để mô tả văn hóa, trong khi các sao chỉ võ học rất ít. Một số sao võ cách lại được đồng hóa với hung sát tinh: lối mệnh danh này dường như phản ảnh quan niệm “trọng văn khinh võ” của người Trung Hoa. Văn khoa được xếp hạng trên võ khoa. Một bằng chứng khác của thái độ trọng văn của khoa Tử Vi là cách “quân thần khánh hội”. Theo cách này, chỉ có khoa tinh, văn tinh đi chung với Tử, Phủ mới trợ lực cho Tử Phủ đắc dụng. Ngược lại, nếu Tử Phủ đi chung với võ tinh (hung tinh) thì lại xấu, ngụ ý nói nhà vua bị tặc thanh khuynh loát (đế ngộ hung đồ). Qua nhận định đó, võ tướng không thể ở triều đình: chỗ đứng của họ là trên mặt trận đối địch. Việc cố vấn cho nhà vua là công việc của văn quan. Đây hẳn là một điều lạ trong xã hội nhiều loạn như Trung Hoa, mà ngành võ không được coi trọng. Phải chăng nền trị quốc Trung Hoa đặt căn bản trên nhân trị, trên vương đạo hơn là võ trị bá đạo? Phải chăng chính vì Trung Hoa tạo loạn triền miên cho nên các bậc chính trị chủ tể ngăn ngừa mầm loạn bằng nhân nghĩa?

Các sao khoa bảng

Từ chỗ trọng văn ấy, mỗi sao mang một sắc thái học vấn riêng — có sao thuần chất chữ nghĩa, có sao chỉ là bàn đạp cho chữ nghĩa.

Cần lưu ý ngay để tránh ngộ nhận rằng các sao này còn mang nhiều ý nghĩa khác chớ không phải chỉ có nghĩa học vấn mà thôi.

Những chính tinh chỉ học vấn

Nổi bật hơn hết, có lẽ là hai sao Thái Dương và Thái Âm.

Thái Dương, Thái Âm sáng sủa

Có Âm Dương sáng sủa ở Mệnh hay chiếu Mệnh, con người rất thông minh, lãnh hội mau chóng, phong phú và sâu sắc (assimilation), phân biệt tinh vi các góc cạnh của vấn đề (discernement). Sở dĩ Âm Dương điển hình cho trí khôn vì hai sao đó chỉ bộ óc, trí tuệ, ánh sáng sự thông minh di truyền từ cha mẹ, chưa kể hai sao này thường ở vị trí hội chiếu lẫn nhau, hai nguồn sáng trợ lực nhau.

Về mặt khoa bảng, Âm Dương sáng thì học giỏi, học rộng, học cao, có bằng cấp lớn, có thực học. Nếu được thêm văn tinh khác đi kèm thì trình độ học vấn càng cao, học lực có thể lên mức quốc gia hay quốc tế.

Giữa hai tư chất thông minh, dường như Thái Âm thiên về trực giác (intelligence intuitive), Thái Dương tốt hơn Thái Âm. Nhưng vấn đề hãy còn tùy giờ sinh, ban ngày hợp với Dương, ban đêm nhất là đêm trăng, hợp với Âm.

Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung

Đắc địa trở lên, hai sao này gần như đồng nghĩa, chỉ sự thông minh sắc sảo, trí đa mưu, ốc quyền biến, khả năng khảo cứu chính trị, chiến lược.

Cơ Lương đồng cung cũng có nghĩa là có năng khiếu sư phạm, có tài dạy học, nghiên cứu, tìm tòi, đồng thời với tài tham mưu, cố vấn. Về mặt học vấn, Cơ Lương là bộ khoa bảng quan trọng, dường như nặng ý nghĩa ứng dụng, tức là áp dụng cái học vào giáo dục, vào chính trị, vào công tác sưu tầm.

Thiên Cơ, Cự Môn đồng cung

Bộ sao này đắc địa ở Mão và Dậu. Ở Mão thì hay hơn ở Dậu. Ý nghĩa tương tự như Cơ Lương. Tuy nhiên, ngành học được Cự, Cơ thiên về pháp lý, chính trị học, luật học nhiều hơn. Đây có lẽ là bộ sao của luật sư, thẩm phán, cố vấn pháp luật, giáo sư luật học và chính trị học. Nếu là sinh viên thì chuyên về các ngành công pháp, tư pháp.

Tử, Phủ, Vũ, Tướng

Cũng chỉ khoa bảng, cả văn lẫn võ, nhưng nặng về quý cách hơn là khoa cách. Nếu có thêm văn tinh hội tụ thì nhất định khoa bảng sẽ rõ rệt.

Sát, Phá, Liêm, Tham

Bốn sao này chỉ năng khiếu võ nghiệp, học võ lợi và dễ hơn học văn, làm ngành quân sự đắc dụng hơn ngành chính trị, văn học.

Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương

Nếu đắc địa, bộ sao này cũng chỉ sự thông minh, học giỏi và học cao, có bằng cấp lớn.

Nếu những bộ sao trên cùng đắc địa thì chắc chắn có khoa bảng cao. Nếu không, bấy giờ các sao đó chỉ tư chất thông minh.

Nếu hãm địa thì học vấn bị trở ngại, bị chậm lụt, dang dở. Bất lợi này chỉ được bù trừ nếu có nhiều phụ tinh khoa bảng hội tụ đông đảo.

Những phụ tinh chỉ khoa bảng

Hóa Khoa

Sao này điển hình cho khoa bảng. Ngoài đức tính thông minh, hiếu học, Hóa Khoa còn chỉ sự đỗ đạt, trình độ học vấn cao và rộng.

Năng khiếu học vấn còn đi liền với khả năng sư phạm, khả năng sáng tác, sưu tầm. Có Hóa Khoa ở Mệnh hay chiếu Mệnh, học trò thì xuất sắc, thầy giáo thì dạy hay, khảo cứu thì nổi danh, có viết sách.

Hóa Khoa còn chỉ phương pháp dạy và học độc đáo, cách thức trình bày, ngăn nắp, hệ thống hóa các điều hiểu biết một cách mạch lạc, trật tự, diễn tả tư tưởng rất rõ ràng và thông thái.

Vì thế Hóa Khoa là một sao hùng biện, lối hùng biện của người có học vấn uyên thâm, của hạng thức giả.

Văn Xương, Văn Khúc

Nếu Hóa Khoa tượng trưng cho trí tuệ thuần túy thì Xương, Khúc tượng trưng cho tình cảm và trí tuệ. Vì vậy, Xương, Khúc rất xuất sắc trong những ngành học nào mình thích, trong khi Hóa Khoa thì giỏi về nhiều môn. Thành thử, cái học của Xương, Khúc thiên về chuyên khoa, cái học của Hóa Khoa thì thiên về liên khoa (culture générale). Cũng vì lẽ đó, nên khó ai vượt nổi Xương, Khúc trong chuyên môn sở trường. Cái học của Hóa Khoa có chiều rộng, còn cái học của Xương, Khúc nặng về chiều sâu.

Vì nặng về tình cảm nên ngành học của Xương, Khúc là văn chương, triết lý, thi ca, nhạc kịch, vốn là các bộ môn làm rung động mạnh liệt tâm hồn con người.

Thiên Khôi, Thiên Việt

Về mặt vật dụng, Khôi chỉ bằng sắc, Việt chỉ bút nghiên. Cả hai là biểu tượng cho người học trò giỏi và đỗ đạt. Vì ý nghĩa văn học trực tiếp như thế nên có thể nói Khôi, Việt chỉ sự lỗi lạc, xuất chúng trong nhiều ngành, còn Xương, Khúc thì chỉ hay trong một ngành.

Khôi còn có nghĩa là đứng đầu, cầm đầu, vì thế có tinh thần ganh đua mãnh liệt để chiếm giải nhất, không chấp nhận nổi sự thua thiệt. Đức tính quý báu của Khôi, Việt là óc lãnh tụ, sự mưu cơ, tài tổ chức, chí hướng chỉ huy, lãnh đạo. Có thể vì vậy mà Khôi, Việt hữu dụng cho xã hội, trong khi Hóa, Khoa và Xương, Khúc thường đắc dụng cho học đường, cho ngành giáo dục thuần túy. Khôi, Việt vừa là người có học, vừa biết ứng dụng cái học vào trường đời, cũng bằng ý chí tranh thắng thi đua, vốn là động cơ thành công trong nhiều lãnh vực. Cho nên Khôi, Việt phải đắc thời và hiển đạt. Điều này có lẽ nhờ tinh thần thực tiễn hơn là lý thuyết của hai sao này.

Long Trì, Phượng Các

Bằng cấp của hai sao này rất cao, đặc biệt là khi đứng đồng cung ở Mùi (với người tuổi Mão) hoặc ở Sửu (với người tuổi Dậu). Tuy nhiên, sách vở không nói rõ chi tiết hơn.

Thiên Hình

Chỉ năng khiếu nhận xét tinh vi, phê phán phân minh (jugement), sao này rất đắc dụng cho người khảo cứu, cho luật gia, cho học trò, cho nhà phê bình nghệ thuật, văn chương. Nếu văn của Xương Khúc nồng nàn, bóng bẩy thì văn của Thiên Hình lại khô khan, kỹ thuật, nhưng vô cùng chính xác.

Thái Tuế

Sao này lanh lợi, nói giỏi, nhiều ý và nhất là nhiều lời, hoạt bát. Ý và lời còn vượt xa địa hạt phê bình để đi tới soi bói, chỉ trích. Cho nên Thái Tuế không khách quan như Thiên Hình, vì vậy thích hợp cho luật sư, công tố, ứng cử viên tranh cử, chính trị gia……

Văn Tinh, Lưu Hà, Bác Sỹ

Văn Tinh chỉ sự ham học, Lưu Hà và Bác Sỹ chỉ sự hùng biện sự diễn đạt tư tưởng thâm thúy. Cả 3 đều cần cho học trò, cho giáo sư, cho thuyết khách.

Hỏa Tinh, Linh Tinh đắc địa

Đi với Thái Dương sáng sủa, Hỏa, Linh làm tăng thêm sự mẫn tiệp (perspicacité), có lợi cho sự học hỏi và khảo cứu, điều tra. Cả 3 cùng là sao hỏa nên rất sắc bén linh động.

Thiên Không

Chỉ sự thông minh của hạng mưu sĩ, lưu manh, cắc cớ, gian xảo, dùng trí để hại, để phá, để diệt kẻ khác. Nếu là học trò thì hay đánh phép, cóp bài lúc thi.

Các sao trợ lực khoa bảng

Học vấn chỉ lên tới chỗ cao sâu khi có nhiều khoa tinh cùng hội tụ; nếu chưa đủ, phải nhờ tới những sao đứng sau đỡ lưng cho nó.

Học vấn chỉ cao sâu nếu được nhiều khoa tinh hội tụ. Bằng không, phải cần nhiều sao trợ lực dưới đây.

Những sao mở rộng học vấn

  • Tả Phù, Hữu Bật
  • Đế Vương, Tràng Sinh

Có Tả Hữu đi với khoa tinh, sức học sẽ rộng hơn. Ví dụ nếu đi với Khoa hay Xương Khúc thì học trò biết thêm nhiều thứ tiếng, giỏi sinh ngữ, rất hợp cho các nhà dịch thuật, thông ngôn. Có thể cũng học được nhiều ngành trong một bộ môn nào cũng giỏi.

Sinh và Vượng thì chỉ sự phong phú, tương hợp với học gạo, học ráo riết thật nhiều. Đi với khoa tinh, Sinh Vượng là hệ số làm tăng thêm kiến thức tổng quát (culture générale). Ví dụ như Khoa – Sinh nghĩa là học rộng, sáng tác nhiều, Khôi, Vượng sẽ đỗ cao, thủ khoa hay được Hội đồng Giám khảo tuyên dương.

Những sao thúc đẩy học vấn

Quan Phù, Quan Phủ

Phù và Phủ không có nghĩa học vấn một cách trực tiếp mà chỉ là động lực cho việc học. Cả hai cùng chỉ sự cạnh tranh, ganh tị, thi đua, ích kỷ. Ứng vào việc học, Phù, Phủ chỉ sự cầu tiến, sự cố gắng, thường đưa đến sự ganh đua (émulation), đôi khi có đố kỵ nhỏ nhen, cạnh tranh bất chính. Nếu gặp Hóa Kỵ hay Phục Binh thì sự cạnh tranh dùng đến thủ đoạn không cao thượng (như đánh phép, cóp …). Đi với các sao chỉ tính tham lam cũng vậy.

Những sao may mắn cho học vấn

  • Ân Quang, Thiên Quý
  • Thiên Quan, Thiên Phúc
  • Tả Phù, Hữu Bật

Sáu trợ tinh trên đều có nghĩa hên may, được giúp đỡ, được phù hộ, ví dụ như thi trúng tủ hoặc được báo mộng bài thi (Quang, Quý) gặp thầy dễ, bài dễ, được khoa hồng (Tả, Hữu, Quan, Phúc). Cả sáu sao này chỉ sự phù trì của linh thiêng hoặc sự trợ giúp của người đời. Còn những sao dưới đây chỉ sự may mắn nhờ hoàn cảnh tốt lúc học, nhất là lúc thi.

  • Thanh Long, Hóa Kỵ hay Lưu Hà
  • Bạch Hổ, Phi Liêm, hay Tấu Thư
  • Thiên Mã, Tràng Sinh hay Phi Liêm
  • Thiên Hỷ, Hỷ Thần

Những bộ sao này nếu đóng ở Mệnh hay chiếu vào Mệnh thì thường gặp vận hội tốt đẹp, nếu đóng ở cung hạn thì gặp hên may trong hạn đó. Nếu bộ sao hên rơi đúng vào kỳ thi dễ đậu.

Duy, cần lưu ý rằng học vấn nhờ vay mượn không tốt đẹp bằng nhờ tự lực. Vả chăng, gặp sao may, học trò không nên ỷ lại vì các hên may đó không nhất thiết chỉ hên may cho thi cử, mà còn có nghĩa may mắn trong nhiều lãnh vực khác (tiền bạc, đào hoa……). Ngoài ra, may mắn chỉ có nếu không gặp sát tinh, ám tinh, bại tinh, bao giờ cũng cản trở khoa bảng, chưa kể đến những khắc chế về ngũ hành phải có.

Thành thử, cần phải cân nhắc chung với các sao cản trở khoa bảng.

Các sao cản trở khoa bảng

Sao may chỉ đỡ được khi đường đã thông; gặp sao chắn lối, cả khoa tinh sáng nhất cũng phải chùn bước.

Nói chung, tất cả hung, sát tinh, bại tinh……là những sao gây trở ngại cho khoa bảng cũng như các lãnh vực khác nữa.

Có thể liệt kê những sao chính yếu sau đây:

Triệt

Sao này có hiệu lực chế rất mạnh, cụ thể như làm cho khoa bảng bất thành, không cao, chật vật, thi rớt, đậu thấp hay đậu vớt. Không thể ấn định mức độ cản trở vì vấn đề thuộc vào hàm số. Nhưng Triệt chỉ ngăn trở mạnh trong vòng 30 năm đầu của cuộc đời hoặc phân nửa hạn đầu mà thôi.

Tuần

Cũng có hiệu lực chế khắc khá mạnh, nhưng kém hơn sao Triệt. Văn tinh mà gặp Tuần đồng cung báo hiệu sự thi rớt, thi khó, thi nhiều keo v.v…

Tuy nhiên, nếu cung hạn vô chính diệu gặp Tuần, Triệt thì lại tốt.

Hóa Kỵ

Là ám tinh, báo hiệu việc thi rớt, thi khó, khoa bảng lận đận dở dang (học rồi bỏ dở, đổi ngành……). Hóa Kỵ chỉ sự nóng nổi hay thay đổi chí hướng, sự bất mãn vì thất bại.

Tuy là ám tinh, song hiệu lực của Hóa Kỵ khá mạnh vì có thể làm lu mờ cả Khôi, Việt, Xương, Khúc, Hóa Khoa. Cụ thể như người có Khôi, Việt, gặp Kỵ thì chỉ là kẻ sĩ ẩn dật, bất đắc chí kiểu như Trần Tế Xương.

Hóa Kỵ chỉ tốt khi nào gặp Thanh Long đồng cung mà thôi.

Kình Dương, Đà La hãm

Cả hai đều chỉ sự cản trở, sự gian nan, sự chậm lụt trong khoa trường. Nếu Kình Dương miếu địa, đối với 2 tuổi Ất, Tân thì lại là người có tài văn chương từ đó, có thể có nghĩa thi đỗ.

Địa Không, Địa Kiếp hãm

Đi với văn tinh thì rất bất lợi, cụ thể như:

Không thể thi được (vì không có kỳ thi trong hạn đó, hoặc gặp chuyện xui lúc thi, kiểu như Lục Vân Tiên).

Thi rớt (Bùi Kiệm).

Bị tai họa lúc thi (cóp bài bị đuổi, sử dụng bùa phép bị bắt gặp……) vì 2 sao Không, Kiếp chỉ những hành động ám muội và bất hợp pháp cùng với tai họa đi kèm.

Thiên Không hãm

Gặp phải khoa Thiên Không làm cho khoa trường lận đận.

Đại Hao, Tiểu Hao

Nhị hao chỉ sự thay đổi, hao tán, ứng dụng vào khoa bảng có thể có nghĩa:

  • Thi rớt keo đầu.
  • Thi hai ngành trong đó có rớt một ngành.
  • Có thể tốn kém tiền về thi cử (đút lót).

Thiên Khốc, Thiên Hư

Hai sao này chỉ sự lo âu, nước mắt xui xẻo, do đó có thể báo hiệu việc thi rớt, hoặc học mà không chịu thi. Nếu trắc địa ở Tý Ngọ, thì có thể đỗ ở kỳ hai vì hai sao Khóc Hư đắc địa lợi về hậu vận hơn.

Ý nghĩa của các sao cản trở khoa bảng tương tự nhau, không mấy khác nhau về bản chất, mà chỉ khác nhau về cường độ và hình thái. Việc liệt kê nói trên chỉ để gợi ý, có tính cách hướng dẫn mà thôi. Ngoài ra, nếu các sao trên đắc địa, sự cản trở sẽ bị giảm ít nhiều.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề