Bài tổng quan
Trọng khoa bảng thời xưa: vì sao học vị đứng đầu trong bảng số
Trong một xã hội chỉ có bốn nghề được xem là chính đáng, hiếm có con đường nào được trọng vọng bằng khoa bảng. Không lạ gì khi khoa Lý số học dành hẳn một hệ thống sao đồ sộ cho chuyện học hành — mỗi sao một sắc thái trí tuệ rất riêng...
Mục lục · 2 phần
Giữa một xã hội chỉ công nhận bốn nghề chính đáng, khó có lối đi nào được kính trọng bằng lối khoa bảng. Bởi vậy chẳng có gì lạ khi khoa Lý số học, sinh ra và lớn lên trong chính lòng xã hội đó, đã dành hẳn một chương dài cho học vấn. Và ngay từ những dòng mở đầu, cái nhìn của môn học cổ này về chuyện đèn sách đã hé lộ rất nhiều về xã hội đã nuôi dưỡng nó.
Cách Lý số học nhìn khoa bảng
Người Trung Hoa thuở trước đặc biệt quý kẻ sĩ, xếp họ đứng đầu bốn nghề, trên cả nông, công, thương. Chữ "sĩ" vừa chỉ người đi học, vừa chỉ giới trí thức nói chung. Thường thì kẻ sĩ ra làm quan được làng nước tôn kính hơn cả, vì họ thực hiện được ước vọng chung của rất nhiều người đương thời: đỗ đạt rồi được trọng dụng, đem điều đã học ra giúp đời, nắm quyền hành và thế lực trong tay. Ngay những kẻ sĩ chọn nếp sống ẩn dật cũng được kính nể chẳng kém; phần đông họ từ quan về quê, mở lớp dạy dỗ môn sinh. Xã hội xưa chuộng chữ nghĩa nên hết mực tôn thầy.
Sinh ra từ chính quan niệm văn hóa ấy, khoa Lý số học cũng quý kẻ sĩ, nhất là kẻ sĩ gặp thời. Quả vậy, trong bảng số của khoa này, Chính Tinh nào đắc địa cũng đều hàm nghĩa phú quý rất mạnh; chỉ khi hãm địa mới chuyển sang nghĩa doanh thương. Phú quý được nhắc ở đây là sự giàu sang bắt nguồn từ học vấn và chức tước, chứ chẳng phải từ thương mại hay buôn bán.
Lại nữa, vì khoa Lý số học vốn nghiêng về thế tục, nên nó coi trọng kẻ sĩ giữa đời hơn nhiều so với kẻ sĩ tu đạo. Mọi sao đắc địa đều đậm nghĩa vinh hoa, như thước đo thành công theo cách nghĩ của người đời; hoàn toàn không có sao nào nói đến thế lực hay uy tín của người tu hành. Chi tiết ấy chỉ rõ trọng tâm của cả hệ thống nằm ở chỗ nào.
Theo đúng mạch truyền thống ấy, kẻ sĩ chỉ đạt được đắc thời bằng con đường khoa cử và học vấn. Khoa Lý số học dành riêng rất nhiều sao cho khoa giáp, gọi chung là văn tinh, để vẽ đủ các mặt của văn hóa, trong khi những sao thuộc võ học lại ít ỏi. Thậm chí có mấy sao chỉ võ cách còn bị đồng hóa với hung Sát Tinh; cách gọi ấy dường như phản chiếu đúng tinh thần "trọng văn khinh võ" đã ăn sâu vào tâm thức người Trung Hoa. Văn khoa lúc nào cũng được đặt trên võ khoa. Thêm một chứng cứ cho thái độ chuộng văn là cách gọi "quân thần khánh hội": theo đó, chỉ có khoa tinh, văn tinh đứng cùng Tử Vi, Thiên Phủ mới nâng đỡ cho cách Tử Phủ thêm hiệu lực. Trái lại, nếu Tử Phủ đi chung với võ tinh, tức hung tinh, thì nghĩa chuyển thành xấu, ngụ ý nhà vua bị kẻ gian thần lũng đoạn, gọi là cách "đế ngộ hung đồ". Qua lối nhận định đó, thấy được võ tướng không có chỗ đứng trong triều đình: chỗ của họ là ngoài mặt trận, đối địch với quân thù, còn việc cố vấn cho nhà vua là phần riêng của hàng văn quan. Điều này hẳn gây ngạc nhiên, bởi giữa một xã hội thường xuyên nhiễu loạn như Trung Hoa mà võ nghiệp lại không được đề cao mấy. Phải chăng nền trị quốc Trung Hoa đặt gốc ở nhân trị, ở vương đạo nhiều hơn là võ trị, bá đạo? Phải chăng chính vì chính trị Trung Hoa loạn lạc triền miên, nên các bậc cầm quyền mới chủ ý chặn mầm loạn từ tận gốc bằng đường nhân nghĩa và học vấn, thay vì bằng sức mạnh quân sự?
Những sao khoa bảng
Ngay từ đầu cần lưu ý, để khỏi ngộ nhận, rằng các sao kê dưới đây còn hàm nhiều nghĩa khác, không phải chỉ riêng nghĩa học vấn.
Các Chính Tinh chỉ học vấn
Nổi bật nhất có lẽ là hai sao Thái Dương và Thái Âm. Khi Âm Dương sáng sủa, đóng tại Mệnh hoặc chiếu Mệnh, con người rất thông minh, tiếp thu mọi điều mau lẹ, kiến thức vừa rộng vừa sâu, biết phân biệt tinh tế từng góc cạnh của một vấn đề. Âm Dương được coi là hình mẫu của trí khôn vì hai sao vốn tượng trưng cho bộ óc, trí tuệ và ánh sáng, một sự thông minh mang tính di truyền từ cha mẹ. Hơn nữa, hai sao thường ở vị thế chiếu nhau, hai nguồn sáng nâng đỡ lẫn nhau nên càng rực rỡ. Về khoa bảng, Âm Dương sáng cho người học giỏi, học rộng, học cao, có bằng cấp lớn và thực học chứ chẳng phải hư danh. Nếu có thêm văn tinh khác kèm theo thì học vấn càng cao, đạt thành tích đáng nể. Giữa hai tư chất thông minh này, dường như Thái Âm nghiêng về trực giác, còn Thái Dương nghiêng về suy luận. Có ý kiến cho Thái Dương hơn Thái Âm, nhưng còn tùy giờ sinh: sinh ban ngày hợp với Dương, sinh ban đêm, nhất là đêm trăng sáng, lại hợp với Âm hơn.
Khi Thiên Cơ và Thiên Lương chung một cung từ mức đắc địa lên, hai sao gần như hòa làm một nghĩa, đó là đầu óc sắc sảo, nhiều mưu kế, giỏi ứng biến, và có tài nghiên cứu về chính trị lẫn chiến lược. Cặp Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung còn chỉ năng khiếu sư phạm, tài dạy học, nghiên cứu, tìm tòi, song song với tài tham mưu và cố vấn. Trên phương diện học vấn, Cơ Lương là một bộ khoa bảng đáng kể, và hình như thiên về mặt vận dụng, nghĩa là đem điều học được vào giảng dạy, vào chính sự, vào việc sưu tầm biên khảo, hơn là dừng ở lý thuyết suông.
Cặp Thiên Cơ và Cự Môn ở chung cung chỉ đắc địa tại Mão và Dậu, Mão hay hơn Dậu. Nghĩa chung tương tự bộ Cơ Lương, nhưng môn học mà Cự Môn và Thiên Cơ hướng tới lại ngả về chính trị học, luật học rõ rệt hơn. Có thể coi đây là bộ sao của luật sư, thẩm phán, cố vấn pháp luật, giảng viên luật và chính trị; còn khi còn ngồi ghế nhà trường thì hay chọn công pháp hoặc tư pháp.
Nhóm Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng cũng báo hiệu khoa bảng, cả đường văn lẫn đường võ, nhưng mang màu quý cách nhiều hơn màu khoa cách thuần. Có văn tinh tụ về thì nét khoa bảng chắc chắn thêm đậm.
Bốn sao Thất Sát, Phá Quân, Liêm Trinh, Tham Lang cho thấy năng khiếu võ nghiệp; người mang chúng học võ trôi chảy hơn học văn rất nhiều, và bước vào quân ngũ sẽ phát huy hơn là vào chính trị hay văn học.
Bộ Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương, hễ đắc địa, đều báo trí thông minh, học giỏi, học cao và có bằng cấp lớn. Khi các bộ sao vừa nêu đều đắc địa thì khoa bảng cao gần như chắc chắn; nếu không, chúng mới chỉ là tư chất sáng dạ, chưa đủ bảo đảm thành đạt về đường học. Rơi vào hãm địa, việc học gặp trở ngại, chậm trễ, bỏ dở nửa chừng, và chỉ được bù lại phần nào nếu nhiều phụ tinh khoa bảng khác cùng quy tụ.
Các phụ tinh chỉ khoa bảng
Nói đến khoa bảng thì Hóa Khoa là ngôi sao tiêu biểu bậc nhất. Bên cạnh sự sáng dạ và lòng ham học, Hóa Khoa còn hàm ý thi đỗ, học vấn vừa cao vừa rộng, kèm theo tài sư phạm, sáng tác và sưu tầm. Hóa Khoa thủ Mệnh hay chiếu Mệnh thì đi học là trò giỏi, đứng lớp là thầy hay, làm khảo cứu thì danh tiếng vang xa, có khi còn để lại tác phẩm cho đời sau. Hóa Khoa còn chỉ phương pháp dạy và học độc đáo, cách trình bày ngăn nắp, biết hệ thống hóa mọi hiểu biết một cách mạch lạc có thứ tự, diễn đạt tư tưởng thật rõ ràng và uyên bác. Vì thế Hóa Khoa cũng là một sao hùng biện, nhưng là lối hùng biện của người học vấn sâu dày, của bậc thức giả chân chính.
Hóa Khoa tượng cho trí tuệ thuần túy, còn Văn Xương, Văn Khúc thì gánh đồng thời tình cảm và trí tuệ. Bởi vậy, ở môn nào mình say mê, Xương Khúc vượt trội hẳn, trong khi Hóa Khoa lại giỏi đồng đều nhiều môn. Nói gọn: học vấn của Xương Khúc đi theo chiều chuyên sâu một ngành, học vấn của Hóa Khoa đi theo chiều bao quát nhiều ngành; một bên có độ sâu, một bên có độ rộng. Cũng vì thế, trong đúng sở trường của mình, ít ai địch nổi Xương Khúc. Lại do thiên về tình cảm, các môn Xương Khúc theo học thường là văn chương, triết lý, thi ca, nhạc kịch, tức những bộ môn khiến tâm hồn con người xúc động mạnh mẽ.
Nếu nhìn qua đồ vật thì Thiên Khôi ứng với bằng sắc, Thiên Việt ứng với bút nghiên, cả hai đều là hình ảnh người học trò giỏi và thi đỗ. Do gắn trực tiếp với văn học như thế, Thiên Khôi, Thiên Việt biểu thị sự xuất sắc ở nhiều ngành một lúc, còn Xương Khúc chỉ nổi bật trong đúng một ngành. Thiên Khôi còn mang thêm nghĩa đứng đầu, cầm đầu, nên người có sao này ganh đua mãnh liệt để giành cho được vị trí thứ nhất, không chịu nổi thua thiệt dù chỉ chút ít. Phẩm chất quý của Thiên Khôi, Thiên Việt là óc lãnh tụ, sự mưu cơ, tài tổ chức và chí hướng chỉ huy, lãnh đạo. Có lẽ vì vậy mà Thiên Khôi, Thiên Việt hữu dụng cho xã hội hơn hẳn: trong khi Hóa Khoa cùng Xương Khúc thường chỉ đắc dụng trong phạm vi học đường và ngành giáo dục thuần túy, thì Khôi Việt vừa là người có học, vừa biết đem cái học vào trường đời thực tế, cũng nhờ ý chí tranh thắng, thi đua vốn là động lực thành công trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Cho nên Thiên Khôi, Thiên Việt phải đắc thời và hiển đạt; điều này có lẽ do tinh thần thực tiễn của hai sao hơn là do lý thuyết suông.
Long Trì và Phượng Các cho bằng cấp rất cao, nhất là khi cả hai đồng cung ở Mùi đối với người tuổi Mão, hoặc ở Sửu đối với người tuổi Dậu. Tuy vậy sách không nói thêm chi tiết nào khác về hai sao này.
Ở Thiên Hình ta gặp năng khiếu quan sát tinh tế, phê phán rõ ràng, óc phân tích kỹ càng và lối lý luận sắc bén; sao này giúp ích nhiều cho người nghiên cứu, luật gia, học trò và các nhà phê bình nghệ thuật, văn chương. Nếu văn chương của Văn Xương, Văn Khúc nồng nàn, bóng bẩy thì văn chương của Thiên Hình khô khan, kỹ thuật nhưng cực kỳ chính xác, chặt chẽ.
Thái Tuế là sao nhanh nhẹn, khéo ăn nói, lắm ý và nhất là lắm lời. Song ý và lời ấy không dừng ở phê bình bình thường mà trượt sang soi mói, bới lỗi người khác. Vì thế Thái Tuế không khách quan bằng Thiên Hình, và do đó thích hợp hơn với nghề luật sư công tố, ứng cử viên tranh cử hay chính trị gia, những nghề cần sự sắc sảo khi công kích hơn là sự công tâm khi phán xét.
Văn Tinh biểu thị niềm say học. Lưu Hà và Bác Sĩ biểu thị tài hùng biện và khả năng diễn tả tư tưởng sâu sắc. Ba sao này đều thiết yếu với học trò, giáo sư và các nhà thuyết khách.
Hỏa Tinh và Linh Tinh, khi đắc địa mà đi cùng Thái Dương sáng sủa, làm tăng thêm sự mẫn tiệp, có lợi cho việc học hỏi, khảo cứu và điều tra. Ba sao này đều thuộc hành Hỏa nên tính chất chung rất sắc bén, linh động, khác hẳn vẻ trầm tĩnh, bền bỉ thường gặp ở nhóm văn tinh thuộc các hành khác. Điều đó cho thấy ngay trong cùng một địa hạt học vấn, mỗi sao vẫn giữ bản sắc ngũ hành riêng của mình.
Sau chót là Thiên Không, sao của lối khôn ngoan nơi hạng mưu sĩ, côn đồ, lật lọng, xảo trá, đem trí ra hại người, phá phách, tiêu diệt kẻ khác. Học trò mang sao này thường trốn học và quay cóp khi thi. Đó là mặt trái đáng chú ý của sự thông minh, cho thấy ngay trong địa hạt học vấn cũng không phải sao nào cũng mang nghĩa tích cực. Đặt cả hệ thống văn tinh vừa kể cạnh nhau, ta thấy khoa Lý số học nhìn học vấn không như một khối đồng nhất, mà như một quang phổ trải từ trí tuệ thuần túy đến tình cảm nồng nàn, từ sự nghiêm cẩn của luật gia đến sự khôn lỏi của kẻ gian xảo; mỗi sao một sắc thái, mỗi sắc thái một lối học riêng, và không lá số nào giống lá số nào.
Nguồn: Dương Thành, "Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống"
