Bài tổng quan
Nữ mệnh Mậu Dần: ba lần tai ách trong hai đại vận
Mười chín tuổi mổ manh tràng, hai mươi ba tuổi cắt bỏ nhũ hoa, hai mươi bảy tuổi thì hai mắt mù hẳn. Cùng một lá số, cùng một cung tật ách có Vũ Khúc và Tham Lang, mà mỗi lưu niên lại dẫn tới một chỗ hỏng khác nhau trong thân thể. Khâm Thiên môn lần theo tượng trước rồi mới tới lí khí để chỉ ra vì sao.
MỘT NỮ MỆNH SINH GIỜ THÌN, NGÀY HAI MƯƠI CHÍN THÁNG CHÍN, NĂM MẬU DẦN. Vào đại vận thứ hai, năm mười chín tuổi bà phải mổ cắt manh tràng, năm hai mươi ba tuổi lại phải mổ cắt bỏ nhũ hoa. Sang đại vận thứ ba, mới hai mươi bảy tuổi thì hai mắt mù hẳn. Phương pháp luận đoán bệnh tật của các phái vốn bất nhất, không có nguyên tắc nhất định; dưới đây là quan điểm luận đoán của Khâm Thiên môn đem ra tham khảo.
Mệnh Bàn Nữ Mậu Dần, Giờ Thìn
Cung mệnh an tại Mậu Ngọ, có Văn Xương, Kình Dương, đại vận đầu khởi từ sáu tuổi. Cung phụ mẫu ở Mùi có Thiên Hỉ, Địa Không, Linh Tinh, Thiên Việt. Cung phúc đức ở Thân có Văn Khúc. Cung điền trạch ở Dậu có Phá Quân, Liêm Trinh, Thiên Diêu. Cung quan lộc ở Tuất có Âm Sát. Cung nô bộc ở Hợi có Thiên Phủ. Cung thiên di ở Tí có Thiên Đồng, Thái Âm Hóa Quyền, Tả Phụ. Cung tật ách ở Sửu có Vũ Khúc, Tham Lang Hóa Lộc, Hồng Loan, Thiên Khôi. Cung tài bạch ở Dần có Thái Dương, Cự Môn, Hữu Bật Hóa Khoa. Cung tử nữ ở Mão có Thiên Tướng, Địa Kiếp. Cung phu thê ở Thìn có Thiên Cơ Hóa Kị, Thiên Lương, Đà La. Cung huynh đệ ở Tị có Tử Vi, Thất Sát, Thiên Hình, Linh Tinh, Lộc Tồn.
Lấy Cung Tật Ách Làm Chủ, Xem Kèm Cung Nô Bộc
Đẩu Số luận bệnh tật là lấy cung tật ách làm chủ; khi cung tật ách xem không ra bệnh chứng thì phải xem kèm cung nô bộc, theo nguyên tắc quan sát tượng trước rồi mới đến lí khí.
Trong trường hợp này, cung tật ách của nguyên cục có Vũ Khúc, Tham Lang tọa thủ, là ý tượng: phế, trường, gan, mật, thận và tứ chi. Cung nô bộc của nguyên cục có Thiên Phủ chủ về tì vị, cơ nhục. Ngoài ra, Thiên Cơ Hóa Kị năm sinh cũng có liên quan đến gan mật.
Hậu thiên xảy ra bệnh tật thì phải xem lúc nào sinh bệnh, sinh bệnh gì; điều ấy phải căn cứ đại vận và lưu niên mà luận đoán. Trường hợp này thử phân tích từ góc độ lưu niên xem sao.
Lưu Niên Bính Thân, Mười Chín Tuổi, Mổ Manh Tràng
Cung tật ách của mỗi năm mới là chỗ bệnh chứng hiện hình.
Quan sát cung tật ách của lưu niên Bính Thân: cung ấy trùng điệp với cung tử nữ của nguyên cục, cũng là cung phu thê của đại vận, can cung là Ất. Can Ất khiến Thiên Cơ Hóa Lộc nhập cung phu thê của nguyên cục, tức cung huynh đệ của đại vận, cũng là cung tài bạch của lưu niên; trong cung ấy có Thiên Cơ Hóa Kị năm sinh đồng cung với Thiên Lương, tức Lộc của can cung phá Kị năm sinh, hình thành Song Kị, nên xảy ra tình trạng can âm bất túc dẫn đến rối loạn hệ tiêu hóa.
Cũng can Ất ấy khiến Thái Âm Hóa Kị nhập cung thiên di của nguyên cục, tức cung tật ách của đại vận, cũng là cung quan lộc của lưu niên; có thể thấy cơ thể bị tai ách. Cung bị xung có Văn Xương và Kình Dương đồng cung, mà Văn Xương, Kình Dương đều chủ về phẫu thuật. Kiểm tra kết quả bằng phép Lộc chuyển phi Hóa Kị: chuyển phi Hóa Kị nhập Liêm Trinh ở cung điền trạch của nguyên cục. Liêm Trinh là sao cường hóa, cung bị xung chủ về đại trường kinh; cho nên trong năm này mệnh tạo vì viêm manh tràng mà phải phẫu thuật.
Lưu Niên Canh Tí, Hai Mươi Ba Tuổi, Mổ Cắt Nhũ Hoa
Quan sát cung tật ách của lưu niên Canh Tí: cung ấy trùng điệp với cung phụ mẫu của nguyên cục, cũng là cung phúc đức của đại vận, can là Kỷ. Can Kỷ khiến Vũ Khúc Hóa Lộc nhập cung tật ách của nguyên cục, tức cung tài bạch của đại vận, cũng là cung phụ mẫu của lưu niên. Cung tật ách của nguyên cục có Vũ Khúc, Tham Lang, là ý tượng phế, trường, gan, mật; cung này cũng chủ về túc quyết âm can kinh.
Can Kỷ lại khiến Hóa Kị nhập Văn Khúc ở cung phúc đức của nguyên cục, tức cung điền trạch của đại vận, cũng là cung tài bạch của lưu niên, rồi xung cung tài bạch của nguyên cục, tức cung tử nữ của đại vận, cũng là cung phúc đức của lưu niên. Văn Khúc chủ về thể tuyến; căn cứ thuyết thiên nhân hợp nhất, lấy địa bàn làm trung gian để xem thì đó là ý tượng: vì cơ thể bị tai ách mà hao tổn tiền bạc và phúc khí của mệnh tạo.
Quan sát tình hình Kị chuyển phi Hóa Kị để biết kết quả: can Canh khiến Thiên Đồng Hóa Kị nhập cung thiên di và xung cung mệnh. Thiên Đồng Hóa Kị chủ về huyết quang, xung động Văn Xương, Kình Dương là chủ về cần phải phẫu thuật. Mệnh tạo có tạng can tiên thiên không tốt, dẫn đến bệnh ung thư vú, nên trong năm đó phải phẫu thuật cắt bỏ.
Lưu Niên Giáp Thìn, Hai Mươi Bảy Tuổi, Hai Mắt Bị Mù
Quan sát cung tật ách của lưu niên Giáp Thìn: cung ấy trùng điệp với cung nô bộc của nguyên cục, tức cung tật ách của đại vận, can là Quý. Can Quý khiến Phá Quân Hóa Lộc nhập cung điền trạch của nguyên cục, tức cung nô bộc của đại vận, cũng là cung nô bộc của lưu niên; lại khiến Tham Lang Hóa Kị nhập cung tật ách của nguyên cục, tức cung tử nữ của đại vận, cũng là cung tử nữ của lưu niên, rồi xung cung phụ mẫu của nguyên cục, tức cung điền trạch của đại vận, cũng là cung điền trạch của lưu niên.
Có thể thấy tạng can tiên thiên của mệnh tạo vốn đã không tốt, hậu thiên lại xung động các sao Vũ Khúc, Tham Lang ở cung chủ về túc quyết âm can kinh. Quan sát tình hình Kị chuyển phi Hóa Kị để biết kết quả: Hóa Kị nhập Thái Âm ở cung thiên di và xung cung mệnh. Thái Dương và Thái Âm đều chủ về mắt; ngoài ra, theo lí luận Đông y thì tạng can khai khiếu ở mắt. Tạng can mất điều hòa âm dương lâu ngày hoặc sơ tiết thất thường khiến can huyết nuôi dưỡng không đủ, gây ra bệnh ở mắt, dẫn đến năm hai mươi bảy tuổi hai mắt bị mù.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số — Tứ Hóa Phái (Nguyễn Anh Vũ), Chương 11 "Luận đoán mệnh bàn thực tế", mục "Nữ mệnh sinh năm Mậu Dần".
