Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Ngũ hành xếp muôn vật vào năm nhóm, từ gỗ đá đến tính người

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202611 phút đọc0 lượt đọc
Ngũ hành xếp muôn vật vào năm nhóm, từ gỗ đá đến tính người

Đang hành quân đánh nhà Thương, quân lính của Chu Vũ Vương vẫn hát ca ngợi nước, lửa, kim loại, gỗ và đất. Năm thứ ấy về sau được dùng để xếp mọi thứ: con cá, con chim, mùi vị, màu sắc, nỗi vui buồn và cả tính cách từng người. Nhưng chính cách xếp ấy cũng có lúc đi quá xa...


Ngũ hành đã được tôn như điều không thể trái

Ngũ hành là một quan niệm có từ rất lâu, và thời thượng cổ nó là điều không ai được vi phạm. Khi bàn về việc ông Cổn đời Thương trị thủy thất bại, Tuân Tử cũng chê rằng ông đã trái ngũ hành. Thời Nghiêu, Thuấn, Vũ, mọi người đều bắt buộc theo ngũ hành; làm việc hỏng hay bị chê là làm sai, đều bị coi là trái ngũ hành.

Ngũ hành là năm loại vật chất con người gặp hằng ngày và dùng được vào đời sống, một quan niệm lưu hành suốt ba đời Hạ, Thương, Chu. Thượng Thư Đại Truyện chép chuyện Chu Vũ Vương đi dẹp loạn, dừng quân nghỉ đêm ở ngoại ô nhà Thương; quân lính vui chơi ca hát, người hát trước, người múa sau, lời hát đại ý:

Có nước có lửa, trăm họ mới có cái ăn cái uống; có kim loại và gỗ, trăm họ mới hưng thịnh; có đất, muôn vật mới sinh sôi, thành đồ dùng của người.

Giữa lúc binh đao tàn khốc, người ta vẫn hát ca ngợi ngũ hành, cho thấy lòng sùng bái của con người đối với nó. Họ lấy ngũ hành làm nguồn sống, làm như một thứ tín ngưỡng, thành một thứ vũ khí mang màu sắc thần linh.

Năm chất và gốc của muôn vật

Trước khi đứng thành năm hàng ngang bằng nhau, năm chất ấy từng có một thứ được xem là gốc.

Khi dò tìm thuộc tính và khởi nguồn của sự vật, các nhà tư tưởng cổ đại kiên trì tìm một lời đáp. Cổ nhân đi từ khí, từ thái cực, từ âm dương, từ nhiều góc nhìn khác nhau để kể lại quá trình biến hóa và khởi nguồn của muôn vật; ngũ hành cũng là một mệnh đề trong nỗ lực ấy. Khi nghiên cứu nguồn gốc vạn vật bằng Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ, có người cho Thổ là căn bản, vì Thổ có thể sinh sôi: Thổ chứa nước, Thổ tạo lửa, Thổ sinh gỗ, Thổ giữ kim loại. Quốc Ngữ, Trịnh Ngữ, ghi chuyện Thổ cùng Thủy, Hỏa, Mộc, Kim hợp lại mà sinh thành vạn vật.

Đến Chiến Quốc, thuyết ngũ hành và thuyết âm dương thấm vào nhau, hình thành học thuyết âm dương ngũ hành, gọi là Âm Dương gia. Họ gom mọi hiện tượng xã hội, tự nhiên mà người ta gặp thường ngày về dưới năm hành. Đến Đường, Tống, thuyết ngũ hành phát triển thêm. Thái Thẩm trong Hồng Phạm Hoàng Cực Nội Thiên chia âm dương ra thành nhất dương, nhị dương, tam dương và nhất âm, nhị âm, tam âm, rồi kết hợp với Thủy, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ, lập nên nhiều biểu đồ: đồ về thực vật, động vật, đồ vật dụng, đồ việc lành, đồ việc dữ, đồ thiên can, đồ tính tình thân thể, tức bảy phương diện, đem mọi sự vật trong đời sống thường ngày gắn vào ngũ hành, làm cho nội hàm vật chất của nó đạt đến sự tinh gọn và chặt chẽ.

Chẳng hạn ở nhóm vật chất: Thủy gồm nước suối, nước giếng, nước mưa, cống rãnh, ao đầm, hồ biển; Kim gồm thủy ngân, bạc, vàng, đồng, sắt, thiếc; Thổ gồm cát, đá, ngọc, đất, đất phù sa, bùn; Hỏa gồm lửa mộc, đá lửa, sấm chớp, dầu lửa, lửa trùng, lân tinh; Mộc gồm dương liễu, mai, tùng bách, trúc, gai, cỏ. Ở nhóm động vật: Thủy có cua, rùa, tôm, trai; Kim có tuần lộc, ngựa, khỉ, hổ, trâu; Thổ có cóc, tằm, người, nhện, giun, cá chình; Hỏa có nhạn, gà, phượng, chim cắt, yến; Mộc có cá lăng, rắn, rồng, cá chép, cá bột. Ở nhóm việc dữ: trộm cướp, tù ngục, dâm loạn, lời nguyền, chìm đắm thuộc Thủy; bãi miễn, trách móc, chiến tranh, tổn thương, giết chóc thuộc Kim; lừa gạt, ly tán, nghèo, bệnh tật, tử vong thuộc Thổ; tranh tụng, điên cuồng, hỏa hoạn, tai ương, phá hủy thuộc Hỏa; hung ác, quấy nhiễu, xấu ác, áp bức, thất bại, chết chóc thuộc Mộc.

Người đời sau đọc Hồng Phạm Hoàng Cực Nội Thiên của họ Thái vẫn thấy khái quát ấy chưa đủ, nên lại xếp ngũ hành với tứ linh, ngũ phương, ngũ thời, ngũ tinh, ngũ sắc, ngũ âm, ngũ khiếu, ngũ khí, ngũ vị, ngũ số. Bảng sau tóm lại các tương ứng ấy.

Ngũ hànhThủyKimThổHỏaMộc
Tứ linhHuyền VũBạch Hổ(giữa)Chu TướcThanh Long
PhươngBắcTâyGiữaNamĐông
MùaĐôngThuHạ dàiHạXuân
TinhThủy tinhKim tinhThổ tinhHỏa tinhMộc tinh
MàuĐenTrắngVàngĐỏXanh
ÂmVũThươngCungChủyGiốc
KhiếuTaiMũiMiệngLưỡiMắt
KhíLạnhKhôẨmNóngGió
VịMặnCayNgọtĐắngChua
Số69578
Đặc tính sinh thànhTàng trữThu nhậnThay đổiTrưởng thànhSinh sôi

Cũng theo cách phân loại ấy, mười thiên can được chia hai cho mỗi hành: Nhâm, Quý thuộc Thủy; Canh, Tân thuộc Kim; Mậu, Kỷ thuộc Thổ; Bính, Đinh thuộc Hỏa; Giáp, Ất thuộc Mộc, mỗi can lại đi cùng các chi âm dương tương ứng để thành những cặp can chi như Nhâm Tý, Quý Sửu, Giáp Dần, Ất Mão. Còn thân thể và tâm tính con người được xếp như sau. Thủy ứng với thận, da, tiếng nói, nỗi đau xót, sự tinh thông và trí tuệ. Kim ứng với phổi, xương cốt, vị giác, nỗi giận dữ, phách và đức nghĩa. Thổ ứng với lá lách, thịt, hình dáng, dục vọng, ý thức và đức tín. Hỏa ứng với tim, lông tóc, sắc diện, niềm mừng, thần và đức lễ. Mộc ứng với gan, cơ bắp, mùi hơi, niềm vui, hồn và đức nhân. Ngay cả đồ dùng cũng được chia: Kim có ấn triện, phép tắc, cung, sách tre, máy móc; Thổ có khuê bích, cân đong, xe cộ, bàn ống, quan quách; Hỏa có văn thư, chế tài, bút nghiên, ghế, giày dép; Mộc có các loại đàn, quy củ, tính toán, bản viết, chài lưới; Thủy có quyền binh, ma sát, chuẩn mực, gương kính, mài mực, nhà vệ sinh.

Tương sinh, tương khắc và hai dòng chảy của thuyết ngũ hành

Thời Chiến Quốc, thuyết ngũ hành là một phát hiện quan trọng. Đến thời Tam Quốc, nó hình thành theo nguyên lý tương sinh và tương khắc. Tương sinh là cùng thúc đẩy nhau: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Tương khắc là trừ nhau: Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa. Các học giả ngày nay cho rằng nguyên lý này phần nào phản ánh tính biện chứng của triết học duy vật.

Vì nguyên lý ấy lan ra, học thuyết ngũ hành thời Chiến Quốc tách thành hai phái: phái ngũ hành tương sinh và phái ngũ hành tương khắc. Lễ Ký, thiên Nguyệt Lệnh, dùng thuyết tương sinh để giải thích sự đổi thay của bốn mùa, đòi hỏi con người phải theo sự đổi thay của bốn mùa tự nhiên mà sống, hợp với các yếu tố khách quan: nhà vua lúc nào ăn cơm, lúc nào mặc áo màu gì, ở trong phòng nào đều được quy định. Mọi việc người và sự biến hóa tương sinh cứ thế đối chiếu với nhau, rồi lại coi đó là dấu hiệu của may rủi, họa phúc, tức là biến ngũ hành thành một lĩnh vực của thần học.

Trâu Diễn, người nước Tề, dùng thuyết tương khắc để giải thích sự thay triều đổi đại, lập ra thuyết "ngũ đức chung thủy". Theo ông, Hoàng Đế là Thổ đức, Hạ Vũ là Mộc đức, Thương Thang là Kim đức, Chu Văn Vương là Hỏa đức, nên triều thay nhà Chu nhất định là Thủy đức; ba lần đổi triều trước là do Mộc thắng Thổ, Kim thắng Mộc, Hỏa thắng Kim, và sau đó Thủy thắng Hỏa. Sau khi thống nhất đất nước, Tần Thủy Hoàng dùng thuyết này, coi triều Tần là Thủy đức.

Thuyết ngũ đức chung thủy gắn sự đổi triều với tương khắc là một cách nói khiên cưỡng, lại biến thành một vòng tuần hoàn vô tận. Cái phi khoa học của nó là lấy quy luật vận động của vật chất tự nhiên để rập khuôn cho sự đổi thay của xã hội loài người, vốn có quy luật riêng bên trong; nó làm phai tính chân thực của ngũ hành và nhiễm màu thần học. Về thực chất đó là thuyết tuần hoàn lịch sử thần bí.

Lý luận phong thủy đời sau tiếp lấy mặt thần học ấy của tương sinh tương khắc, rồi đẩy nhanh thêm, lấy ngày tháng năm sinh, tướng mạo, tên tuổi và vận mệnh của người đem so với ngũ hành, khiến con người ở đâu cũng phải đề phòng. Mục tên họ hợp hay khắc ngũ hành trong dân gian là ví dụ rõ về một lối chắp ghép không có tính khoa học nào. Theo lối ấy, âm của họ tên cũng xếp vào ngũ hành: Kim thuộc âm môi, Mộc thuộc âm răng, Thủy thuộc âm miệng, Hỏa thuộc âm lưỡi, Thổ thuộc âm họng. Tên hai chữ nên chọn các cặp tương sinh như Kim sinh Mộc, Thổ sinh Kim, Hỏa sinh Thổ, Mộc sinh Hỏa, Thủy sinh Mộc; tên ba chữ nên chọn chuỗi sinh liền nhau như Thủy sinh Mộc sinh Hỏa. Tránh các cặp tương khắc như Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, và các chuỗi ba chữ khắc nhau liên tiếp.

Năm hành, năm kiểu tính cách

Từ muôn vật, ngũ hành đi vào chỗ gần nhất: cách một người nghĩ, làm việc và đối đãi với người khác.

Các bậc hiền triết Trung Hoa đã quan sát rộng hành vi con người và những sự vật tự nhiên liên quan đến hành vi ấy, dùng phương pháp phân loại theo hình tượng, dựa vào tính chất, tác dụng khác nhau của sự vật mà xếp vào ngũ hành, mượn đó nói về thiên tính con người và quan hệ của con người với tự nhiên. Đặc tính của Thủy là lạnh nhuần, chảy xuống, nên cái gì có đặc trưng ấy thì gọi bằng Thủy. Đặc tính của Hỏa là nóng, đi lên. Đặc tính của Mộc là kéo dài, dễ động. Đặc tính của Kim là trong suốt, thu lại. Đặc tính của Thổ là sinh trưởng, biến hóa. Cách quy nạp này đã vượt khỏi hình tượng cụ thể, nên ngũ hành được dùng như một phương pháp luận. Y học, khí công, võ thuật đều lấy ngũ hành làm tư tưởng chủ đạo, và nó cũng được dùng rộng trong quân sự, kiến trúc, tướng mạo, đoán mệnh.

Thuyết cá tính ngũ hành là thuyết riêng đem ngũ hành áp vào con người, tồn tại trong học thuyết tính mệnh của Trung Hoa. Nó dễ được người ta tiếp thu. Một điều rất thú vị là hiện nay trên thế giới cũng phổ biến cách dựa vào thái độ và phẩm chất tâm lý trong quan hệ giữa người với người mà chia thành năm loại A, B, C, D, E; không chỉ con số trùng nhau mà đặc trưng của mỗi loại cũng gần giống, hẳn phía sau cái trùng hợp có một tất yếu nào đó.

Theo các bậc hiền triết, người hành Kim thích lấy mình làm trung tâm, làm việc quyết đoán, cứng nhắc, tính nóng nảy, kiên định không thỏa hiệp, độc lập tự lực, có khả năng thành công. Người hành Hỏa giàu tinh thần mạo hiểm, có chí tiến thủ, hoài bão lớn, tự tin, thích đổi mới, kiên cường quyết đoán, nhưng thiếu bền bỉ; sinh lực dồi dào, có khả năng lãnh đạo. Người hành Thủy hay thỏa hiệp, hòa giải, có sức thuyết phục, thuần hòa, bị động, giàu lòng đồng cảm, khiêm tốn nhưng không kiên định, linh hoạt, nhạy cảm. Người hành Thổ ổn định, bảo thủ, chậm chạp, cứng nhắc, thiếu trí tưởng tượng, khách quan và thực tế, sợ gánh hiểm nghèo nên thận trọng, biết tự rèn mình, có lòng với sự nghiệp, kiên trinh, có năng lực tổ chức. Người hành Mộc lòng dạ rộng mở, tuần tự tiệm tiến, hợp tác được với người, trí não sáng suốt, đáng tin cậy, chăm chỉ, công bằng, khẳng khái, hiểu việc.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Phong Thủy Toàn Thư.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia