Bài tổng quan
Nghịch lý âm dương và nét đặc khoản của bốn tuổi Ất Mậu Tân Nhâm
Thọ đã xây dựng đến đâu thì Tài phải đền đáp đến đó, đòn cân Phúc tinh và Sát tinh trên lá số không bao giờ lệch. Nhưng giữa mười hàng Can, chỉ đúng bốn tuổi Ất Mậu Tân Nhâm được các vị phúc tinh chung lưng đứng thành một khối, còn sáu tuổi kia thì mỗi vị một ngả — vì sao lại có sự thiên vị ấy?
Nghịch lý âm dương là mức cân phân công đức xây dựng và lỗi lầm dục vọng
Toán số mạng là một nhánh của dịch lý mà căn bản chính của dịch lý là Âm Dương. Thuận lý âm dương tức là điều hòa thông suốt. Nghịch lý âm dương cho thấy sự thua sút không phù hợp với tính cách như âm nam dương nữ hẳn phải có sự thiệt thòi trong muôn một so với dương nam âm nữ.
Nhìn vào địa bàn toán số 14 chính tinh chia ra hai phái âm dương, xuống dần tứ tượng, bên dương 2 bộ Tử Phủ và Phá Tham không ngừng tranh đua. Trái lại 6 sao bên âm có tinh thần thống nhất. Nhờ ở cặp Âm Dương Thiên Lương, nêu cao đạo lý để Cự Môn theo dõi Đồng Cơ (ảnh hưởng tinh thần của bên Tử Phủ Phá Tham) lên tiếng phê bình tức là Âm Dương thực thi luôn luôn dị biệt. Vậy khi gặp nghịch lý phải có trái cảnh không hợp cách.
Vì thế toán số trình bày thêm Nhị hợp để nhắn nhủ sự thiệt hơn giữa tư cách chánh bổn nên thêm tinh thần suy tính tùy lúc nhu kiện, cũng như lúc ba trường hợp cho giữa 3 bộ cũng phải e dè: Tử Vi bị Cự Môn thì uy thế phải e dè bình phê; Thiên Tướng bị Thiên Cơ thì cương quyết phải tùy theo tổ chức; Thất Sát bị Thái Dương thì nhẹ dạ phải sáng suốt.
Trường hợp nghịch lý âm dương thường xuyên cho thấy có mặt các phúc tinh Quan, Phúc, Thiên Ất, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức và Phúc Đức. Tại sao vậy?
Với ba vị Quan Phúc và Thiên Ất luôn luôn che đậy cho ai kia ở ngoài hoàn cảnh đáng cứu vớt, nhất là Thiên Ất mách bảo các thứ nhân dám thọ lãnh gánh vác những vai trò quan hệ phần trưởng từ gia đình đến xã hội cũng như trách vụ của là Ất thay mặt cho Giáp làm bổn phận. Còn Tứ Đức là con đường rõ ràng vạch ra cho ai trong tình trạng Thiên Không, Kiếp Sát, Đào Hoa nên sớm tỉnh ngộ dầu chậm cũng hy vọng được phần nào nâng đỡ.
Đứng đầu một đoàn sát tinh trong tình trạng nghịch lý âm dương là Hà – Sát do Can Chi phối hợp cắt đặt bởi Đào Hoa múa gậy vườn hoang Thiên Không phải phúc trình. Trường hợp vắng bóng Lưu Hà là hoàn cảnh suy bại nhưng chính đích cho Giáp Dần Ngọ Tuất, Ất Hợi Mão Mùi, Canh Thân Tí Thìn và Tân Tỵ Dậu Sửu. Tiếp theo Không Kiếp hiên ngang không cần biết đến tuổi nào dầu là Thái Tuế, khinh mạng đứng theo giờ nghịch lý âm dương (giờ Tí ở âm, giờ Sửu ở Dương…) làm cho điêu đứng như sinh bất phùng thời.
Rồi đến Kình Đà rất nghiêm khắc với sự lạm dụng của bốn tuổi Ất Giáp Canh Tân, dùng nghịch lý để canh chừng. Những người Bính Đinh Dần Ngọ Tuất và Nhâm Thân Tí Thìn nên giữ phần mình khiêm nhượng vì Kình ở Tí Ngọ rất kiêu hùng rước lấy nghiệp quả.
Còn lại Hỏa Linh rất âm thầm đúng theo hàng Chi gây bất hạnh như vi trùng nhập mạch máu lần bước theo: tuổi Dần Ngọ Tuất Hỏa cục, Hỏa Linh phát khởi ở âm cung; tuổi Thân Tí Thìn Thủy cục, Hỏa Linh phát khởi ở dương cung; còn lại 6 tuổi Âm Tỵ Dậu Sửu và Hợi Mão Mùi thì Hỏa Linh xâm nhập khởi ở cả hai mặt âm dương như Quan Phúc đã coi chừng 5 tuổi Bính Đinh Canh Kỷ Quý (trường hợp châm chế).
Hai nhóm Phúc tinh và Sát tinh phận sự mỗi bên mỗi khác, cũng như Long Phượng Tả Hữu, Xương Khúc theo năm tháng và giờ khởi từ hai cung dương (Thìn Tuất) mà hợp cách âm dương trên phương diện thời gian, Thìn thuộc Thái Dương Tuất thuộc Thái Âm, để tô điểm phẩm cách hạng bậc cao đẳng nhân sinh xuất sắc.
Mỗi Hoa giáp thành lập cho thấy hàng Can đứng trên làm gốc, Chi đứng sau là phụ. Thời gian biến dịch mỗi khi Can được sinh nhập hay khắc xuất, tương đối thấy có phần nào lành mạnh, trái lại khi bị sinh xuất hay khắc nhập đều có vẻ khó khăn đều là con số lẻ 5 và 9 (tốt) 3 và 7 (xấu) tức là dương gặp dương và âm gặp âm, không hề âm dương nghịch lý là tại sao vậy?
Hàng Can tuy là gốc nhưng nạp âm mới là toàn thể. Mỗi khi toàn thể đắc thắng (nạp âm được sinh nhập) hàng Can có bị suy bại cũng không đến nỗi mệnh hệ nào. Trong 60 Hoa giáp, luôn luôn mỗi hành có hai hoa liên tiếp tức là dương và âm như Giáp Tí (dương Kim) là có Ất Sửu (Âm Kim). Thời gian thiên khắc địa xung không phải chỉ đề phòng có một âm hay dương và nạp âm ở tình trạng sinh hay khắc, nhập hay xuất.
Bằng 4 yếu tố năm, tháng, ngày, giờ lập thành chỉ có trên nửa triệu bản số khác nhau, sao vẫn thấy mỗi cá nhân một mệnh hệ không ai giống ai?
Những hành tinh diễn chuyển trên địa bàn toán số cho thấy những điểm phác họa của một tư thế. Riêng Phúc tinh và Sát tinh đứng ở hai bên đòn cân so sánh độ lượng: Thọ kia đã xây dựng đến mức độ nào thì Tài nọ sẽ đền đáp sao cho ngang bằng xứng đáng.
Vậy dương nhân phải biết cách nào thực thi?
Nhân số có âm có dương: Thân luôn luôn liên hệ với Mệnh ở Mệnh, Phúc, Quan, Di, Tài và Phối. Bản tính của dương là cường kiện chu đáo, người dương phải hành động sao cho hợp ngoại giao bề rộng chữ Thọ mới ở nội tộc (Phúc) nghề nghiệp (Quan) ngoại giới (Di), sự nghiệp (Tài) và ngoại tộc (Phối). Người âm thì buông thả dễ dãi nhu thuận nên chu đáo trong nội gia (hiếu cha mẹ) tài sản (Điền) phụ thuộc (Nô) anh em (Bào) con (Tử) và Tai (Ách). Sự khác biệt ở chỗ là người khôn kẻ dại, người làm nhiều kẻ làm ít, trong mức độ nào đó cũng được Quan Phúc Thiên Ất luận đàm cùng Thương Sứ sau đó giao kết cuộc cho Sát tinh thừa hành nghiêm lệnh.
Công lao xây dựng nhân luân để cho loài người được hãnh diện liệt vào hàng đầu các sinh vật xứng đáng một năng lực của Tam Tài hiên ngang trong vũ trụ. Phải chăng cũng chỉ một thứ Tài Thọ mà tiền nhân trồng trọt từ Thái cổ để sinh thọ hưởng nếu ngày nay không biết ra công xới bón.
Cùng một hàng Can gốc, nhưng bốn tuổi Ất Mậu Tân Nhâm lại được sách xếp riêng ra một chỗ, nói là có nét "đặc khoản" hẳn hoi. Vì sao chỉ bốn tuổi này mới được các vị phúc tinh chung lưng làm việc, còn sáu tuổi kia thì không?
Những nét đặc khoản của bốn tuổi Ất Mậu Tân Nhâm
Được biết mỗi hoa giáp được lập thành bằng hai chữ Can và Chi phối hiệp mệnh danh là nạp âm. Mỗi chữ Can Chi có một hành riêng, nạp âm lại có một hành chung như Giáp Tí thì nạp âm thuộc kim, mà phân tách thấy chữ Giáp thuộc Mộc, chữ Tí thuộc Thủy. Vậy nạp âm là toàn bộ bao quát, Can trình bày nguồn khai thông biến dịch, Chi là phần gốc như được trình bày theo thời gian tuổi tiểu nhi: 1 tuổi ở Mệnh, 2 ở Tài, 3 ở Ách, 4 ở Phối, 5 ở Phúc, 6 ở Quan, 7 ở Nô, 8 ở Di, 9 ở Tử, 10 ở Bào, 11 ở Phụ, 12 ở Điền.
Người sanh năm Giáp Tí, năm 3 tuổi ở Ách là năm Bính Dần, chữ Giáp phải sinh xuất cho Bính (Mộc sinh Hỏa) phải hao tổn tức là Ách. Năm lên 5 tuổi ở Phúc tức là Mậu Thìn, chữ Giáp khắc xuất chữ Mậu (Mộc khắc Thổ) có hy vọng thắng lợi tức là Phúc. Năm lên 7 tuổi ở Nô tức là Canh Ngọ, chữ Giáp bị chữ Canh khắc nhập (Kim khắc Mộc) đói phải tranh đua để thua thiệt ở Nô. Năm lên 9 ở Tử tức là Nhâm Thân, chữ Giáp được chữ Nhâm sinh nhập (Thủy sinh Mộc) có nghĩa con cháu là nguồn hy vọng. Từ đó trở đi cứ những năm có số 3 như 13, 23, 33, 43… và số 7 như 17, 27, 37, 47… đều phải e dè đề phòng mọi sự bất trắc, vì thế Thương Sứ được điều động tới Nô Ách để nhắc nhở người đời khoảng thời gian đó nên thận trọng, nhất là đại vận ngoài 40 ngấp nghé chữ Thọ làm sao tránh được yếu vong.
Trái lại những năm có các số như 15, 25, 45… và 9 như 19, 29, 39, 49… được hy sự may mắn. Tóm lại tốt nhất là chữ 9, tốt vừa là số 5, xấu nhất là số 7, xấu vừa là số 3. Hàng Can này chỉ phô bày nét đại, còn đắc thất phải tùy ở nạp âm diễn chuyển theo thời gian so sánh kết thúc.
Vậy làm sao chỉ có 4 tuổi Ất Mậu Tân Nhâm có những nét đặc khoản khả dĩ phân biệt với 6 tuổi còn lại?
Biết rằng hàng Can có nhiệm vụ quan trọng xếp đặt các hành tinh trọng yếu trên địa bàn toán số. Với 4 tuổi Ất Mậu Tân Nhâm thấy những diễn cảnh các vị Phúc tinh thường chung lưng với nhau làm việc, và cũng chỉ có 4 Can này mới bày ra khu đất "La Võng" lưới sắt gò bó người đời khó khăn vùng vẫy nơi hậu cứ kho tàng quí giá của định mệnh, mà đằng trước có lực sĩ kiêu hùng canh gác.
4 tuổi Ất Mậu Tân Nhâm đã bị Đà La tranh giật khép kín hai khu Thìn (Ất Mậu) và Tuất (Tân Nhâm) như được thất tuổi Ất cả ba vị Thiên Quan Thiên Quý và Thiên Ất quây tròn tam hợp cung Thìn. Tuổi Nhâm có Quan Phúc đứng ở Ngọ Tuất nơi Địa Võng ngó chung Thiên Mã của Thân Tí Thìn bị Triệt, còn Thiên Ất đón đường Hà Sát. Tuổi Mậu tất cả 3 vị Thiên Ất, Thiên Phúc thường trực ở Mão Mùi để tham dự hẳn Thiên Không của người Mậu Dần Ngọ Tuất. Tuổi Tân có Thiên Ất chờ sẵn ở Dần Ngọ trông chừng Địa Võng (Tuất) và Quan Phúc ở Dậu và Tí giúp đỡ cho Hợi Mão Mùi khỏi bị mất nghị lực (Mã bị Triệt), khách hào hoa có đủ khả năng trình bày nghệ thuật xa lánh uy quyền như bảng tứ Hóa đã mở khép 4 chữ Cự Dương Khúc Xương (tuổi Tân) để Thái Dương chấp quyền, nghệ thuật Khúc đến mức độ nào cũng dễ ghi danh đế quân văn học.
Tuổi Ất có Cơ Lương Vi Nguyệt. Người tuổi Âm có Cơ Nguyệt ở Âm, hoàn cảnh Quyền Khoa nghịch địa, hẳn là một bài học kín đáo khuyên ai sống đều hơn tốt lỏi, để mang lụy trong đường lối éo le nên cả 3 vị quý nhân đều sẵn sàng nhúng tay trong trường hợp đương nhân có thiện tâm.
Tuổi Mậu có Tham Âm Bật Cơ. Tuổi dương Tham ở Dương nắm Lộc, Âm, Quyền Cơ Kỵ với sức mạnh Bật thi thố Khoa là tất cả then chốt của giấc mộng mơ hồ cho nên tất cả Quan Phúc Ất quí nhân đều cùng nhau xúm quanh nghịch địa đón cảnh suy tàn hiểm nguy.
Tuổi Nhâm có Lương Vi Phủ Vũ, cả 4 chữ nêu một cảnh thanh bình vô vị lợi, một diễn xuất thiên nhiên đặc sắc thành thực, khác hẳn 4 chữ của Giáp Liêm Phá Vũ Dương. Liêm nắm Lộc rất hay, Phá giữ Quyền rất nên thận trọng vì sao chỉ tinh thần Cơ phù hợp với Vũ để dễ dàng tròn bổn phận bằng tinh thần, Thái Âm nhu thuận gỡ bớt phần nào Thái Dương lạc địa âm cung ngộ Hóa Kỵ.
Kính thưa, đây là một diễn cảnh tranh đua ở thế gian mà người đời nên thận trọng: "Càn khôn nhất hí trường, nhân sinh thị bi kịch".
Người Nhâm Tí, sinh ngày 2 tháng 9 giờ Mão. Nguyên 2 chữ Nhâm Tí đã chứng minh cho người có khả năng dù không hơn ai, nhưng khó nhường bước trước một ai. Kình Dương ở Tí một biểu hiện không quá kiêu như ở Ngọ, sự thực cũng không quên sức tự hào là một bạch diện thư sinh với Thiên Lương (Mệnh) và Thiên Cơ (Thân) nhưng không thể không tinh thần Liêm Tướng (nhị hợp Mệnh) ở Ngọ và Phá Quân, Kình Dương (nhị hợp Thân) ở Tí. Chẳng may gặp vận suy tàn ở Ách có Tử Phủ và Mã bị Không Kiếp đành chấp nhận cả Triệt lẫn Tuần lôi cuốn có đầy đủ Quan Phúc chung giảm lòng sắt son thành thực.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương
